Luận văn: Phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 11


1Luận văn
Phát triển khu vực kinh tế tư
nhân trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế

2
LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế như hiện nay thì nó
cũng đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đối với nước ta. Để có thể thúc đẩy và
phát triển kinh tế-xã hội nước ta, thực hiện chủ chương đường lối CNH-HĐH
của Đảng và Nhà nước thì đòi hỏi lỗ lực rất lớn của Đảng và Nhà nước, các
thành phần kinh tế và toàn dân. Trong đó phải kể đến vai trò của khu vực kinh tế
tư nhân, nó là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống nền kinh tế nước
ta. Những đóng góp của khu vực này cho nền kinh tế là không nhỏ trong những
năm qua. Khu vực kinh tế tư nhân không chỉ đóng góp lớn vào GDP của cả nước
mà nó còn giúp giải quyết công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động.
Nhưng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì khu vực kinh tế
tư nhân cũng gặp không ít khó khăn, thách thức và cơ hội. Nguyên nhân một
phần là do xuất phát điểm của nước ta còn thấp, đường lối chính sách của Đảng
và Nhà nước còn nhiều bất cập. Bên cạnh đó còn do thói quen dựa dẫm ỷ lại, tư
duy cũ của thể chế kế hoạch hoá tập trung và những suy nghĩ không đúng đắn
của một số bộ phận công chức công quyền về khu vực này. Từ đó dẫn đến yêu
cầu cấp thiết là phải có những giải pháp hợp lý để phát triển khu vực kinh tế tư
nhân trước thềm hội nhập đang đến gần. Điều đó đòi hỏi phải có sự phối kết hợp
chặt chẽ giữa các Bộ ngành, phía doanh nghiệp …Từ những vai trò và ý nghĩa
trên chúng em quyết định chọn đề tài: “Phát triển khu vực kinh tế tư nhân

bảo đảm bình đẳng giữa các đối tượng nộp. Chính sách ưu đãi thuế được áp
dụng chung cho các thành phần kinh tế. Bất kì doanh nghiệp nào, nếu có đủ điều

4
kiện ưu đãi đều có thể được hưởng các ưu đãi theo quy định. Chẳng hạn, tiền sử
dụng đất, các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình kinh tế đều được hưởng các ưu
đãi về khoản thu về đất theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước.
Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu có giá trị sản lượng hàng
xuất khẩu trên 30% giá trị hàng hoá, dịch vụ sản xuất, kinh doanh cũng được
giảm tiền sử dụng đất hoặc miễn tiền thuê đất trong một số năm ; miễn giảm
thuế sử dụng đất với cơ sở sản xuất, kinh doanh được nhà nước giao đất để thực
hiện dự án thuộc ưu đãi đầu tư. Mức ưu đãi tuỳ thuộc vào mức độ đáp ứng các
điều kiện ưu đãi của dự án, không phân biệt loại hình hay thành phần kinh tế .
Ngày5/4/2004, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 53/2004/QĐ-TTg về
một số chính sách khuyến khích đầu tư tại khu công nghệ cao, theo đó nhà đầu
tư sẽ được hưởng mức ưu đãi về thuế thu nhập ở mức cao nhất (10% trong suốt
thời gian thực hiện dự án; miễn bốn năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm
50% trong chín năm tiếp theo ) ; ưu đãi về sử dụng đất; cho phép vay vốn tín
dụng trung hạn, dài hạn với lãi suất ưu đãi, bảo lãnh vốn, hỗ trợ lãi suất sau đầu
tư .v.v
Các hình thức kinh tế cá thể, tiểu chủ đã được hưởng các chính sách ưu
đãi ở mức cao hơn bình thường như: Kinh tế trang trại, làng nghề .v.v Nghành
thuế cũng đã áp dụng phương thức thu thuế hoặc hoàn thuế phù hợp với năng
lực quản lý của các hộ kinh doanh cá thể. Nhiều chính sách tài chính khuyến
khích phát triển kinh tế tư nhân và thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn đã
được sửa đổi, bổ sung như : chính sách khuyến khích nghành nghề nông thôn,
chính sách khuyến tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng, khuyến
khích phát triển các loại hình kinh tế trang trại, dịch vụ nông thôn .
Công tác kiểm tra của hải quan được chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu
kiểm”, thực hiện kiểm tra có trọng điểm, mở rộng diện miễn kiểm tra hoặc kiểm

doanh không cần giấy phép hoặc sang quản lý theo phương thức khác .
Để tạo môi trường kinh doanh thật sự bình đẳng cho các thành phần kinh
tế, Luật Doanh nghiệp sửa đổi theo hướng thống nhất các loại hình doanh
nghiệp đang được soạn thảo; Luật Đầu tư thống nhất cũng đang được nghiên

