Từ điển thuật ngữ kinh tế nga anh việt - Pdf 13



H
H


C
CV
V
I
I


N
NC
C
H
H
Í

Í
N
N
H
HQ
Q
U
U


C
CG
G
I
I
A
AH
H




-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-

-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-

-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-

I


N
NT
T
H
H
U
U


T
TN
N
G
G

ỮK
K
I

V
I
I


T
T

-
-

A
A
N
N
H
H

(
(
D


v
v
à
àh
h


c
cv
v
i
i
ê
ê
n
n

H
H


r

ị-
-h
h
à
à
n
n
h
hc
c
h
h
í
í
n
n
h
h


h
í
íM
M
i
i
n
n
h
h
)
)
.
.


H
à
àN
N


i
i–
–2
2
0
0
1
1
0
0
Í
Í
N
N
H
HT
T
R
R


-
-
H
H
À
À
N
N
H
HC
C
H
H
C
C
H
H
Í
ÍM
M
I
I
N
N
H
H-
-
-
-
-
-
-
-
-
-

-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-

-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-

-
-
-
-
-
-
-
- T
T

ỪĐ
Đ
I
I


N
N
T
T

ẾN
N
G
G
A
A

-
-

V
V
I
I





n
n
g
g1
1
0
00
0
0
0
0
0t
t
h
h
u
u



h
h
o
oc
c
á
á
n
nb
b

ộv
v
à
àh
h



n
nc
c
h
h
í
í
n
n
h
ht
t
r
r

ị-
-h
h

g
g
i
i
a
aH
H

ồC
C
h
h
í
íM
M
i
i
n
n
h
h

H
Hc
c


p
pB
B


,
,m
m
ã
ãs
s




C
C
h
h

ủn
n
h
h
i
i



T
T
S
SL
L
ư
ư
u
uH
H
o
o
à
à
g
g
i
i


:
:
P
P
G
G
S
S
.
.
T
T
S
S
K
K

ù
ù
n
n
g
g(
(
v
v


n
nA
A
,

Б
,
,
С
С
,

Т
)
)
.
.

P
P

n
nV
V
i
i


t
t
(
(
v
v



,

З
,

И
,

К
)
)
.
. L
L
ư
ư
u
uH
H
o
o
à
àB
B
ì
ì
n
n
h
h

Ф
Ф
,

Х
,

Ц,

Ч
,

Ш

G
G
S
S
.
.
T
T
S
SN
N
g
g
u
u
y
y


n
nK
K
h
h

b
b
i
i
ê
ê
n
nt
t


p
pv
v
à
àb
b

ổn
n
g
g





t
t
i
i
ế
ế
n
n
g
gV
V
i
i


t
t
)
)
.
.T
T
h
h

a
a
n
n
h
hH
H
à
à


ổs
s
u
u
n
n
g
gp
p
h
h


n
nt
t
h
h
u
u


H
H
à
àN
N


i
i–
–2
2
0
0

cầu nghiên cứu của cán bộ, nhu cầu học tập của học viên các cơ sở nghiên
cứu và giảng dạy thuộc ngành kinh tế.

Nhiệm vụ của “Từ điển thuật ngữ kinh tế Nga-Việt-Anh” không
chỉ hạn chế trong việc bước đầu cung cấp cho người sử dụng hệ thống
thuật ngữ kinh tế thị trường trong tiếng Nga và tiếng Việt, mà còn quan
tâm tới việc hướng dẫn cách khai thác và sử dụng thuật ngữ tiếng Nga,
một ngôn ngữ biến tố mang tính tổng hợp cao, đồng thời góp phần vào
việc xây dựng hệ thống thuật ngữ kinh tế mới. Do vậy, Từ điển còn mang
tính chất giáo khoa và có một cấu trúc riêng, không giống những từ điển
song ngữ khác.
Sau khi được nghiêm thu, các tác giả sẽ sửa đổi những khiếm
khuyết, bổ sung thêm những phần cầ
n thiết và đề nghị Học viện CT-
HCQG HCM
cho ấn hành rộng rãi nhằm phục vụ đông dảo ngưòi sử dụng

Tài liệu tham khảo.

Tiếng Nga
.
Русско-английский экономический словарь.
Под рекакцией Л.Ш.Ложовского. Москва, 2000.

