LUẬN VĂN:TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ KINH TẾ NGA - VIỆT - ANH pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:

TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ KINH TẾ
NGA - VIỆT - ANH

2. Tính cấp thiết của đề tài:
Tình hình chính trị, kinh tế nước Nga thời kỳ hậu xô viết có nhiều biến động to lớn.
Những biến đổi đó có ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và LB Nga.
Hai nền kinh tế mang tính tập trung, bao cấp cao bắt đàu đổi mới - chuyển sang nền kinh tế
thị trường. Cùng với nền kinh tế, nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội cũng biển đổi
theo.
Những biến đổi trong đời sống chính trị, kinh tế được phản ánh rõ nét trong tiếng
Nga hiện đại, trước hết là trong lĩnh vực tù vựng qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Từ vựng biến đổi nhanh chóng: trong đó xuất hiện một khối lượng lớn thuật ngữ kinh tế,
biểu thị những khái niệm mới không những đối với người học tiếng Nga, mà đối với cả
người bản ngữ. Do đó gần đây LB Nga đã cho xuất bản cuốn từ điển “Nhừng từ mới xuất
hiện trong tiếng Nga cuối thể kỷ 19 - đầu thể kỷ 20”. Cuốn từ điển này giúp cho người đọc
hiểu được những văn bản kinh tế mới.
Cuốn “Từ điển kinh tế Nga-Việt-Anh” là ý tưởng đầu tiên của tập thể tác giả tham
gia đề tài muốn phản ánh tính chất đa dạng, phong phú của thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế.
Việc làm này hết sức cần thiết, bởi lẽ xu hướng hội nhập và hợp tác trong đời sống kinh tế-

cứu khoa học.
Khác với danh pháp, thuật ngữ trong cuốn“Từ điển kinh tế Nga-Việt-Anh” này là bộ
phận từ ngữ đặc biệt của các ngôn ngữ Nga, Việt, Anh. Nó phải bao gồm những từ và cụm
từ cố định là tên gọi (định danh) chính xác của các loại khái niệm và đối tượng thuộc các
lĩnh vực chuyên môn kinh tế như: kinh tế chính trị học, quản lý kinh tế. kinh tế phát triển,
kinh doanh, tài chính, tiếp thị, luật kinh tế v.v.
Những thuật ngữ trong cuốn từ điển này phải phản ánh được những đặc điểm cơ bản
của thuật ngữ như:
a/ Tính chính xác.
Nói chung, mọi từ trong ngôn ngữ đều liên hệ với khái niệm, nhưng các khái niệm
được biểu hiện trong các từ thông thường khác với các khái niệm biểu hiện trong thuật ngữ.

Theo giáo sư A.A. Reformatsky, “Hệ thuật ngữ là một đặc điểm của khoa học, kỹ thuật,
chính trị, tức là của những lĩnh vực hoạt động xã hội đã được tổ chức một cách trí tuệ (dù
cho đối tượng là tự nhiên đi nữa). Chính vì thế, các khái niệm được biểu hiện trong thuật
ngữ là các khái niệm chính xác của một môn khoa học nào đó. Trong nhiều công trình
nghiên cứu người ta không sử dụng khái niệm “ý nghĩa từ vựng” cho các thuật ngữ, mà chỉ
nói “nội dung của thuật ngữ” mà thôi. Trong ngữ cảnh khác nhau, cũng như khi đứng một
mình, thuật ngữ không thay đổi về nội dung. Nội hàm nghĩa của thuật ngữ không phụ thuộc
vào sự phát triển của bản thân khoa học.
b/Tính hệ thống.
Mỗi thuật ngữ đều bị qui định bởi hai trường: trường từ vựng và trường khái niệm.
Trường từ vựng là những liên kết của thuật ngữ với các từ khác trong ngôn ngữ nói chung.
Tất cả các từ không phải thuật ngữ cũng nằm trong các trường như vậy. Nhưng đối với
thuật ngữ, trường khái niệm có tính chất tất yếu hơn và cũng chỉ thuật ngữ mới bị qui định
bởi cái trường này.
Mỗi lĩnh vực khoa học đều có một hệ thống các khái niệm chặt chẽ, hữu hạn, được
thể hiện bằng hệ thống các thuật ngữ của mình. Như vậy, mỗi thuật ngữ đều chiếm một vị
trí trong hệ thống khái niệm. đều nằm trong một hệ thống thuật ngữ nhất định. Giá trị của
mỗi thuật ngữ được xác định bởi mối quan hệ của nó với những thuật ngữ khác cùng trong