6
cứu sửa đổi chuẩn bị nhằm điều chỉnh chung cho cho hoạt động đầu tư cả trong
nước và quốc tế. Dự kiến, năm 2005 sẽ ban hành Luật Đầu tư và Luật Doanh
nghiệp thống nhất .
1.1.3. Công tác quản lý đất đai cũng được cải tiến và phân cấp cụ thể hơn.
Các khâu trung gian và thời gian làm các thủ tục hành chính trong việc giao đất,
thuê đất làm mặt bằng kinh doanh được rút ngắn. Các doanh nghiệp được phép
tự thoả thuận với người có đất trong việc sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất,
kinh doanh thông qua việc nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận
góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Nhiều địa phương đã ban hành các quy định
thông thoáng, minh bạch, đơn giản hơn về quy trình, thủ tục giao đất, cho thuê
đất và quy trình thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng .
Trong năm 2004, Chính phủ đã ban hành 5 Nghị định quy định chi tiết
việc thi hành Luật Đất đai: Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi
hành Luật Đất đai; Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày
16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất; Nghị
định số 197/2004/NĐ-CP ngày 13/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 về
thu tiền sử dụng đất. Các nghị định này đã tạo điều kiện thuân lợi hơn cho doanh
nghiệp trong việc tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh. Tuy chưa phát
huy tác dụng trong năm 2004, những nghị định trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho các năm tiếp theo trong việc giải quyết các vấn đề bức xúc tồn tại nhiều năm
nay.
Để thực sự tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn với

các vướng mắc của doanh nghiệp. Ở nhiều địa phương như Hà Nội, Hải Dương,
Hải Phòng, Nghệ An, Thành phố Hồ Chí Minh v.v , lãnh đạo các tỉnh, thành
phố cũng đã định kỳ tổ chức gặp các doanh nghiệp, không phải hàng năm mà
hàng quý, hàng tháng và đã có các biện pháp rất cụ thể để giải quyết kịp thời các
vướng mắc của doanh nghiệp.
Về cơ cấu loại hình doanh nghiệp

8
Tỷ trọng doanh nghiệp tư nhân trong tổng số doanh nghiệp đăng ký giảm
từ 64% trong giai đoạn 1991-1999 xuống còn 34% giai đoạn 2000-2004. Trong
khi đó, cùng với khoảng thời gian trên, tỷ trọng công ty trách nhiệm hữu hạn và
công ty cổ phần tăng từ 36% lên 66%. Trong hơn 4 năm qua, có khoảng 7.165
công ty cổ phần đăng ký thành lập, gấp 10 lần so với giai đoạn 1991-1999. Sự
thay đổi về tỷ lệ loại hình doanh nghiệp mới cho thấy các nhà đầu tư trong nước
đã nhận thức được những điểm lợi và bất lợi của từng loại hình doanh nghiệp;
có xu hướng lựa chọn loại hình doanh nghiệp hiện đại, tạo cơ sở để doanh
nghiệp ổn định, phát triển không hạn chế về quy mô và thời hạn hoạt động với
quản trị nội bộ ngày càng chính quy và minh bạch hơn. Thực tế nói trên phần
nào chứng tỏ các nhà đầu tư đã tin tưởng vào đường lối, luật pháp và cơ chế
chính sách, có xu hướng đầu tư dài hạn hơn, công khai hơn và quy mô lớn hơn.