1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TÓM TẮT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
2009-2010

Mã số B.09-26 Tên đề tài:
TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ KINH TẾ
NGA - VIỆT - ANH
(Dành cho cán bộ và học viên
Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh).
Chủ nhiệm đề tài: TS. Lưu Hoà Bình


Báo cáo tóm tắt kế
t quả thực hiện đề tài.
Phần một.
1. Tên đề tài. 3
2. Tính cấp thiết của đề tài. 3
3. Mục đích, yêu cầu của công trình nghiên cứu. 4
4. Cấu trúc từ điển. 5
5. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. 6
6. Phương pháp nghiên cứu. 7
7. Nội dung nghiên cứu.
A. Một số vấn đề lý luận về thuật ngữ. 7
B. Từ điển học và từ điển thuật ngữ chuyên ngành. 20

Ph
ần hai.
“Từ điển thuật ngữ kinh tế
NGA-VIỆT-ANH”. 3

kinh tế song ngữ hoặc đa ngữ được xuất bản trước đây ở Liên Xô cũng như
ở Việt Nam chủ yếu chứa đựng những thuật ngữ phản ánh những phạm trù
và khái niệm kinh tế XHCN mà hiên nay it sử dụng.
Tư thập niên 90 trở lại đây LB Nga và Việt Nam đã chuyển đổi sang
nền kinh tế thị trường. Cơ chế kinh tế thị trườ
ng là sản phẩm và thành quả
của nền văn minh nhân loại. Trong tiếng Nga xuất hiện nhiều thuật ngữ
kinh tế mới do cơ cấu kinh tế-chính trị-xã hội đã thay đổi trong những năm
qua. Hơn nữa nội hàm ngữ nghiã của những từ đang sử dụng bị thay đổi do
ảnh hưởng của những biến động chính trị-xã hội và kinh tế ở nước Nga.
Qua thống kê c
ủa các nhà ngôn ngữ, tiếng Nga đã vay mượn nhiều thuật
ngữ tiếng Anh, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Nhiều thuật ngữ chưa được
cập nhật trong những từ điển truyền thống, do vậy việc cung cầp cho người
học và bạn đọc Việt Nam một hệ thống thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế

4
chung và nhiều lĩnh vực liên quan, dù còn hạn chế, là việc làm cấp thiết
nhằm giúp họ dễ dàng tiếp cận được với các phương tiện thông tin bằng
tiếng Nga, đồng thời đối chiếu với tiếng Anh hiện đại trong điều kiện nuớc
ta ngày càng hội nhập sâu sắc hơn vào đời sống kinh tế- chính trị- xã hội
và văn hoá ở khu vực và trên phạm vi toàn thế giới.
Tính cấ
p thiết của cuốn “Từ điển kinh tế Nga-Việt-Anh” không
những chỉ ở chỗ cần thiết thống kê những thuật ngữ kinh tế được sử dụng
với tần số cao cho người Việt, giải thích và đưa ra những thuật ngữ tiếng
Việt tương đương, mà còn nhiệm vụ phục vụ cho việc nghiên cứu quan hệ
kinh tế giữa Việt Nam và LB Nga ngày càng mở r
ộng sau hàng loạt hội
nghị cấp cao của chính phủ hai nước.

cho các thuật ngữ, mà chỉ nói “nội dung của thuật ngữ” mà thôi. Trong ngữ
cảnh khác nhau, cũng như khi đứng một mình, thuật ngữ không thay đổi về

5
nội dung. Nội hàm nghĩa của thuật ngữ không phụ thuộc vào sự phát triển
của bản thân khoa học.
b/Tính hệ thống.
Mỗi thuật ngữ đều bị qui định bởi hai trường: trường từ vựng và
trường khái niệm. Trường từ vựng là những liên kết của thuật ngữ với các
từ khác trong ngôn ngữ nói chung. Tất cả các từ không phải thuật ngữ cũng
n
ằm trong các trường như vậy. Nhưng đối với thuật ngữ, trường khái niệm
có tính chất tất yếu hơn và cũng chỉ thuật ngữ mới bị qui định bởi cái
trường này.
Mỗi lĩnh vực khoa học đều có một hệ thống các khái niệm chặt chẽ,
hữu hạn, được thể hiện bằng hệ thống các thuật ngữ của mình. Như vậy,
m
ỗi thuật ngữ đều chiếm một vị trí trong hệ thống khái niệm. đều nằm
trong một hệ thống thuật ngữ nhất định. Giá trị của mỗi thuật ngữ được xác
định bởi mối quan hệ của nó với những thuật ngữ khác cùng trong hệ
thống. Nếu tách một thuật ngữ ra khỏi hệ thống, thì nội dung thuật ngữ của
nó không còn nữa. Tóm lại, các thu
ật ngữ không thể đứng biệt lập một
mình, mà bao giờ cũng là yếu tố của một hệ thống thuật ngữ nhất định.
c/ Tính quốc tế.
Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm
khoa học chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau. Vì vậy, sự
thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và b
ổ ích. Chính điều
này đã tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ.

