TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN CHÍ LÂM
ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ-KỸ THUẬT
CỦA HAI MÔ HÌNH LÚA-TÔM CÀNG XANH-CÁ
KẾT HỢP VÀ TÔM SÚ NUÔI TRONG MÙA MƯA
Ở TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 12
3.2 Bố trí thử nghiệm 12
3.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu 14
3.4 Phương pháp điều tra 15
3.5 Xử lý số liệu 15
Chương IV: Kết quả thảo luận 16
4.1 Khía cạnh kinh tế và kỹ thuật của hai mô hình lúa-cá và tôm sú 16
4.1.1 Về khía cạnh kỹ thuật 16
4.1.2 Về khía cạnh kinh tế 20
4.2 Sự tăng trưởng của tôm, cá nuôi ở hai mô hình thử nghiệm 23
4.3 Hiệu quả kinh tế của hai mô hình thử nghiệm 25
Chương V: Kết luận và đề xuất 29
5.1 Kết luận 29
5.2 Đề xuất 29
Tài liệu tham khảo 30
Phụ lục 35
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
iv
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Diện tích nuôi tôm càng xanh ở các Tỉnh ĐBSCL trong năm
2005 và kế hoạch phát triển năm 2006 5
Bảng 2.2: Mật độ và tỷ lệ sống tôm nuôi trong mô hình tôm-lúa luân
canh ở ĐBSCL 9
Bảng 4.1: Kinh nghiệm canh tác theo hai mô hình lúa-cá kết hợp và
tôm sú nuôi trong mùa mưa ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2005 16
Bảng 4.2: Mức độ thành công của hai mô hình lúa-cá kết hợp và tôm sú
nuôi trong mùa mưa ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2005 16
Hình 2.3: Sự phát triển của mô hình tôm – lúa luân canh ở các Tỉnh ven
biển ĐBSCL 8
Hình 2.4a: Diện tích nuôi tôm của Tỉnh Sóc Trăng qua các năm 11
Hình 2.4b: Sản lượng nuôi tôm của Tỉnh Sóc Trăng qua các năm 11
Hình 3.1a: Sơ đồ bố trí thí nghiệm NT tôm sú nuôi trong mùa mưa 13
Hình 3.1b: Sơ đồ bố trí thí nghiệm NT lúa, tôm càng xanh và cá kết hợp 13
Hình 3.2: Sơ đồ khu vực nghiên cứu 13
Hình 4.1: Tỷ lệ thu nhập từ lúa và cá trong mô hình lúa-cá kết hợp ở Mỹ
Xuyên, Sóc Trăng năm 2005 21
Hình 4.2: Tỷ lệ các chi phí sản xuất trong mô hình lúa-cá kết hợp ở Mỹ
Xuyên, Sóc Trăng năm 2005 21
Hình 4.3: Tỷ lệ các chi phí sản xuất trong mô hình tôm sú nuôi trong mùa
mưa ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2005 22
Hình 4.4: Tăng trưởng của tôm càng xanh nuôi trong ruộng lúa ở Mỹ
Xuyên, Sóc Trăng năm 2006 23
Hình 4.5: Tăng trưởng của tôm sú nuôi trong mùa mưa ở Mỹ Xuyên, Sóc
Trăng năm 2006 25
Hình 4.6: Tỷ lệ các chi phí sản xuất ở nghiệm thức lúa, tôm càng xanh và
cá kết hợp ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2006 26
Hình 4.7: Tỷ lệ thu nhập ở nghiệm thức lúa, tôm càng xanh và cá kết hợp
ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2006 27
Hình 4.8: Tỷ lệ các chi phí sản xuất ở nghiệm thức tôm sú nuôi trong
mùa mưa ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2006 27
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
vi
, 4,5 g/con) kết hợp (5.000 m
2
/lô thử nghiệm) và NT 2: tôm sú (PL
15
)
nuôi trong mùa mưa được thả với mật độ 2 con/m
2
(2.250m
2
/lô thử nghiệm) đã
được thực hiện.