Hình 1. Số lưọng các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân
thời kỳ 1992-2004
Nguồn: cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2004

Điều đáng quan tâm là số lượng vốn huy động được qua đăng ký thành lập
mới và mở rộng quy mô tăng mạnh mẽ. Trong 4 năm các doanh nghiệp đã đầu

của các doanh nghiệp dân doanh năm 2002 ở thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm
38% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, cao hơn tỷ trọng vốn đầu tư của DDNN và
ngân sách nhà nước gộp lại (36,5%).
Quy mô doanh nghiệp ngày càng tăng. Thời kỳ 1991-1999 vốn đăng ký
bình quân/doanh nghiệp là gần 0,57 tỷ đồng, năm 2000 là 0,96 tỷ đồng, năm
2001 là 1,3 tỷ đồng, năm 2002 là 1,8 tỷ đồng: 7 tháng đầu năm 2003 là 2,12 tỷ
đồng. Doanh nghiệp đăng ký vốn thấp nhất là 5 triệu đồng và cao nhất là 200 tỷ
đồng (hơn 13 triệu USD). Nhìn chung, số vốn đăng ký cao nhất phổ biến ở các
địa phương là 10 tỷ đồng. Ở Quảng Nam, mức vốn đăng ký bình quân/doanh
nghiệp thấp nhất (422 triệu đồng ), tiếp đó là Nam Định 544 triệu đồng, mức
vốn đăng ký bình quân/doanh nghiệp cao nhất là ở Hưng Yên, gần 3 tỷ đồng;
tiếp đó là Quảng Ninh và Bình Dương gần 2,5 tỷ đồng; mức vốn đăng ký bình
quân/doanh nghiệp ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh vào khoảng 1,25 tỷ
đồng .
Vốn đầu tư thực tế. Đây là một vấn đề khó xác định chính xác, nhưng qua
phản ánh từ nhiều nguồn thông tin đều cho thấy số vốn thực tế cao hơn nhiều so
với số vốn đăng ký. Đánh giá này có thể được khẳng định qua khảo sát thực tế ở
một số tỉnh. Ví dụ, ở tỉnh Nam Định số vốn đăng ký của các doanh nghiệp năm
2002 là 84,5 tỷ đồng, thì số vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp tại khu
công nghiệp Hoà Xá đã lên tới gần 700 tỷ trong cùng thời kỳ; ở tỉnh Lào Cai,
trong khi vốn đăng ký kinh doanh năm 2002 chỉ khoảng 93 tỷ, thì vốn đầu tư
thực hiện của các doanh nghiệp là 422 tỷ, trong đó phần quan trọng là của khuc
vực kinh tế tư nhân. Tình hình cũng tương tự ở Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Bình
và một số nơi khác.
Bảng 2. Vốn đăng ký trung bình của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân thời
kỳ 1991-2004

Đơn vị tính: triệu đồng
Lo
ại h


1.360
5.136
-
439

1.091
4.223
550
546

1.276
4.923
88
629

1.513
6.473
-
665

1.577
6.675
300
621

1.603
5.783
981
Tổng 570 1.099 960 1.300 1.800 2.120 2.015

ư (t

đồng)
Lao đ
ộng(ng
ư
ời)

12

Số dự án ưu đãi theo
ngành nghề
Số dự án được ưu
đãi theo địa bàn :
- Địa bàn kinh
tế xã hội khó khăn
- Địa bàn kinh
tế xã hội đặc biệt
khó khăn
6.496
1.863 550
63.135
vực kinh tế tư nhân thu hút được phần lớn nhân công lao động (khoảng từ 1,6
đến 2 triệu chỗ làm việc mới).
Kết quả sơ bộ tình hình thực hiện luật KKĐT cho thấy , trong 9 năm
thực hiện đã có trên 1,5 triệu lao động được làm trong các dự án thực hiện theo
13