ạn
theo tinh thấn chỉ đạo, cũng như những nguyên tắc của Hội đồng chuẩn hoá
thuật ngữ kể trên. Đồng thời các tác giả cố gắng vận dụng những thành quả
nghiên cứu của những năm gần đây của các học giả nước ngoài và trong
nước để nâng cao chất lượng công trình về lý luận cũng như thực tiễn, để
theo kịp sự phát triển c
ủa ngành thuật ngữ học và từ điển học nhằm đáp
ứng được yêu cầu học tập, nghiên cứu của thời đại.
2/ Vấn đề từ điển.
Người Nga hiện nay đã xuất bản một số từ điển kinh tế mới, trong đó
đã loại trừ những từ không phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện nay, dặ
c
biệt là bổ sung rất nhiều thuật ngữ mới phản ánh những thay đổi trong đời
sống kinh tế - xã hội nước Nga. Trên các phương tiện thông tin đại chúng
chúng ta gặp rất nhiều thuật ngữ kinh tế mới, đê hiểu chúng không thể thiếu
từ điển thuật ngữ chuyên ngành. Ở Việt Nam hiện chưa có cuốn từ điển
song ngữ Nga - Việt nào đáp ứng được nhu cầ
u người học và độc giả báo
chí và tư liệu tiếng Nga. 6. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thống kê để lựa chọn mục từ có tần số xuất hiện cao.
Phương pháp phân tích ngữ nghiã để tường giải nội dung các thuật ngữ.
Phương pháp đối chiếu để chọn thuật ngữ tương dương.

7. Nội dung nghiên cứu:

A. Một số vần đề lý luân về thuậ
t ngữ tiếng Nga.

Từ vựng toàn dân là bộ phân nòng cốt, hạt nhân của từ vựng văn học. Nó là
vốn từ cần thiết nhất để diễn đạt tư tưởng , tình cảm, miêu tả hiện tượng,
sự vật trong mỗi ngôn ngữ.
Từ vựng toàn đân cũng là cơ sở để cấu tạo các từ mới, làm giầu kho
từ vựng của ngôn ngữ mỗi dân tộc nói chung. Xét về đạ
i thể, tuyệt đại đa
số các từ thuộc lớp từ vựng toàn dân là những từ mang tính chất trung hoà
về phong cách, tức là chúng có thể được sử dụng ở mọi phong cách chức
năng khác nhau. Đối lập với lớp từ vựng toàn dân là những lớp từ vựng
dùng hạn chế ở mỗi phong cách nhất định. Những lớp từ vựng bao gồm từ
địa phương, từ ngh
ề nghiệp, từ lóng, thuật ngữ.
2, Từ địa phương.
Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài
địa phương Nhìn chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ
nói (khẩu ngữ) hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải
là từ vựng của ngôn ngữ văn học. Khi dùng vào sách báo văn nghệ, các từ
địa phương thường mang sắc thái tu từ như diễn tả lại đặc điểm của địa
phương, đặc điểm của nhân vật v.v. Chẳ
ng hạn,
bà (toàn dân) mận (Thanh Hoá) mụ (Nghệ Tĩnh),
lợn (toàn dân) ỉn (Hải Hưng)` heo (Nam Bộ).

8
kia (toàn dân) tê (Thanh Hoá
rừng (toàn dân) ngàn (Nam Bô).
Từ vựng địa phương chủ yếu là từ vựng khẩu ngữ. Để đảm bảo sự
trong sáng của ngôn ngữ dân tộc, khi dùng từ địa phương trong sách báo
văn học, nghệ thuật, cần phải hết sức thận trọng và có mức độ. Nói chung,
chỉ nên dùng các từ địa phương vào sách báo văn nghệ trong những trường