đạo, cũng như những nguyên tắc của Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ kể trên. Đồng thời các
tác giả cố gắng vận dụng những thành quả nghiên cứu của những năm gần đây của các học
giả nước ngoài và trong nước để nâng cao chất lượng công trình về lý luận cũng như thực
tiễn, để theo kịp sự phát triển của ngành thuật ngữ học và từ điển học nhằm đáp ứng được
yêu cầu học tập, nghiên cứu của thời đại.
2/ Vấn đề từ điển.
Người Nga hiện nay đã xuất bản một số từ điển kinh tế mới, trong đó đã loại trừ
những từ không phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện nay, dặc biệt là bổ sung rất nhiều
thuật ngữ mới phản ánh những thay đổi trong đời sống kinh tế - xã hội nước Nga. Trên các

phương tiện thông tin đại chúng chúng ta gặp rất nhiều thuật ngữ kinh tế mới, đê hiểu
chúng không thể thiếu từ điển thuật ngữ chuyên ngành. Ở Việt Nam hiện chưa có cuốn từ
điển song ngữ Nga - Việt nào đáp ứng được nhu cầu người học và độc giả báo chí và tư liệu
tiếng Nga. 6. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thống kê để lựa chọn mục từ có tần số xuất hiện cao. Phương pháp
phân tích ngữ nghiã để tường giải nội dung các thuật ngữ. Phương pháp đối chiếu để chọn
thuật ngữ tương dương.

7. Nội dung nghiên cứu:

A. Một số vần đề lý luân về thuật ngữ tiếng Nga.

I. Từ vựng tiếng Việt xét về phương diẹn phạm vi sử dụng.
Cũng như các ngôn ngữ khác (tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung quốc) từ vựng tiếng Việt
bao gồm nhiều lớp hạng khác nhau. Khi xét về phạm vi sử dụng của các từ trong hoạt động
giao tiếp, ta có thể chia ra từ vựng toàn dân và từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ.
1. Từ vựng toàn dân là những từ toàn dân hiểu và sử dụng. Nó là vốn từ chung cho

bà (toàn dân) mận (Thanh Hoá) mụ (Nghệ Tĩnh),
lợn (toàn dân) ỉn (Hải Hưng)` heo (Nam Bộ).
kia (toàn dân) tê (Thanh Hoá
rừng (toàn dân) ngàn (Nam Bô).
Từ vựng địa phương chủ yếu là từ vựng khẩu ngữ. Để đảm bảo sự trong sáng của
ngôn ngữ dân tộc, khi dùng từ địa phương trong sách báo văn học, nghệ thuật, cần phải hết
sức thận trọng và có mức độ. Nói chung, chỉ nên dùng các từ địa phương vào sách báo văn