Luật. Riêng khu vực kinh tế dân doanh đã tạo ra hơn 1 triệu việc làm trực tiếp và
hàng nghìn lao động gián tiếp, đưa tổng số lao động gián tiếp làm trong các
doanh nghiệp dân doanh xấp xỉ bằng tổng các doanh nghiệp nhà nước; và đưa
tổng số lao động làm trong các doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân lên
hơn 7 triệu người. Đây là sự đóng góp tích cực vào ổn định chính trị xã hội, xoá
đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức của lao động nông thôn
1.4. Góp phần cân bằng ngoại tệ thông qua xuất khẩu
Nhiều sản phẩm xuất khẩu của nước ta hiện nay đều do khu vực kinh
tế tư nhân sản xuất, như: hàng may mặc, giầy dép, đồ da, hàng thuỷ hải sản, cà
phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, v.v Theo đánh giá của Bộ Thương mại, khu vực
kinh tế tư nhân, mà chủ yếu ở các vùng kinh tế trọng điểm và thành phố trực
thuộc trung ương, đóng góp gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
trong các năm qua. Với xu thế phát triển này, kinh tế tư nhân sẽ là khu vực tạo
nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước trong tương lai.
Tuy vậy, xuất khẩu của các doanh nghiệp khu vục kinh tế tư nhân ở nhiều
địa phương còn nhỏ và có tỷ lệ chênh lệch giữa các vùng và các tỉnh. Doanh
nghiệp ở các tỉnh phía Nam đóng góp nhiều hơn vào kim ngạch xuất khẩu ở địa
phương trong lúc đó ở các tỉnh phía Bắc nhìn chung còn chưa đáng kể. Các
doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Hà Nội chỉ chiếm khoảng 25% tổng kim
ngạch xuất khẩu của thành phố, khoảng hơn 7% tổng giá trị xuất khẩu của cả
nước (ở Tp.Hồ Chí Minh là 12,5%). Nhìn chung, tỷ lệ này ở địa phương là rất
thấp, dưới 10%; tuy nhiên cũng có một số cá biệt như; Hà Giang chiếm 60%
xuất khẩu của địa phương, Quảng Ngãi 34%, Bình Thuận 45%.
1.5. Đóng góp vào nguồn thu ngân sách

kinh tế nhờ tăng thêm tính cạnh tranh trên thị trường v.v…
Về sản xuất công nghiệp, giá trị sản xuất của doanh nghiệp khu vực kinh
tế tư nhân tăng một cách đột biến, từ 11% năm 1999 lên 18,3% năm 2000 và
tiếp tục duy trì ở mức cao 20,3% năm 2001, 19,3% năm 2002, 8 tháng đầu năm
2003 là 18,4% (so với cùng kỳ năm 2002). Trong 8 tháng đầu năm 2004, giá trị
sản xuất ở một số địa phương tăng với mức cao như Hà Nội: 25,8%, Hải Phòng:
15

23%, Hà Tây: 38,4%, Hải Dương: 25,2%, Vĩnh Phúc 27,2%, Bình Dương:
25,6% và cần thơ: 50,3%. Doanh nghiệp tư nhân hiện đang chiếm một phần
không nhỏ trong hầu hết các ngành công nghiệp chủ yếu: chiếm 50% giá trị
công nghiệp chế biến thuỷ sản, công nghiệp giấy bìa, 30% công nghiệp may mặc
v.v Đến nay, tỷ trọng giá trị sản xuất của doanh nghiệp tư nhân trong công
nghiệp chiếm 26,5% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, tăng 1,85 điểm phần
trăm so với thực hiện ở thời điểm cuối tháng 12 năm 2004, và 4 điểm phần trăm
so với kết quả đạt được vào cuối năm 2000, năm đầu tiên thực hiện Luật Doanh
nghiệp.
1.7. Góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ
Trong những năm gần đây, đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp đã có dấu hiệu gia tăng, chủ yếu do xuất hiện của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Đầu tư nước ngoài vào việt Nam mang theo những công
nghệ và kỹ năng quản lý mới, đồng thời tạo ra sức ép thúc đẩy các doanh nghiệp
trong nước ứng dụng tiến bộ công nghệ tiên tiến để duy trì thị phần của mình
trên thị trường. Năm 2002, ước tính cả nước có khoảng 200 hợp đồng chuyển
giao công nghệ, trong đó khoảng 90% số hợp đồng là của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Như vậy, mức độ đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp Việt Nam còn rất thấp so với yêu cầu phát triển. Cho đến nay, mới chỉ có
một số DNNN quy mô lớn (chủ yếu là các tổng công ty 90, 91) có cơ sở hoạt
động nghiên cứu và phát triển công nghệ. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư cho
nghiên cứu, triển khai của khối DNNN ở Việt Nam cũng còn ở mức thấp,

trong nền kinh tế, song quy mô còn quá nhỏ bé, quá yếu ớt để có thể cạnh tranh
để có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Trình độ và kỹ năng quản lý còn yếu kém, khó ứng phó trước những tác
động bên ngoài, hạn chế về khả năng ngoại ngữ, thiếu thông tin về thị trường.
Khả năng tài chính còn hạn chế, dẫn đến quy mô kinh doanh nhỏ bé,
không đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Kém hiểu biết về luật pháp.
2.2. Những vấn đề bức xúc cần giải quyết
17