Trong các tác phẩm văn học nghệ thuật tiếng lóng được dùng làm một
phương tiện tu từ để khắc hoạ tính cách và miêu tả hoàn cảnh sống của
nhân dân.
4. Từ ngữ nghề nghiệp.
Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm
lao động và quá trình sản xuất của một ngành nghề nào đó trong xã hội.
Những từ ngữ này thường được những người trong cùng ngành nghề đó
9
biết và sử dụng. Do đó, từ ngữ nghề nghệp cũng là lớp từ vựng được sử
dụng hạn chế về mặt xã hội.
Ví dụ: cầy, bừa, bón lót, gieo thẳng (nghề nông); guồng cửi, đáng
ống, sợi mộc (nghề dệt); lá, móc vanh, chằng nón (nghề làm nón); đào, kép,
kép đỏ, kép xanh (nghệ thuật tuồng) v.v.
Nhìn chung, tuy là lớp từ vựng khác vớ
i tiếng lóng, từ ngữ nghề
nghiệp là những tên gọi duy nhất của hiện tượng thực tế. Chúng không có
từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân. Tuy nhiên từ nghề nghiệp dễ dàng
trở thành từ vựng toàn dân, khi những khái niệm riêng của nghề nào đó trở
thành phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội. Khác với tiếng lóng, từ vựng
nghề nghiệp nằm trong từ vựng của ngôn ngữ văn học. Chúng có thể
dùng
trong sách báo chính luận và văn học nghệ thuật.
Đất Bưởi có cây bồ đề,
Có giếng tắm mát, có ngườii seo, cau.
5. Thuật ngữ và danh pháp.
Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt của ngôn ngữ. Nó bao gồm
những từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và

quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tư duy lý luận hoạt động với những
sự vật này”.
Để so sánh thuật ngữ và danh pháp với từ bình thường và tín hiệu, ta
có thể sử dụng sơ đồ sau:
Tín hiêu – danh pháp - thuật ngữ - từ.
Từ và tín hiệu ở vào thế đối lập, danh pháp gần với tín hiiệu, còn
thuật ngữ gần với từ.

II. Những tiêu chí xác định thuật ngữ trong một ngôn ngữ nhất định.
Dựa vào những đặc điểm cơ bản của thuất ngữ, chúng ta có thể rút ra
những tiêu chí xác định thuật ngữ trong vốn từ
vựng mỗi dân tộc. Nói
chung, mọi từ trong ngôn ngữ đều liên hệ với khái niệm, thế nhưng các
khái niệm được biểu hiện trong các từ thông thường khác với các khái niệm
được biểu hiện trong thuật ngữ. Theo quan điểm cua A.A.Re-foc-mat-xki
“hệ thuật ngữ là một đặc điểm của khoa học, kỹ thuật, chính trị, tức là của
những lĩnh vực hoạt động xã hội đã
được tổ chức một cách trí tuệ (A.A.Re-
foc-mat-xki. Thuật ngữ và hệ thống thuật ngữ là gì?” Những vấn đề về
thuật ngữ, M. 1961, tr. 45-51). Chính vì thế, các khái niệm được biểu hiện
trong thuật ngữ là các khái niệm chính xác của một bộ môn khoa học nào
đó. Trong nhiều công trình nghiên cứu người ta không dùng khái niệm “ý
nghĩa từ vựng” cho các thuật ngữ, mà chỉ nói “nội dung của thuật ngữ”. Do
sự tác động lẫn nhau, ý nghĩa c
ủa các từ thông thường có thể thay đổi trong
những trường hợp khác nhau, còn nội dung của thuật ngữ là thuộc vào lĩnh
vực thuần tuý về trí tuệ, chúng không bị thay đổi như thế. Số phận của
thuật ngữ không phụ thuộc vào sự phát triên của bản thân khoa học. Nó chỉ
thay đổi khi nào xuất hiện biểu tương mới, những quan niệm mới, chỉ thay
đổi khi các khái niệm mà nó diễn đạt đượ

ệt lẫn nhau trong loạt thuật ngữ
này. Tương tự như vậy, vị với tư cách yếu tố nhỏ nhất có giá trị khu biệt về
một mặt nào đó, có thể cấu tạo thành loại thuật ngữ: hình vị, từ vị, nghĩa vị,
thanh vị
Tính quốc tế.
Thuật ngữ là lớp từ vựng đặc biệt biểu thị những khái niệm khoa họ
c
chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau. Vì vậy, sự thống nhất
giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích. Chính điều này đã tạo nên tính
quốc tế của thuật ngữ. Thông thường khi đề cập đến tính quốc tế của thuật
ngữ, người ta chỉ chú ý tới biểu hiện hình thức cấu tạo của nó: các ngôn
ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự nhau, cùng xuấ
t phát một gốc
chung. Ví dụ: các thuật ngữ rađiô, tiếp thị.
Tiếng Việt rađiô, marketing
Tiếng Pháp radio, marketing
Tiếng Anh radio, marketing
Tiếng Nga радио, маркетинг
Thực ra, về hình thức cấu tạo, tính quốc tế của thuật ngữ có tính chất
tương đối. Dường như không có thuật ngữ nào có sự thống nhất ở tất cả các
ngôn ngữ trên thế giới. Mứ
c độ thống nhất của các thuật ngữ là khác nhau,
có thuật ngữ thống nhất trên một phạm vi rộng, có thuật ngữ thống nhất
trên một phạm vi hẹp hơn do lịch sử truyền thống hình thành các khu vực
văn hoá khác nhau.
Tính thống nhất.
Tính thống nhất Tính thống nhất của thuật ngữ thể hiện trước hết ở
sự thống nhất trong phạm vi các khu vực văn hoá. Các ngôn ng
ữ Ấn Âu
chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Hy lạp, cho nên thuật ngữ của chúng