nghệ trong những trường hợp hữu hạn: các sự vật nào đó lúc đầu chỉ được biết trong một
khu vực nhất định, sau đó được phổ biến rộng rãi, có tính chất toàn dân. Những từ địa
phương có sắc thái biểu cảm mạnh mẽ hơn so với các từ nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ
toàn dân. Nguyến Du là một bậc thầy trong việc sử dụng từ địa phương vào tác phẩm văn
học.
Đầu lòng hai ả Tố Nga.
Cậy em em có chịu lời.
Nhà văn Nguyễn Du là người miền Trung, song truyện Kiều dùng rất ít từ địa
phương. Chính vì vậy Truyện Kiều đã đi vào quần chúng khắp Trung, Nam, Bắc. Đáng tiếc
một số tác phẩm văn học của ta đã dùng thái quá từ địa phương gây ấn tượng nặng nề đối
với bạn đọc. Văn hào Gooc-ki đã kịch liệt lên án hiện tượng dùng từ địa phương một cách
lạm dụng Ông viết: “Dùng từ mà chỉ nhân dân một vùng hiểu là một sai lầm nghiêm trọng,
là phản nghệ thuật”.
3. Tiếng lóng.
Tiếng lóng là những từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội, tức là những từ ngữ
không phải toàn dân hiểu và sử dụng, mà chỉ bó hẹp sử dụng trong một tầng lớp xã hội nào
đó. Có tiếng lóng của giới trẻ, có tiếng lóng của bọn lưu manh, phe phẩy v.v. . ví như: đột
vòm (ăn trôm), choai (thiếu nữ dậy thì), bắt mối (tìm hàng)
Mặc dù tiếng lóng chỉ là từ có tính chất thông tục, chủ yếu được dùng trong ngôn ngữ nói
của một tầng lớp xã hội nhất định, nhưng những tiếng lóng không thô tục, mà chỉ là tên gọi
có hình ảnh của sự vật, hiện tượng nào đó có thể được dùng phổ biến, dần dần thâm nhập
vào ngôn ngữ toàn dân. Trong các tác phẩm văn học nghệ thuật tiếng lóng được dùng làm

tiếp với các khái niệm của khoa học này, mà chỉ gọi tên các sự vật trong khoa học đó mà
thôi. Thí dụ trong môn địa lý, các từ: núi, sông, biển, xa mạc là các thuật ngữ, còn tên
núi, sông, biển, sa mạc cụ thể như Tam Đảo, sông Lô, biển Đen, sa mạc Xa-ha-ra là danh
pháp; tên các loại vi-ta-min A, B, C, E cũng chỉ là danh pháp. Như vậy, về mặt chức năng
giống với các tên riêng. Về bản chất, danh pháp là tên riêng của các đối tượng. Nếu như ở

thuật ngữ người ta nhấn mạnh chức năng định nghĩa của nó, thì đối với danh pháp chức
năng định danh (gọi tên) mới là quan trọng.
Thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ hoặc các hình vị có ý nghĩa sự vật
vụ thể. Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng.
Còn danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ cái (vi-a-min
A, vi-a-min B ), là một chuỗi các con số (TU 104, SU 26) hay bất kỳ cách gọi tên võ
đoán nào. Nhà ngôn ngữ học Vinovic định nghĩa danh pháp như sau: “ danh pháp khác hệ
thuật ngữ, nó chỉ là một hệ thống các phù hiệu hoàn toàn trừu tượng và ước lệ, mà mục
đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta các phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để gọi tên
các đồ vật, các đối tượng không quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tư duy lý luận hoạt
động với những sự vật này”.
Để so sánh thuật ngữ và danh pháp với từ bình thường và tín hiệu, ta có thể sử dụng
sơ đồ sau:
Tín hiêu – danh pháp - thuật ngữ - từ.
Từ và tín hiệu ở vào thế đối lập, danh pháp gần với tín hiiệu, còn thuật ngữ gần với
từ.

II. Những tiêu chí xác định thuật ngữ trong một ngôn ngữ nhất định.
Dựa vào những đặc điểm cơ bản của thuất ngữ, chúng ta có thể rút ra những tiêu chí
xác định thuật ngữ trong vốn từ vựng mỗi dân tộc. Nói chung, mọi từ trong ngôn ngữ đều
liên hệ với khái niệm, thế nhưng các khái niệm được biểu hiện trong các từ thông thường
khác với các khái niệm được biểu hiện trong thuật ngữ. Theo quan điểm cua A.A.Re-foc-
mat-xki “hệ thuật ngữ là một đặc điểm của khoa học, kỹ thuật, chính trị, tức là của những
lĩnh vực hoạt động xã hội đã được tổ chức một cách trí tuệ (A.A.Re-foc-mat-xki. Thuật ngữ

vậy, vị với tư cách yếu tố nhỏ nhất có giá trị khu biệt về một mặt nào đó, có thể cấu tạo
thành loại thuật ngữ: hình vị, từ vị, nghĩa vị, thanh vị
Tính quốc tế.