2.2.1. Vấn đề đất đai
Luật Đất đai năm 2003 và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật được
ban hành trong năm 2004 là khung pháp luật rất quan trọng, mang tính đột phá,
dỡ bỏ nhiều rào cản, vướng mắc cho các doanh nghiệp, tạo sự bình đẳng giữa
các doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân về
quyền có mặt bằng sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn rất
nhiều tồn tại cần phải khắc phục, trong đó có ba nhóm vấn đề bức xúc nhất:
Thứ nhất, cơ chế quản lý nhà nước về đất đai. Hiện tại, vẫn còn nhiều đầu
mối trong việc quản lý đất đai dẫn đến khó khăn khi xác định vai trò, trách
nhiệm của cơ quan quản lý khác nhau. Thực tế là ở cấp địa phương, doanh
nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn khi phải tiếp cận với nhiều cơ quan chức năng
khác nhau để giải quyết vấn đề đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai, vấn đề quy hoặch đất. Nhiều doanh nghiệp rất bức xúc trước tình
trạng nhiều thông tin không rõ ràng, không đầy đủ về quy hoạch cũng như kế
hoạch sử dụng đất của địa phương. Tình trạng các địa phương không làm tốt
công tác quy hoạch đất đai và tình trạng quản lý nhà nước về đất đai yếu kém
đang là hiện tượng phổ biến ở các địa phương. Điều này gây khó khăn cho nhiều
doanh nghiệp trong việc tìm kiếm mặt bằng sản xuất, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh và
đầu tư mở rộng sản xuất. Cho đến năm 2004, tỷ lệ doanh nghiệp thuộc khu vực
kinh tế tư nhân tiếp cận đất đai cho kinh doanh vẫn còn rất thấp. Thủ tục để

bức xúc nhất của doanh nghiệp. Về tính hợp lệ của các khoản thuế GTGT đầu
vào, doanh nghiệp gặp nhiều vướng mắc trong việc xác minh hóa đơn GTGT.
Việc chứng minh các nguồn gốc các khoản chi phí mua ngoài trị giá từ 100.000
đồng trở lên bằng hoá đơn đã gây ra nhiều trở ngại cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Thực tế là nhiều đối tượng cung cấp hàng hóa, dịch vụ
cho doanh nghiệp không có hoặc không đăng ký mua hoá đơn với cơ quan thuế
(như nông dân, các hộ kinh doanh cá thể bán nông sản, dịch vụ). Như vậy, khi
mua hàng hóa, dịch vụ đầu vào của các cơ sở hoặc cá nhân không có hoá đơn
GTGT thì doanh nghiệp không được tính vào chi phí hợp lý và buộc phải chịu
19

thuế, hoặc khi xác minh tính hợp lệ của cơ sở sản xuất hoá đơn, cơ quan thuế
không tìm được vì cơ sở đó đã chấm dứt hoạt động (bỏ trốn) thì cơ quan thuế lại
không cho doanh nghiệp được sử dụng những hoá đơn này để khấu trừ và thậm
chí còn phạt doanh nghiệp mua hàng. Đây là một nghịch lý vì trách nhiệm quản
lý, kiểm tra việc sử dụng và thu hồi hoá đơn của các cơ sở đã chấm dứt hoạt
động là của cơ quan thuế.
Theo quy định, từ lúc doanh nghiệp nộp hồ sơ xin hoàn thuế thì cơ quan
thuế phải giải quyết trong thời hạn không qúa 60 ngày. Trong thực tế, nhiều
doanh nghiệp phải chờ từ 3-6 tháng, cá biệt có một số doanh nghiệp phải chờ từ
2-3 năm.
Thời gian hoàn thuế kéo dài làm cho nhiều doanh nghiệp không thể tận
dụng nguồn tài chính của mình phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhiều doanh nghiệp phải vay vốn ngân hàng, chịu lãi trong khi chờ đợi được
hoàn thuế, hàng tỷ đồng vốn thực có của doanh nghiệp đang bị cơ quan thuế kìm
giữ, làm giảm khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp chỉ được đưa chi phí khoản chi
cho hoạt động quảng cáo, tiếp thị… tối đa là 10% của tổng các chi phí hợp lý.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, quảng cáo và tiếp thị là một phần quan trọng
của chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là với các doanh nghiệp mới