toàn đối lập với ngôn ngữ toàn dân khi mà trình độ khoa học của quảng đại
quần chúng được nâng lên. Khi đó các thuật ngữ, trừ các thuật ngữ chuyên
môn quá hẹp, không còn là lĩnh vực riêng của các nhà chuyên môn thuộc
ngành khoa học nào đó. Giữa từ toàn dân và thuật ngữ có quan hệ xâm
nhập lẫn nhau. Từ toàn dân có thể trở thành thu
ật ngữ và ngược lại. Một
khi từ toàn dân trở thành thuật ngữ, thì ý nghĩa của nó được hạn chế lại, có
tính chất chuyên môn hoá: tính chất hình tượng và giá trị gợi cảm mất đi,
những mối liên hệ mới xuất hiện. Ví dụ: Thuộc lớp từ toàn dân “nước” có
nghĩa là “chất lỏng” nói chung, vì vậy nó có thể kết hợp với các từ khác
như: nước biển, nước sông, nước h
ồ, nước đổ lá khoai Khi chuyển thành
thuật ngữ hoá học “nước” chỉ còn biểu thị chất lỏng do sự kết hợp của ô-xy
và hy-drô mà thành. Nó cũng không còn gợi lên một hình tượng đẹp “đáy
nước in trời” như trước đây.
Các thuật ngữ trong một số trường hợp nhất định cũng có thể trở
thành từ vựng toàn dân. Tuy nhiên không phải toàn bộ thuật ngữ với cả
khái ni
ệm khoa học mà nó diễn đạt đều có thể chuyển hoá vào ngôn ngữ

13
toàn dân, mà chỉ là cái vỏ ngữ âm của nó mà thôi. Ví dụ: thuật ngữ “dứt
điểm” vốn là thuật ngữ của ngành thể dục thể thao đã được dùng rộng rãi
để chỉ hiện tượng làm việc gì đó có tính toán, có chương tính sắp xếp trước
sau, như: “Chúng ta cần phải giải quyết dứt điểm xoá nghèo trong quí I”
v.v.
Chính do sự chuyển hoá lẫn nhau giữa thuật ngữ và từ ngữ toàn dân
mà chúng ta thấy ngoài nh
ững thuật ngữ chỉ nằm trong hệ thống thuật ngữ
nào đó (âm vị, cụm từ, ngữ pháp ) còn có những thuật ngữ đồng thời là

n là
đồng nhất. Vì thế, các nhà từ điển học thường gặp phải vấn đề nan giải là:
nên giải thích nghĩa của những từ này theo lối “ngữ văn” hay theo lối “hàn
lâm” (I.V.Sec-ba, 1958, tr. 68). “Đường thẳng” giải thích theo lối “hàn
lâm” là “đường” hay “khoảng cách” ngắn nhất giữa hai điểm”, nhưng trong
cách hiểu thông thường thì đó là “đường không lệch về bên phải hay bên

14
trái. Thí dụ này cho thấy giữa cách hiểu nghĩa có tính ngữ văn và cách hiểu
nghĩa có tính chất hàn lâm có độ chênh nhất định. Độ chênh ấy có thể lớn
hay nhỏ tuỳ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển của khoa học, trình độ
hiểu biết của con người về thế giới xung quanh.
Do nhận thức khác nhau về giá trị của các thuộc tính của sự vật mà
sự lựa chọn các tiêu chí để
phân loại sự vật cũng khác nhau. Chẳng hạn,
trong cách hiểu thông thường, “cá voi” dược liệt vào loài cá, song cách
hiểu khoa học, cá voi không thuộc loài cá, mà thuộc loài động vật có vú. Vì
vậy, có thể nói rằng, nghĩa thuật ngữ là nghĩa có tính chất xác định trong
một hệ thống xác định. Khi vượt ra ngoài hệ thống, hoặc khi chuyển hệ
thống thuật ngữ ắt phải lập lại một tính xác định mới về nghĩa. Thí dụ
:
“than” - nghĩa thường dùng trong cụm từ than trong bếp lò; “than” - nghĩa
thuật ngữ trong cụm từ mỏ than hay trong hội hoạ - vẽ than.
Trong việc xác định nội dung khái niệm do thuật ngữ biểu thị có thể
thấy sự khác nhau không chỉ giữa các trường phái, mà thậm chí giữa các
nhà khoa học trong cùng trường phái với nhau. Điều đó là tự nhiên, là lẽ
thường trong đời sống khoa học. Và nhiều khi sự khác nhau
ấy lại là chất
men kích thích những cuộc tranh luận sôi nổi để làm sáng tỏ chân lý, thúc
đẩy khoa học phát triển.