Kết quả điều tra cho thấy, mùa vụ nuôi tôm sú từ tháng 7-11 (DL), mật độ là
4-5 con/m
2
, thức ăn công nghiệp được sử dụng chủ yếu. Tỷ lệ sống và năng
suất bình quân đạt 55% và 415 kg/ha/vụ. Lợi nhuận là 11.170.000 đồng/ha/vụ.
Riêng đối với mô hình lúa-cá kết hợp, mùa vụ từ tháng 6-12 (DL). Năng suất
lúa và cá đạt lần lượt là 4,7 tấn/ha/vụ và 136 kg/ha/vụ. Lợi nhuận bình quân là
7.242.000 đồng/ha/vụ, tỷ suất lợi nhuận đạt 1,97, cao hơn so với nuôi tôm sú
trong mùa mưa (0,5).
Kết quả thử nghiệm cho thấy, trọng lượng bình quân của tôm càng xanh và cá
(NT 1) và tôm sú (NT 2) lần lượt là 13,7 g/con (sau 130 ngày nuôi), 58,9 g/con
(cá mè trắng), 60,2 g/con (cá mè vinh) và 66,7 g/con (cá trôi) sau 100 ngày nuôi và
53,3 g/con (sau 115 ngày nuôi). Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của tôm càng xanh
là 0,1 g/ngày, cá từ 0,44-0,58 g/ngày (NT 1) và tôm sú là 0,46 g/ngày (NT 2). Tỷ
lệ sống của tôm sú, tôm càng xanh và cá đạt lần lượt là 7,9% và 1,5%, 6% (cá
trôi) đến 93% (mè vinh). Năng suất đạt 21,5 kg/ha (tôm càng xanh) và 80 kg/ha
(cá) và 15,6% (tôm sú). Lợi nhuận là 4.439.000 đồng/ha/vụ (NT 1) và lỗ 240.000
đồng/ha/vụ (NT 2). Tỷ suất lợi nhuận của NT 1 (0,7) cao hơn so với NT 2 (-0,1).
Nhìn chung, mô hình lúa-cá kết hợp nên được khuyến cáo cho nông dân áp
nuôi trong mùa mưa ở tỉnh Sóc Trăng” là rất cần thiết nhằm cung cấp
những dẫn liệu khoa học cho mô hình tôm-lúa luân canh phát triển bền vững
hơn ở các tỉnh ven biển ĐBSCL.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm góp phần bổ sung những cơ sở khoa học để khuyến cáo
người dân áp dụng mô hình canh tác theo hướng bền vững về khía cạnh kinh
tế và môi trường. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung đánh giá và so
sánh khía cạnh kinh tế của mô hình lúa-tôm càng xanh kết hợp và nuôi tôm sú
trong mùa mưa (không trồng lúa).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2
Nội dung nghiên cứu
i. Khảo sát hiện trạng và đánh giá khía cạnh kinh tế-kỹ thuật của hai mô
hình lúa-cá và tôm sú nuôi trong mùa mưa ở tỉnh Sóc Trăng;
ii. Đánh giá sự tăng trưởng của tôm, cá nuôi trong hai mô hình này;
iii. Phân tích hiệu quả kinh tế của hai mô hình thí nghiệm.
Những hạn chế của đề tài:
i. Do không tìm được 4 hộ nông dân để hợp tác nghiên cứu nên các lô thí
nghiệm được bố trí theo cách ngăn làm 2 lô bằng mê bồ ở mỗi ruộng
của nông hộ. Điều này có lẽ cũng ảnh hưởng đến kết quả của thí
nghiệm.
ii. Do không tìm được tôm càng xanh giống lớn (2-3 cm) vào thời điểm
chính vụ trồng lúa nên việc bố trí thí nghiệm trể (tháng 9) hơn so với dự
kiến. Điều này hạn chế thời gian sinh trưởng của tôm càng xanh.
nhân tạo được Ling (1969) nghiên cứu thành công và hoàn chỉnh vào năm
1977. Sự thành công trong sản xuất tôm giống nhân tạo đã thúc đẩy nghề nuôi
tôm thương phẩm phát triển nhanh ở nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện nay
tôm càng xanh được nuôi ở nhiều nước như Thái Lan, Indonesia, Malaysia,
Philippin, Ấn độ, Mỹ, Brazil, Mexico, Ecuador, Đài Loan, Israel,…với nhiều
hình thức nuôi khác nhau như thâm canh, bán thâm canh trong bể xi măng hay
trong ao, nuôi trong lồng, nuôi trong ruộng lúa, nuôi ghép với cá rô phi hay cá
chép.