Thuật ngữ là lớp từ vựng đặc biệt biểu thị những khái niệm khoa học chung cho
những người nói các thứ tiếng khác nhau. Vì vậy, sự thống nhất giữa các ngôn ngữ là cần
thiết và bổ ích. Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ. Thông thường khi đề
cập đến tính quốc tế của thuật ngữ, người ta chỉ chú ý tới biểu hiện hình thức cấu tạo của
nó: các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự nhau, cùng xuất phát một gốc
chung. Ví dụ: các thuật ngữ rađiô, tiếp thị.
Tiếng Việt rađiô, marketing
Tiếng Pháp radio, marketing
Tiếng Anh radio, marketing
Tiếng Nga радио, маркетинг
Thực ra, về hình thức cấu tạo, tính quốc tế của thuật ngữ có tính chất tương đối.
Dường như không có thuật ngữ nào có sự thống nhất ở tất cả các ngôn ngữ trên thế giới.
Mức độ thống nhất của các thuật ngữ là khác nhau, có thuật ngữ thống nhất trên một phạm
vi rộng, có thuật ngữ thống nhất trên một phạm vi hẹp hơn do lịch sử truyền thống hình
thành các khu vực văn hoá khác nhau.
Tính thống nhất.
Tính thống nhất Tính thống nhất của thuật ngữ thể hiện trước hết ở sự thống nhất
trong phạm vi các khu vực văn hoá. Các ngôn ngữ Ấn Âu chịu ảnh hưởng của nền văn hoá
Hy lạp, cho nên thuật ngữ của chúng thường bắt nguồn từ các tiếng La tinh và Hy lạp.
Tiếng Việt và một số thứ tiếng khác ở Đông Nam Á, như tiếng Triều Tiên, Nhật Bản v.v.
xây dựng thuật ngữ phần lớn dựa trên cơ sơ các từ tố gốc Hán cũng là vì các dân tộc này có
bang giao văn hoá lâu đời với Trung Quốc. Có lé do sự thống nhất tương đối về hình thức
cấu tạo của thuật ngữ giữa các ngôn ngữ mà nhiều người đã xem nhẹ tính quốc tế của thuật
ngữ. Trong hội nghị về chủẩn hoá thuật ngữ khoa học tổ chức năm 1978 mọi người tham
dự chỉ nhất trí được với nhau ở tính chính xác và tính hệ thống của thuật ngữ, còn về những
điểm khác của thuật ngữ thì mỗi người quan niệm một khác: người thì đưa thêm tính dân


Chính do sự chuyển hoá lẫn nhau giữa thuật ngữ và từ ngữ toàn dân mà chúng ta
thấy ngoài những thuật ngữ chỉ nằm trong hệ thống thuật ngữ nào đó (âm vị, cụm từ, ngữ
pháp ) còn có những thuật ngữ đồng thời là những từ thông thường của ngôn ngữ toàn
dân (âm, tiếng, nước, lợi v.v. ). Mặt khác, hiện tượng các từ thông thường có thể trở thành
thuật ngữ mở ra cho chúng ta khả năng cấu tạo hàng loạt thuật ngữ trên cơ sở ngôn ngữ
toàn dân.
Nói tóm lại, tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, tính thống nhất là những đặc trưng
cơ bản của thuật ngữ, đồng thời cũng là những tiêu chí quan trọng giúp chúng ta phân biệt
thuật ngữ với các lớp từ vựng khác.