ta sẽ có nghĩa thuật ngữ hình thành theo phép hoán dụ hoá
. Đó là nghĩa đầu
người trong binh quân thu nhập theo đầu người v.v.
Phép ẩn dụ và phép hoán dụ là hai hình thức chuyển di nghĩa có tính
nguyên tắc. Đó là những hình thái rất cơ bản trong sự phát triển nghĩa của
từ, bao gồm cả nghĩa của thuật ngữ. Quả trình chuyển di ngữ nghĩa dưới
hai hình thái này diễn ra đều đặn. Khi sự chuyển di ngữ nghĩa đã xảy ra ở
m
ột từ trong nhóm hoặc trường từ vựng nào đó, thì thường kéo theo sự
chuyển di ngữ nghĩa đã xảy ra ở một từ trong nhóm hay trường từ vựng nào
đó, thì thường kéo theo sự chuyển di ngữ nghĩa ở nhiều từ khác trong cùng
trường từ vựng ấy theo một hường nhất định.
Thí dụ: “Trắng” và “đen” đã kéo theo nhau cùng một hướng khi
chuyển di sang nghĩa thuật ngữ trong sách trắng, sách
đen. Cũng như vậy,
khi “đỏ”, “xanh” và “vàng” được dùng với nghĩa thuật ngữ trong nhạc đỏ,
nhạc xanh, nhạc vàng hay trong công hội đỏ, công đoàn vàng v.v.
Nhìn chung, hình thái của các thuật ngữ thuần Việt không có gì đặc
biệt so với hình thái của các từ ngữ thông thường. Dấu hiệu duy nhất giúp
chúng ta có thể nhận diên được thuật ngữ là đặc điểm của chu cảnh xuất
hiện củ
a nó, tức là đặc điểm về khả năng tổ hợp của nó với những từ ngữ
nhất định. Tất nhiên, đặc điểm này cũng chỉ có thể bộc lộ ra khi chúng ta
đối lập chu cảnh của từ với tư cách thuật ngữ với chu cảnh của từ dùng với
ý nghĩa thông thường.
Hãy so sánh: “”đứng” trong tổ hợp men đứng khác với kẻ
đứng,
người ngồi, dựng đứng. Ở đây mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp
trong những trường hợp đang xét là rất đáng chú ý.
2/ Cấu tạo thuật ngữ theo phương pháp mô phỏng thực chất là sử

a/ Có khả năng hoạt động với tư cách những đơn vị độc lập hay
không độc lập ở mức độ khác nhau. Thí dụ: máy, sự, sức Một số đơn vị
khác không có khả năng hành chức độc lập, kiẻu như: “hoá” trong
hiện đại
hoá, công nông hoá, “kế” trong nhiệt kế, “đẳng” trong đẳng cấp, bình đẳng
Số đơn vị thứ ba là những đơn vị trung gian giữa hai loại vừa nêu, tức là
những đơn vị mà ở trong hoàn cảnh này thì được dùng độc lập, song ở
trong hoàn cảnh khác thì lại được dùng hạn chế So sánh: “học” trong
người có học và “học” trong học thuyết và sinh vật học.
b/ Có sự phân b
ố về vị trí và có vai trò khác nhau trong cấu trúc của
thuật ngữ. Những yếu tố trung tâm chính là những yếu tố có khả năng hành
chức độc lập , như: “lực: trong lực kéo, nội lực, ngoại lực. những yếu tố
ngoại biên là những yếu tố không độc lập, trong đó:
- có những yếu tố chuyên đứng trước, như: “tự” trong tự trị, tự phê
phán.
- có những yế
u tố chuyên đứng sau, như: “tử” trong lượng tử, phần
tử.
- có những yếu tố vừa có thể đứng trước, vừa có thể đứng sau, như:
“tính” trong tính đảng, tính giai cấp, lưỡng tính, nam tính, nữ tính

c/ Sức sản sinh của các yếu tố đang xét không đều nhau, và có một
số đáng kể các yếu tố có sức sản sinh khá lớn. Thí dụ: yếu tố “chủ nghĩa” -
chủ nghĩ
a xã hôi, xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản, tư bản chủ nghĩa.