Sản lượng tôm càng xanh nuôi trên thế giới đạt 5.246 tấn vào năm 1984 và
17.608 tấn vào năm 1989, tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới đạt
119.000 tấn, với tổng giá trị 410 triệu USD vào năm 2000 và phát triển với
tốc độ nhanh. Châu Á là nơi có sản lượng tôm càng xanh lớn nhất, chiếm gần
95% tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới (FAO, 2002). Năm 2003, chỉ
riêng Trung Quốc sản xuất 300.000 tấn tôm càng xanh (Miao, 2003 - trích
dẫn từ Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004).
Mô hình nuôi kết hợp tôm càng xanh với cá hay lúa đã phát triển ở nhiều nước
trên thế giới. Ở Ấn Độ nuôi kết hợp tôm càng xanh với lúa thả nuôi với mật độ
14.000-45.000 tôm bột/ha (nuôi đơn tôm càng xanh) cho sản lượng 95-1.300
kg/ha, và thả mật độ 10.000-20.000 tôm bột/ha (nuôi ghép với cá Chép) cho
sản lượng 70-500 kg/ha (Kurup và Ranject, 2002 - trích dẫn bởi Bùi Như Ý,
2004). Còn ở Thái Lan nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa sử dụng giống
nhân tạo PL
60
kích thước 4,5-4,8 cm/con, mật độ thả 1,25 con/m
2
, kết quả tỉ lệ
sống đạt 80 %, năng suất 130 kg/ha (Janssen và Natavudh-Bhayavan, 1998 –
trích dẫn bởi Nguyễn Thành Phước, 2001). Ở Bangladesh nuôi tôm càng xanh
trong ruộng lúa bằng giống tự nhiên do thủy triều đưa vào năng suất tôm cá
thu được từ 280-450 kg/ha (Haroom và Karim, 1998 - trích dẫn bởi Đoàn Văn
sâu phao (case worm), giúp làm giảm đáng kể lượng sâu trưởng thành và phần
trăm thiệt hại do chúng gây ra so với mô hình không thả cá (Vroman et al.,
1998 - được trích dẫn bởi Đặng Kiều Nhân và ctv., 2001).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
5
2.1.2 Trong nước
2.1.2.1 Tôm càng xanh
Việt Nam là một trong 13 nước có tôm càng xanh phân bố tự nhiên với sản
lượng lớn hơn một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Chúng phân bố chủ
yếu ở Nam Bộ, tập trung ở lưu vực sông Hậu, sông Tiền (Dương Tấn Lộc,
2001).
Do nguồn giống tôm càng xanh tự nhiên ngày càng cạn kiệt nên việc phát triển
nghề nuôi tôm càng xanh giống nhân tạo là một xu hướng tất yếu. ĐBSCL
được coi là vùng có diện tích nuôi tôm càng xanh lớn nhất nước. Trong năm
2002, tổng diện tích và sản lượng tôm nuôi đạt 10.000 ha và 1.400 tấn. Diện
tích và sản lượng tôm càng xanh tiếp tục gia tăng và đạt con số 5.680 ha và
2.760 tấn trong năm 2005 (Lê Xuân Sinh và ctv., 2006 - trích dẫn bởi Trương
Hoàng Minh, 2006). Theo số liệu gần đây, sản lượng tôm càng xanh nuôi của
cả nước ước đạt 6.400 tấn, trong đó các tỉnh Nam Bộ chiếm 6.012 tấn trong
năm 2005 (Báo con tôm số 121 - tháng 2/2006).