IV. Con đường hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt.
Nhìn một cách tổng quát, có thể thấy thuật ngữ trong tiếng Việt hình thành nhỡ ba
con đường cơ bản là: thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường, cấu tạo những thuật ngữ tương
ứng với thuật ngữ nước ngoài bằng phương thức mô phỏng và mượn nguyên những thuật
ngữ nước ngoài. Hệ quả của những quá trình này là hình thành ba lớp thuật ngữ với những
đặc trưng khác nhau về hình thái và ngữ nghĩa trong vốn thuật ngữ tiếng Việt. Đó là lớp
thuật ngữ thuần Việt, lớp thuật ngữ mô phỏng thuật ngữ quốc tế.
1/ Con đường thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường thực chất là con đường dùng phép
chuyển di ngữ nghĩa của từ để tạo thuật ngữ. Sự chuyển di ngữ nghĩa nay tuy khá tinh tế và
phức tạp, nhưng vẫn có thể qui về hai dạng: hình thái chuyển di không dẫn đến chuyển
nghĩa và hình thái chuyển di dẫn đến chuyển nghĩa.
Hình thái thứ nhất có thể gặp ở số khá lớn các từ thường là những từ thuộc vốn cơ
bản như: người, cây, cỏ, vàng, đỏ, vuông, tròn Ở những từ này, trong ý thức người bản
ngữ, ranh giới giữa nghĩa thường dùng và nghĩa thuật ngữ không phải bao giờ cũng rõ nét.
Dường như nghĩa thường dùng (nghĩa gốc) và nghĩa thuật ngữ (cũng là nghĩa gốc) về căn
bản là đồng nhất. Vì thế, các nhà từ điển học thường gặp phải vấn đề nan giải là: nên giải
thích nghĩa của những từ này theo lối “ngữ văn” hay theo lối “hàn lâm” (I.V.Sec-ba, 1958,
tr. 68). “Đường thẳng” giải thích theo lối “hàn lâm” là “đường” hay “khoảng cách” ngắn


thành một hệ thống, thì nghĩa thuật ngữ là một bộ phận, một thành tố trong hệ thống ấy.
Cơ sở để chuyển di từ nghĩa thương dùng, nghĩa gốc sang nghĩa thuật ngữ, nghĩa
phái sinh trong các trường hợp đang xét là mối quan hệ tương đồng hay mối quan hệ tương
ứng những thuộc tính của sự vật, quá trình được phản ánh trong khái niệm do từ ngữ biểu
thị.
Nếu sự chuyển di ngữ nghĩa ấy dựa vào quan hệ tương đồng, thì cúng ta sẽ có nghĩa
thuật ngữ hình thành theo phép ẩn dụ hoá. Thí dụ: Nghĩa của “cánh” trong cánh chim khác
với nghĩa của “cánh” trong cánh tả, cánh hữu Nghĩa của hai từ sau là nghĩa của thuật
ngữ hình thành theo phép ẩn dụ.
Nếu sự chuyển di ngữ nghĩa dựa vào quan hệ tương cận, thì chúng ta sẽ có nghĩa
thuật ngữ hình thành theo phép hoán dụ hoá. Đó là nghĩa đầu người trong binh quân thu
nhập theo đầu người v.v.
Phép ẩn dụ và phép hoán dụ là hai hình thức chuyển di nghĩa có tính nguyên tắc. Đó
là những hình thái rất cơ bản trong sự phát triển nghĩa của từ, bao gồm cả nghĩa của thuật
ngữ. Quả trình chuyển di ngữ nghĩa dưới hai hình thái này diễn ra đều đặn. Khi sự chuyển
di ngữ nghĩa đã xảy ra ở một từ trong nhóm hoặc trường từ vựng nào đó, thì thường kéo
theo sự chuyển di ngữ nghĩa đã xảy ra ở một từ trong nhóm hay trường từ vựng nào đó, thì
thường kéo theo sự chuyển di ngữ nghĩa ở nhiều từ khác trong cùng trường từ vựng ấy theo
một hường nhất định.
Thí dụ: “Trắng” và “đen” đã kéo theo nhau cùng một hướng khi chuyển di sang
nghĩa thuật ngữ trong sách trắng, sách đen. Cũng như vậy, khi “đỏ”, “xanh” và “vàng”
được dùng với nghĩa thuật ngữ trong nhạc đỏ, nhạc xanh, nhạc vàng hay trong công hội đỏ,
công đoàn vàng v.v.
Nhìn chung, hình thái của các thuật ngữ thuần Việt không có gì đặc biệt so với hình
thái của các từ ngữ thông thường. Dấu hiệu duy nhất giúp chúng ta có thể nhận diên được
thuật ngữ là đặc điểm của chu cảnh xuất hiện của nó, tức là đặc điểm về khả năng tổ hợp
của nó với những từ ngữ nhất định. Tất nhiên, đặc điểm này cũng chỉ có thể bộc lộ ra khi