Về mặt ngữ nghĩa các đơn vị đang xét có những đặc trưng sau đây:
a/ Nghĩa của số lớn những đơn vị đang xét là nghĩa từ vựng-ngữ
pháp, và nó biểu thị các khái niệm thuộc những phạm trù rất khái quát. Thí

đường cấu tạo thuật ngữ bằng phương thức dịch nghĩa, hay mô phỏng là
hai con đương xây dựng vôn thuật ngữ trên cơ sở tiếng Việt. Khi nào
không hoặ
c chưa tìm được khả năng thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường và
cấu tạo thuật ngữ mô phỏng, thì các nhà khoa học tìm đến con đường thứ
ba - con đường tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài. Trong một thời gian dài,
do những điều kiện lịch sử của sự giao lưu văn hoá qui định, nên việc tiếp
nhận thuật ngữ nước ngoài vào tiếng Việt thường thông qua tiếng Hán.
Đi
ều đó hầu như là tự nhiên, và cũng có những thuận tiện nhất định, bởi lẽ
tiếng Việt và tiếng Hán cùng thuộc một loại hình, có quan hệ tiếp xúc từ
lâu đời. Và trong thực tế có nhiều thuật ngữ gộc Hán được đọc theo âm
Hán-Việt. Đặc biệt là những thuật ngữ chính trị, triết học đã đi vào vốn từ
vựng của tiếng Việt vớ
i tư cách như những yếu tố ổn định và được đồng
hoá ở những mức độ khác nhau. Thí dụ: độc lập, tự do, hạnh phúc, cách
mạng, dân tộc, dân chủ Trong mấy thập kỷ gần đây, khi mà tiếng Việt đã

18
trở thành ngôn ngữ phát triển, đã phát huy đầy đủ các chức năng xã hội của
mình và được sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội,
khi mà hợp tác kinh tế, giao lưu văn hoá diễn ra trên phạm vi toàn cấu, thì
thấy nổi lên hai xu hường đáng chú ý trong việc tiếp nhận thuật ngữ nước
ngoài. Đó là:
a/ Xu hướng dùng thuật ngữ được cấu tạo bằ
ng các yếu tố Việt thay
cho các thuật ngữ gốc Hán trong những trường hợp cho phép:
máy bay thay cho phi cơ,
sân bay thay cho phi trường
tên lửa thay cho hoả tiễn

chuyên ngành Nga - Việt, một số lớn được biên soạn có sự hợp tác với các
chuyên gia Nga. Những cuốn tự điển này đã đóng góp to lớn về mặt thực

19
tiễn trong qui trình đào tạo chuyên gia, cũng như trong việc phổ biến khoa
học-kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật cho Việt Nam.
Gần đây, nhất là sau ngày nước ta thống nhất hai miền, quan hệ
chính trị, kinh tế, văn hoá được mở rộng trong xu thế hoà nhập chung, tiếng
Anh được phổ biến rộng rãi hơn theo nhu cầu thực tế, cũng như dưới s
ự áp
đặt cứng nhắc của những người quản lý giáo dục. Cùng với hiện tượng đó
trên thị trường sách xuất hiện rất nhiều loại từ điển Anh - Việt, Việt - Anh.
Chúng rất đa dạng về mặt thể loại, mục tiêu, nội dung và phương pháp biên
soạn đến mức không thể kiểm soát nối và không dễ gì chọn được cho mình
một cuốn phù hợp với nhu cầ
u sử dụng.
Việc thành lập Viện Từ điển học & Bách khoa thư mới đây (2009) là
rất đúng lúc: cần phải có một cơ quan chức năng đứng ra chỉ đạo về mặt
chuyên môn cũng như thực tiễn để hỗ trợ cho các nhà chuyên môn biên
soan những sách công cụ không thể thiếu được trong học tập, nghiên cứu
và hoạt động khoa học, sản xuất hiên nay