Theo kế hoạch của Bộ Thủy sản (2006), diện tích nuôi tôm càng xanh của cả
nước sẽ đạt 32.000 ha và sản lượng tương ứng đạt 60.000 tấn vào khoảng 2010.
Riêng các tỉnh ĐBSCL, diện tích nuôi trong năm 2005 và kế hoạch 2006 được
thống kê trong Bảng 2.1.
Bảng 2.1: Diện tích nuôi tôm càng xanh ở các tỉnh ĐBSCL trong năm 2005 và
(Nguồn: www.mekongfish.net.vn)
Nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, giống tôm thả trong ruộng lúa hầu hết có
nguồn gốc ngoài tự nhiên trọng lượng 5-10 g/con, mật độ thả từ 0,5-2 con/m
2
.
Tôm không được cung cấp thức ăn hoặc bổ sung thêm cám, tấm, bột mì, cá
bằm cho ăn một lần/ngày, lượng thức ăn chiếm từ 1-3 % trọng lượng đàn tôm.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
6
Ở Cần Thơ năng suất tôm biến động tùy nơi, ở Phụng Hiệp đạt từ 100-200
kg/ha, ở Thốt Nốt đạt 268 kg/ha (Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 1998). Ở Tiền
Giang tôm càng xanh được nuôi trong ruộng lúa sử dụng giống tự nhiên và
thức ăn chủ yếu là cá tạp, đạt năng suất 200-300 kg/ha/vụ (Sở Thủy Sản Tiền
Giang, 1999). Còn ở Trà Vinh cũng với mô hình trên, năng suất đạt 150 kg/ha
(Sở Thủy Sản Trà Vinh, 1999). Năm 2002, Hội nghị báo cáo khoa học về tôm
càng xanh nuôi trong ruộng lúa ở tỉnh Trà Vinh cho thấy với mật độ thả nuôi
2-3 tôm giống/m
2
cho ăn thức ăn công nghiệp và tươi sống kết hợp, sau 6
tháng nuôi đạt năng suất trung bình 159 kg/ha/vụ, tỷ lệ sống 20 %, khối lượng
bình quân 43,2 g/con (Sở Khoa Học và Công Nghệ tỉnh Trà Vinh, 2002).
Nghề nuôi tôm càng xanh phổ biến ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng
Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh với các mô hình nuôi khác nhau bao gồm
nuôi tôm trong ruộng lúa, nuôi tôm trong mương vườn, nuôi tôm đăng quầng,
nuôi bán thâm canh, thâm canh và nuôi trong ao đất. Trong đó, mô hình nuôi
tôm kết hợp với lúa đạt năng suất bình quân 184 kg/ha/vụ; nuôi tôm luân canh
với lúa đạt 686 kg/ha/vụ; nuôi trong ao đạt 1,2 tấn/ha/vụ và nuôi đăng quầng
trên sông đạt bình quân 4,12 tấn/ha/vụ (Vũ Nam Sơn và ctv., 2003). Tại Châu
Thành - Cần Thơ nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa bằng giống nhân tạo, cỡ
Trương Hoàng Minh (2006), năng suất cá bình quân trong mô hình lúa cá trong
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
7
năm 1996-1997 đạt 429 kg/ha/vụ, và năng suất cao hơn ở những năm sau đó
(801 kg/ha/vụ). Tác giả cũng báo cáo rằng, sự gia tăng năng suất cá nuôi là do
thay đổi về cơ cấu thành phần loài và mật độ cá thả nuôi, trong đó, tôm càng
xanh được đánh giá là đối tượng có giá trị kinh tế cao nhất so với các loài thủy
sản nước ngọt nuôi kết hợp trong ruộng lúa. Theo báo cáo gần đây cho thấy, lợi
nhuận bình quân đạt 8,3 triệu đồng/ha.vụ. Đa số các hộ (77% số hộ điều tra) có
lợi nhuận từ 1,4 đến 49 triệu đồng/ha/vụ (Lê Quốc Việt, 2005).