chúng ta đối lập chu cảnh của từ với tư cách thuật ngữ với chu cảnh của từ dùng với ý
nghĩa thông thường.

trong hoàn cảnh khác thì lại được dùng hạn chế So sánh: “học” trong người có học và
“học” trong học thuyết và sinh vật học.
b/ Có sự phân bố về vị trí và có vai trò khác nhau trong cấu trúc của thuật ngữ.
Những yếu tố trung tâm chính là những yếu tố có khả năng hành chức độc lập , như: “lực:
trong lực kéo, nội lực, ngoại lực. những yếu tố ngoại biên là những yếu tố không độc lập,
trong đó:
- có những yếu tố chuyên đứng trước, như: “tự” trong tự trị, tự phê
phán.
- có những yếu tố chuyên đứng sau, như: “tử” trong lượng tử, phần
tử.
- có những yếu tố vừa có thể đứng trước, vừa có thể đứng sau, như:
“tính” trong tính đảng, tính giai cấp, lưỡng tính, nam tính, nữ tính
c/ Sức sản sinh của các yếu tố đang xét không đều nhau, và có một số đáng kể các
yếu tố có sức sản sinh khá lớn. Thí dụ: yếu tố “chủ nghĩa” - chủ nghĩa xã hôi, xã hội chủ
nghĩa, chủ nghĩa tư bản, tư bản chủ nghĩa.

Về mặt ngữ nghĩa các đơn vị đang xét có những đặc trưng sau đây:
a/ Nghĩa của số lớn những đơn vị đang xét là nghĩa từ vựng-ngữ pháp, và nó biểu thị
các khái niệm thuộc những phạm trù rất khái quát. Thí dụ: sự, tính, vị, tố, hoá Do đặc
trưng này mà các đơn vị đang xét có giá trị chuyên biệt trong việc phạm trù hoá thuật ngữ.
Thật vậy, có những yếu tố chuyên động ngữ hoá thuật ngữ, như “hoá” trong mã hoá, ô-xy
hoá. Có những yếu tố chuyên tính ngữ hoá thuật ngữ, như: “phi” trong phi vô sản, phi
chính nghĩa, phi giai cấp. Có những yếu tố chuyên danh ngữ hoá, như “sự” trong sự tồn tại,
sự vật. “phép” trong phép biện chứng, phép nhân, phép tổng hợp.

b/ Do các yếu tố đang xét biẻu thị những khái niệm khái quát, có tính chất phạm trù,
đồng thời lại có nguồn gốc khác nhau, nên giữa chúng thường diễn ra sự “xung đột đồng
nghĩa”. Hiện tượng này là hệ quả tất yếu của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, khi có các yếu tố
thuộc ngôn ngữ này xâm nhập vào ngôn ngữ khác (hiện tượng giao thoa).Thí dụ: yếu tố gốc
Hán “đại” xâm nhập vào tiếng Việt, trong khi đó tiếng Việt đã có từ “to”, “lớn”. Và giữa

tên lửa thay cho hoả tiễn
b/ Xu hướng tiếp nhận trực tiếp nhiều thuật ngữ gốc tiếng nước ngoài (Ấn-Âu)
không thông qua trung gian là tiếng Hán:
acid thay cho cường toan,
vitamin thay cho sinh tố