2. Các loại hình t
ừ điển.
Từ điển là một loại sách công cụ không thể thiếu được trong đời
sống văn hoá thường ngày. Từ điển rất đa dạng về mục đích biên soạn, kích
cỡ, nội dung (số lượng từ, phương pháp biên soạn ), đói tượng phục vụ
v.v. Ví dụ như chúng ta thường gặp các loại từ điển sau: từ điển tườ
ng
giải, từ điển song và đa ngữ, từ điển đồng nghĩa, từ điển trái nghĩa, từ điển

được biên soạn theo những nguyên tắc sau:
- Tối thiểu hoá từ vựng và ngữ nghĩa.
- Tích cực hoá các ý nghĩa cơ bản của mục từ.
- Chi tiết hoá, đa dạng hoá mục từ và các nghĩa.
5. Từ điển đối d
ịch giáo khoa và tra cứu.
Loại từ điển nay không chỉ phục vụ cho công việc day/học ngoại
ngữ, mà còn có chức năng tra cứu nhằm giúp các phiên dịch viên và các
nhà nghiên cứu ngôn ngữ tìm hiểu sâu hơn. Khối lượng từ vựng có tần số
sử dụng cao được tăng, nghia từ vựng và thí dụ minh hoạ được thể hiện
băng hai ngôn ngữ đối dịch.
Theo nhận định của TS Bùi Hiền, từ
điển song ngư, đa ngữ còn có
khả năng phát triển, đa dạng hoá trong tương lai để kịp thời phục vụ nhu
cầu xã hôi. (Từ điển học & Bách khoa thư” số 1, 2009, tr. 53).
Từ điển song ngữ, đa ngữ thuật ngữ khoa học có đặc trưng riêng -
trước hết được phân chia ra theo các ngành khoa học chung (rộng): Từ điển
thuật ngữ khoa học xã hôi (Nga-Pháp-Việt), Hà Nội, 1979; Từ
điển lỹ
thuật tổng hợp Nga-Việt, Hà Nội-Matxcơva, 1973, và các chuyên ngành
sâu (hẹp) như: Từ điển thuật ngữ triết học- chính trị Nga-Việt, Hà Nội,
1970; Từ điển thuật ngữ mỹ thuật Pháp-Việt, Hà Nội, 1970; Từ điển thuật
ngữ luật học Nga-Trung-Pháp-Việt, Hà Nội, 1971; Từ điển Nga-Việt cơ
khí, Hà Nội, 1970; Từ điể
n Nga-Việt nông nghiệp, Hà Nội, 1970; Từ điển
xây dựng Nga-Việt, Hà Nội - Matxcơva, 1989; Từ điển tài chính - tín dụng
Nga-Việt, Hà Nội, 1982 và còn nhiều cuốn khác nữa.

3. Thuật ngữ khoa học trong từ điển chuyên ngành.
Để biên soạn thành công cuốn Từ điển thuật ngữ kinh tế Nga-Việt-

và Việt-Anh được phát triển rầm rộ. Như thống kê cho biết, trong số 118
cuốn từ điển song ngữ
thì có tới 55 cuốn là từ điển thuật ngữ. Và trong số
55 cuốn từ điển kể trên thì có tới 15 cuốn thuộc chuyên ngành kinh tế
(H.Q.Năng. Từ điển học & Bách khoa thư, số 2, 2009, tr.33).
2/ Các con đường xây dựng thuật ngữ tiếng Việt.
Như đã trình bày ở phần A, cùng với các ngôn ngữ phát triển, thuật
ngữ tiếng Việt cũng trải qua ba con đường cơ bản là;
1/ Thuật ng
ữ hoá từ ngữ thông thường.
Đây là phương thức cơ bản - sử dụng những ngữ liệu có sẵn trong
ngôn ngữ để phát triển bản ngữ, trước hết bằng con đường biến đổi và phát
triển nghia của từ - tạo ra một nghĩa mới mang tính chất thuật ngữ.
2/ Cấu tạo những thuật ngữ tương ứng với thuật ngữ nước ngoài
bằng phươ
ng thức sao phỏng. Sao phỏng ở đây là quá trình chuyển nghĩa,
khi người dịch không tìm được từ ngữ tương đương với từ ngữ nước ngoài
trong tiếng mẹ đẻ. Đây cũng là một phương thức phổ biến và cần đước
khuyến khích. Thuật ngữ kiểu này dễ phổ biến, dễ đi vào cuộc sống và có
vai trò quan trọng trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, vì chúng
được cấu tạo từ những yếu tố và mô hình cấu tạo từ vựng sẵn có trong tiếng
Việt để chuyển tải nghĩa của những thuật ngữ nước ngoài cần du nhập vào
hệ thống thuật ngữ của chúng ta. Thực chất của phương thức này là dịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status