2.1.2.2 Tôm sú
Tôm sú (Penaeus monodon) là loài quan trọng nhất và chiếm ưu thế trong các
mô hình nuôi thủy sản ven biển Việt Nam. Đặc biệt ĐBSCL chiếm 80-85%
tổng diện tích 70-75% sản lượng tôm nuôi của cả nước (hình 2.1a & b). Trong
năm 2003, khoảng 460.000 ha diện tích được sử dụng cho nuôi tôm với sản
lượng đạt 223.000 tấn (Bộ Thủy sản, 2004). Sản lượng tôm nuôi vẫn tiếp tục
gia tăng và đạt 330.200 tấn trong tổng sản lượng 1.437.400 tấn sản phẩm thủy
sản Việt Nam năm 2005 (Bộ Thủy sản, 2006). Năng suất tôm nuôi đạt 250-
300 kg/ha/vụ đối với mô hình quảng canh cải tiến, 2.5-3 tấn/ha/vụ ở mô hình
bán thâm canh và 5-7 tấn/ha/vụ đối với mô hình thâm canh (Bộ Thủy sản,
2004 & 2005).
Theo Bộ Thuỷ sản (2003), trong tổng diện tích nuôi tôm của ĐBSCL (476.528
1991199419992000200120022003
Vi ệt Nam
ĐBSCL
Hình 2.1b. Sản lượng tôm nuôi của
ĐBSCL và Vi
ệt Nam, 2003
Hình 2.1a. Diện tích nuôi tôm nước lợ
của ĐBSCL và Việt Nam, 2003
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
8
Nghề nuôi tôm sú ở ĐBSCL phát triển không chỉ có các mô hình nuôi chuyên
tôm như quảng canh cải tiến, bán thâm canh-thâm canh mà còn có các mô hình
nuôi kết hợp như rừng-tôm, rừng-tôm-cua; và mô hình tôm-lúa luân canh. Bên
cạnh đó, mô hình tôm-cá luân canh cũng đang được phát triển gần đây, do sự
chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ canh tác lúa một vụ không hiệu quả sang nuôi
trồng thủy sản đã làm cho diện tích canh tác tôm-lúa luân canh ở các Tỉnh Cà
Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, … Điều này làm cho diện tích nuôi tôm-lúa luân
canh gia tăng đáng kể (Hình 2.3).
2000
2001
Hình 2.3. S
ự phát triển mô h
ình tôm
-
lúa luân canh
ở các
Tỉnh ven biển ĐBSCL
23%
11%
9%
6%
5%
46%
Cà Mau
Bạc Liêu
Kiên Giang
Sóc Tr ăng
Bến Tre
Các Tỉnh Khác
Hình 2.2: T
ỷ lệ diện
tích nuôi tôm gi
ữa các
Tỉnh của ĐBSCL, 2003
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
9
triển của tôm nuôi. Tăng trưởng đặc biệt đạt 0,23 g/ngày và năng suất 392
-2
> 6 m
-2
< 3 m
-2
3-6 m
-2
> 6 m
-2
Mỹ Xuyên
(Sóc Trăng)
295
427
458
31.1
22.4
16.0
Giá Rai
(Bạc Liêu)
272
270
15.7
10.4
6.9
Trung bình
234,5
365
288,3
25,9
17,1
11,6Khi phân tích về khía cạnh kinh tế của mô hình tôm-lúa luân canh, theo báo
cáo của Thiều Lư (2001) cho thấy, tỷ suất lợi nhuận (B:C) của vụ nuôi tôm
bình quân là 170%, một vài trường hợp đặc biệt có thể đạt 400% (Trương
Hoàng Minh và ctv., 1999). Nhìn chung, tỷ suất lợi nhuận của vụ nuôi tôm
thấp hơn so với trồng lúa (230%) nhưng lợi nhuận mang lại từ vụ nuôi tôm cao
hơn nhiều so với trồng lúa (2,4 lần). Tuy nhiên, chi phí đầu tư cho vụ nuôi tôm
cao gấp 9,3 lần so với trồng lúa (Nguyễn Văn Vượng, 2001 được trích dẫn bởi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
10
ện tích nuôi tôm
của tỉnh Sóc Trăng qua các năm
Hình 2.4b. S
ản l
ư
ợng nuôi tôm của
tỉnh Sóc Trăng qua các năm
22.599
34.16
43.311
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
50
199820022005
Năm
ha
5.74981
16.1
37.2
0
5
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
12
lúa 1 tháng). Cá mè vinh, cá trôi và cá mè trắng được mua ở Sóc Trăng, với
kích cỡ trung bình là 4,5 g/con. Mật độ cá thả nuôi là 0,4 con/m
2
, trong đó, cá
mè vinh chiếm 12,4%, cá trôi 43,8% và cá mè trắng 43,8% trong cơ cấu đàn
cá nuôi (cá được thả sau khi cấy lúa 2 tháng). Tôm càng xanh và cá nuôi trong
thử nghiệm không cho ăn, nước được thay thường xuyên do nhu cầu nước cho
canh tác lúa.