4) đóng thuế môn bài; 5) mua hoá đơn lần đầu; 6) đăng báo. Doanh nghiệp chi
phí khoảng 170 USD (1/3 GDP bình quân/người) để hoàn thành công đoạn gia
nhập thị trường. Trong khi đó, ở Australia chỉ cần 2 thủ tục và 2 ngày với chi phí
2% GDP bình quân/người; Singapore chỉ cần 7 thủ tục trong 8 ngày với chi phí
bằng 1,2% GDP bình quân/người để thành lập doanh nghiệp.
Cho đến nay, một số bộ, UBND tỉnh vẫn có lệnh cấm kinh doanh áp dụng
riêng cho ngành, địa phương mình, phổ biến nhất là nhóm ngành, nghề được coi
là nhạy cảm. Trong hơn 4 năm qua, Thủ tướng Chính phủ đã ba lần chỉ thị
UBND các địa phương bãi bỏ ngay các quy định không đúng thẩm quyền về tạm
dừng hoặc cấm kinh doanh. Tuy nhiên, hiện tượng này không giảm mà còn tăng
lên. Theo thống kê chưa đầy đủ của Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp,
21

đến tháng 6 năm 2004 vẫn còn một số bộ và 12 tỉnh/thành phố còn duy trì các
lệnh cấm, hoặc tạm dừng đăng ký kinh doanh không đúng với quy định của Luật
Doanh nghiệp. Trong bốn năm qua, đã có hàng chục giấy phép được ban hành
mới, không ít hiện tượng làm trái quy định về đăng ký kinh doanh vẫn tiếp tục
tồn tại như đòi nộp thêm hồ sơ trái quy định (xác nhận lý lịch tư pháp của người
chủ doanh nghiệp, xác nhận địa chỉ, trụ sở chính, chi nhánh và văn phòng đại
diện v.v ), xác nhận hợp đồng thuê trụ sở, địa điểm kinh doanh, đòi hỏi giấy
chứng nhận điều kiện kinh doanh trước khi thành lập doanh nghiệp.
Cộng đồng doanh nghiệp cho rằng, thủ tục hành chính là một khâu có tốc
độ chuyển biến chậm mặc dù nó có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng
lực cạnh tranh. Nhiều thủ tục mặc dù đã được cải hiện song vẫn chưa đáp ứng
được với những thay đổi môi trường bên ngoài, không so sánh được với những
cải cách của các nước trong khu vực. Các doanh nghiệp đang thực sự bức xúc
với những vướng mắc trong thủ tục, trong cách hành sử của một bộ phận công
chức đối với các quy định của luật pháp. Tình trạng chậm trễ trong việc thực
hiện các chính sách đang trở lên khá phổ biến trong các cơ quan hành chính. Sự
nhất quán trong cơ chế chính sách, giữa các quy định pháp luật và việc thực thi

các nguồn vốn tín dụng; sự độc quyền của doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh
vực như điện, nước, bưu chính, viễn thông…; việc cụ thể hoá quyền của các
doanh nghiệp theo nguyên tắc doanh nghiệp được phép làm những gì mà pháp
luật không cấm như doanh nghiệp được quyền thuê lao động nước ngoài mà
không cần xin phép, quyền góp vốn liên doanh, liên kết và bán cổ phần với nhà
đầu tư nước ngoài ở những ngành, lĩnh vực mà nhà nước không cấm; thực hiện
đồng bộ chương trình trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ; kiện toàn hệ thống kinh
doanh trong toàn quốc; thành lập ngân hàng dữ liệu cung cấp thông tin về khoa
học – công nghệ mới; hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại, thâm nhập thị
trường mới, hỗ trợ thông tin thị trường; đào tạo doanh nhân; xây dựng vườn
ươm doanh nghiệp; thực hiện các quy định kiểm tra sau đăng ký kinh
doanh…Các vấn đề này đã được cộng đồng doanh nghiệp đề xuất và đã được
Chính phủ, các bộ, ngành hứa sẽ tiếp tục giải quyết.
23