Từ những phần trình bày trên đây có thể rút ra kết luận:
Vốn thuật ngữ của tiếng Việt, cũng như của bất kỳ ngôn ngữ nào khác, bao giờ cũng
bao gồm một bộ phận thuộc bản ngữ và một bộ phận ngoại lai. Trong tiến tình hình thành
và phát triển thuật ngữ, luôn luôn thấy có hai xu hướng, mới xem thì có vẻ trái ngược nhau,
song trong thực tế lại có quan hệ rất biện chứng. DDps là xu hướng bản ngữ hoá và xu
hướng quốc tế hoá. Nếu nhận thức phiến diện và không sâu sắc những thực tế này, thi khó
tránh khỏi những sai lầm về chủ trương và quan điểm trong khoa học. B. Từ điển học - từ điển thuật ngữ chuyên ngành.
Vấn đề thuật ngữ trong từ điển.
1. Lịch sử vấn đề.
Chuyên ngành từ điển học Việt Nam về mặt lý luận so với các nước còn rất non trẻ
và chưa có mấy thành tựu lý luận làm cơ sở cho các nhà làm từ điển dựa vào đó để biên
soạn cụ thể.

Mặc dù vậy, trong nhiều thập kỷ qua do nhu cầu thúc bách các nhà ngôn ngữ đã kết
hợp với các chuyên gia rất nhiều ngành khác nhau biên soạn được nhiều loại từ điển chuyên
ngành để phục vụ cho công tác nghiên cứu, dịch thuật và học tập. Trước hết phải kể đến các
loại từ điển song ngữ chuyên ngành Nga - Việt, một số lớn được biên soạn có sự hợp tác
với các chuyên gia Nga. Những cuốn tự điển này đã đóng góp to lớn về mặt thực tiễn trong
qui trình đào tạo chuyên gia, cũng như trong việc phổ biến khoa học-kỹ thuật, xây dựng cơ
sở vật chất-kỹ thuật cho Việt Nam.
Gần đây, nhất là sau ngày nước ta thống nhất hai miền, quan hệ chính trị, kinh tế,

3/ Từ điển đối dịch có giải thích và minh hoạ. Loại từ điển này cung cấp cho người
sử dụng phần giải thích cụ thể hơn ngữ nghĩa của từ băng những từ đồng nghĩa, gần nghĩa
, tránh được những nhầm lẫn trong cách hiểu và sử dụng chúng trong những tình huống
cụ thể.
4. Từ điển đối dịch giáo khoa.
Mục đích cơ bản của loại từ điển này là đáp ứng nhu cầu dạy/học ngoại ngữ. Do vậy
các tác giả chú ý trước hết đến bảng từ hạn chế cho từng loại đối tượng, việc phân nghĩa
rành mạch và kèm theo thí dụ minh hoạ trong những tình huống sử dung khác nhau.
Ví dụ cuốn “Từ điển giáo khoa Nga-Việt” do TS Bùi Hiền chủ biên, được biên soạn
theo những nguyên tắc sau:
- Tối thiểu hoá từ vựng và ngữ nghĩa.
- Tích cực hoá các ý nghĩa cơ bản của mục từ.
- Chi tiết hoá, đa dạng hoá mục từ và các nghĩa.
5. Từ điển đối dịch giáo khoa và tra cứu.
Loại từ điển nay không chỉ phục vụ cho công việc day/học ngoại ngữ, mà còn có
chức năng tra cứu nhằm giúp các phiên dịch viên và các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tìm hiểu
sâu hơn. Khối lượng từ vựng có tần số sử dụng cao được tăng, nghia từ vựng và thí dụ minh
hoạ được thể hiện băng hai ngôn ngữ đối dịch.
Theo nhận định của TS Bùi Hiền, từ điển song ngư, đa ngữ còn có khả năng phát