Nghiệm thức 2: tôm sú nuôi trong mùa mưa
Các lô thử nghiệm có diện tích là 2.250 m
2
/lô thử nghiệm. Mức nước trên mặt
ruộng là 40-50 cm và ở mương bao từ 1,2-1,5 m. Tôm sú PL
15
với kích cỡ 13-
15 cm được mua và thuần đến 1‰ ở các trại giống trước khi thả. Mật độ thả là
2 con/m
2
, không cho ăn và ít thay nước trong quá trình thử nghiệm. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
13Sơ đồ bố trí thử nghiệm:
MẶT RUỘNG
TẤM NGĂN BẰNG
MÊ BỒ
CỐNG
MƯƠNG BAO
MƯƠNG BAO
LÔ 2
LÔ 1
LÔ 2
LÔ 1
Hình 3.1a: Sơ đồ bố trí thử nghiệm NT
lúa-tôm càng xanh, cá kết hợp.
Hình 3.1b: S
ơ đ
ồ bố trí th
ử
nghi
ệm NT
tôm sú nuôi trong mùa mưa.
LƯỚI CƯỚC
LƯỚI CƯỚC
Địa điểm
nghiên cứu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
14
: số cá thể trung bình đếm
được qua các chài; S: diện tích ao nuôi)
N
đ
: số cá thể ban đầu
Tăng trưởng tuyệt đối: Cân trọng lượng các cá thể tôm hoặc cá ở mỗi đợt thu
mẫu tại các lô thử nghiệm và ghi nhận số liệu. Tăng trưởng trọng lượng tuyệt
đối được tính theo công thức sau:
W
c
-W
đ
DWG =
*
100
T
c
-T
đ
Trong đó:
DWG: tăng trưởng tuyệt đối (g/ngày)
W
đ
, W
c
trọng lượng đầu (g), trọng lượng cuối (g)
T
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
16
CHƯƠNG IV
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Khía cạnh kinh tế và kỹ thuật của hai mô hình lúa-cá và tôm sú
4.1.1 Về khía cạnh kỹ thuật
Kinh nghiệm canh tác và mức độ thành công
Kết quả điều tra 14 hộ canh tác mô hình lúa-cá kết hợp (ít hơn so với dự kiến
20 hộ) và 22 hộ nuôi tôm sú trong mùa mưa cho thấy, mô hình canh tác lúa-cá
kết hợp đã có cách đây nhiều năm (>13 năm) (chiếm 92,9% số hộ điều tra)
(Bảng 4.1), vì thế người dân có rất nhiều kinh nghiệm canh tác theo mô hình
này và ít bị thua lỗ (92,9% số hộ thành công) (Bảng 4.2). Trong khi đó, mô
hình nuôi tôm sú trong mùa mưa chỉ mới phát triển trong vài năm gần đây, vì
thế kinh nghiệm nuôi tôm sú trong mùa mưa chưa nhiều và mức độ rủi ro cao
(31,8% số hộ thất bại) (Bảng 4.2).