2.2.5. Một bộ phận cán bộ, công chức và dư luận xã hội chưa thực sự có
cái nhìn đồng thuận về vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân
Sở dĩ như vậy là do nhận thức và tâm lý, thói quen tư duy cũ, một bộ
phận không nhỏ trong xã hội, trong đó có cả cán bộ, công chức nhà nước vẫn
chưa hết mặc cảm với kinh tế tư nhân, chưa có cách nhìn nhận đúng vị trí, vai
trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chưa
thực sự quán triệt chủ trương, chính sách phát triển kinh tế tư nhân của Đảng và
Nhà nước ta. Vẫn có nhiều ý kiến cho rằng kinh tế tư nhân là đối lập với định
hướng XHCN. Tâm lý dè dặt, e ngại đối với kinh tế tư nhân đang là rào cản đối
với sự phát triển của khu vực kinh tế này. Từ một số biểu hiện sai trái của một
số ít doanh nghiệp, một số người còn cho rằng kinh tế tư nhân là trốn lậu thuế,
làm ăn phi pháp v.v Mặc dù đã gần 20 năm đổi mới nhưng thái độ và cách nhìn
nhận đối với kinh tế tư nhân như trên đã làm giảm ý chí kinh doanh và tinh thần
lập nghiệp của một bộ phận dân cư, đặc biệt là các doanh nhân.


không chịu rời bỏ thứ quyền lực đã nhiều năm gây phiền hà cho doanh nghiệp.
Còn tồn tại nhiều thủ tục hành chính rườm rà, không cần thiết hoặc bất cập
với yêu cầu thực tiễn, dẫn đến không những tạo cơ hội phát triển tệ sách nhiễu,
tham nhũng của các cơ quan và công chức hành chính, mà còn có thể khiến
doanh nghiệp đánh mất những cơ hội kinh doanh tốt, hoặc phải trả giá đắt hơn
cho các giao dịch làm ăn của mình.
Hiện nay có hiện tượng là văn bản pháp quy do bộ, ngành nào dự thảo thì
thường nghiêng về quyền lực và lợi ích của bộ, ngành đó, không đứng về phía
người thi hành là doanh nghiệp, thậm chí không đứng về lợi ích của toàn xã hội,
do đó nhiều văn bản không khả thi, không đi vào cuộc sống, ngược lại, gò bó,
trói buộc người dân và doanh nghiệp.
Trên lĩnh vực thanh tra, kiểm tra, Chính phủ đã có Nghị định 61, ngày
15-8-1998, quy định rõ về công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan có thẩm
quyền. Luật Doanh nghiệp cũng quy định rõ: việc thanh tra tài chính được thực
hiện không quá một lần trong một năm đối với một doanh nghiệp; thời hạn
25

thanh tra không quá 30 ngày; khi thanh tra phải có quyết định và kết thúc phải
có biên bản kết luận; công chức lợi dụng thanh tra để sách nhiễu doanh nghiệp
thì phải bị xử lý, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường cho doanh nghiệp. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy không nhiều doanh nghiệp dám thực hiện quyền “tư
chối” của mình trong trường hợp thanh tra, kiểm tra không đúng pháp luật. Bởi
lẽ, doanh nghiệp kiện cơ quan hành chính là việc “dân kiện quan”, rất không dễ
dàng, nên phần lớn đều tìm giải pháp mềm dẻo hơn để được việc và khỏi mất
thời gian. Nguyên nhân chính của tình trạng này là cơ cấu tổ chức, chức năng,
nhiệm vụ và bộ máy của Toà Hành chính đang có nhiều bất cập.
3.3. Những nguyên nhân của bản thân doanh nghiệp
Một số nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp dân doanh dường như phát
triển chậm về quy mô (kể cả quy mô về vốn và lao động). Có một số cách giải
thích cho tình trạng này. Thứ nhất, các doanh nghiệp lúc mới đăng ký thường rất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status