triển, đa dạng hoá trong tương lai để kịp thời phục vụ nhu cầu xã hôi. (Từ điển học & Bách
khoa thư” số 1, 2009, tr. 53).
Từ điển song ngữ, đa ngữ thuật ngữ khoa học có đặc trưng riêng - trước hết được
phân chia ra theo các ngành khoa học chung (rộng): Từ điển thuật ngữ khoa học xã hôi
(Nga-Pháp-Việt), Hà Nội, 1979; Từ điển lỹ thuật tổng hợp Nga-Việt, Hà Nội-Matxcơva,
1973, và các chuyên ngành sâu (hẹp) như: Từ điển thuật ngữ triết học- chính trị Nga-Việt,
Hà Nội, 1970; Từ điển thuật ngữ mỹ thuật Pháp-Việt, Hà Nội, 1970; Từ điển thuật ngữ luật
học Nga-Trung-Pháp-Việt, Hà Nội, 1971; Từ điển Nga-Việt cơ khí, Hà Nội, 1970; Từ điển
Nga-Việt nông nghiệp, Hà Nội, 1970; Từ điển xây dựng Nga-Việt, Hà Nội - Matxcơva,
1989; Từ điển tài chính - tín dụng Nga-Việt, Hà Nội, 1982 và còn nhiều cuốn khác nữa.

cũng trải qua ba con đường cơ bản là;
1/ Thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường.
Đây là phương thức cơ bản - sử dụng những ngữ liệu có sẵn trong ngôn ngữ để phát
triển bản ngữ, trước hết bằng con đường biến đổi và phát triển nghia của từ - tạo ra một
nghĩa mới mang tính chất thuật ngữ.
2/ Cấu tạo những thuật ngữ tương ứng với thuật ngữ nước ngoài bằng phương thức
sao phỏng. Sao phỏng ở đây là quá trình chuyển nghĩa, khi người dịch không tìm được từ
ngữ tương đương với từ ngữ nước ngoài trong tiếng mẹ đẻ. Đây cũng là một phương thức
phổ biến và cần đước khuyến khích. Thuật ngữ kiểu này dễ phổ biến, dễ đi vào cuộc sống
và có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, vì chúng được cấu
tạo từ những yếu tố và mô hình cấu tạo từ vựng sẵn có trong tiếng Việt để chuyển tải nghĩa
của những thuật ngữ nước ngoài cần du nhập vào hệ thống thuật ngữ của chúng ta. Thực
chất của phương thức này là dịch từng thành tố cấu tạo thuật ngữ hoặc từng từ trong thành
phần cấu tạo thuật ngữ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt.
3/ Vay mượn nguyên thuật ngữ nước ngoài.

Vay mượn từ vựng nói chung và thuật ngữ nói riêng là hiện tượng phổ biển trong
các ngôn ngữ. Hiện tượng này ngày càng phát triển cùng với sự mở rộng xu thế hoà nhập
và toàn cầu hoá. Sự giao lưu và thông thương trên phạm vi toàn thế giới làm tăng rõ rệt đặc
tính quốc tế của thuật ngữ, nhất là trong lĩnh vực khoa học-kĩ thuật. Qua khảo sát chúng tôi
thấy việc vay mượn lẫn nhau xẩy ra chủ yếu trong phạm vi các ngôn ngữ cùng loại hình với
nguyên dang hoắc với sự bản ngữ hoá về hình thái và cấu trúc. Tuỳ theo loại hình ngôn ngữ
và văn tự chúng ta có thể gặp những hình thức vay mượn như sau: Bằng phương thức phiên
âm, chuyển tự hoặc giữ nguyên dạng.

4. Cấu tạo.
Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ khoa học trong tiếng Nga và tiếng Việt cơ bản giống
nhau. Về cấu trúc ta có thể gặp:
- thuật ngữ đơn,
- thuật ngữ ghép gồm từ hai thành tố trở lên, bằng phương thức kết hợp khác nhau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status