Bảng 4.1. Kinh nghiệm canh tác theo hai mô hình lúa-cá và tôm sú
Lúa-cá
Tần suất Phần trăm(%)
Tôm sú Tần suất
Phần trăm(%)
> 13
13
92.9
> 10
4`18,2
13
1
7.15-9
12
54,5
< 5627,3
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
17
Đặc điểm ruộng nuôi
Diện tích trung bình ruộng nuôi và mương bao lần lượt là 13.200 m
2
trũng và năm sâu trong nội địa nên nước mặn xâm nhập ít vào các tháng mùa
mưa. Những hộ canh tác vào tháng 7 & 8 (DL) có lẽ là do giống lúa thời gian
trưởng ngắn, hoặc có thể do thời gian nuôi tôm sú ở vụ trước kéo dài.
Trung bình
Đặc điểm ruộng nuôi
Lúa - cá Tôm sú
Diện tích ruộng (m
2
) 13.200±8.00015.000±6.000
Diện tích mương bao (m
2
)
2.000±1.200
3.000±2.000
Độ sâu mực nước (m)
Phần trăm diện tích mương bao (%)
1,2±0,1
14,4
1,3±0,2
20
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
18
Mô hình tôm sú trong mùa mưa, mùa vụ nuôi tôm bắt đầu từ tháng 7-11 dương
lịch. Trong đó, 50% số hộ thả tôm từ tháng 7 (DL), 31,8% số hộ thả vào tháng
8 (DL), 13,6% số hộ thả nuôi vào tháng 10 (DL) và 4,6% số hộ thả tôm vào
Về mật độ nuôi
Ở mô hình nuôi tôm sú trong mùa mưa, mật độ nuôi trung bình là 4±1 con/m
2
.
Trong đó, mật độ 4 con/m
2
chiếm tỷ lệ cao nhất (40,9% số hộ khảo sát), mật
độ 5 con/m
2
chiếm tỷ lệ 31,9% số hộ (Bảng 4.5). Kết quả này cho thấy, mật độ
tôm sú nuôi có xu hướng tăng ở địa bàn nghiên cứu. Việc gia tăng mật độ nuôi
cũng ảnh hưởng đến năng suất và tỷ lệ sống của tôm nuôi theo mô hình này.
Theo Trần Thanh Bé (2002), mật độ tôm nuôi tăng từ 1,58-2,34 con/m
2
, tỷ lệ
sống bình quân đạt từ 14,5-22,1% ở huyện Mỹ xuyên. Theo Thiều Lư (2001) ở
các Tỉnh ĐBSCL, tôm sú nuôi ở mật độ từ 3-6 con/m
2
cho năng suất 365
kg/ha/vụ và tỷ lệ sống là 17,1%. Vì vậy, để có được năng suất và tỷ lệ sống
cao thì mật độ nuôi vừa phải. Mật độ được đề nghị cho mô hình tôm-lúa luân
canh là 2-4 con/m
2
(Thiều Lư, 2001).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
19
Bảng 4.5. Mật độ tôm nuôi trong mùa mưa ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2005
Mật độ nuôi (con/m
2
0-2
3-4 5 Không
Thay khi
cần thiết
Tần suất (n)
10
12 2 17 3 9
13
Phần trăm
(%)
45,5
54,5 9,1 77,3 13,6
40,9
59,1
Tỷ lệ sống và năng suất
Mô hình lúa-cá kết hợp, năng suất bình quân đạt 4,7±4,1 tấn/ha/vụ và 136±17
kg cá/ha/vụ. Kết quả này tương tự với nghiên cứu trước đây đối với mô hình
tôm-lúa luân canh, nghĩa là 5-6,3 tấn/ha/vụ (Tô Phúc Tường và ctv., 2003).
Theo Lê Xuân Sinh và ctv. (2001), năng suất lúa trong mô hình lúa-cá đạt 5,6
tấn/ha/vụ. Bên cạnh đó, năng suất cá nuôi đạt 136 kg/ha/vụ (mật độ 0,3
con/m
2
). Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu trước đây trong mô hình kết