Luận văn: Đánh giá hiệu quả kinh tế Khu bảo vệ hệ sinh thái biển Rạn Trào, Khánh Hòa do địa phương quản lý potx - Pdf 12


1
Luận văn

Đánh giá hiệu quả kinh tế
Khu bảo vệ hệ sinh thái biển
Rạn Trào, Khánh Hòa do địa
phương quản lý

2
MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 8

PHẦN NỘI DUNG 10

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
KINH TẾ KBTB 10

1.1.Khu bảo tồn biển 10

1.1.1. Khái niệm và phân loại 10

1.1.1.1. Khu bảo tồn 10

1.1.1.2. Khu bảo vệ biển 11

1.1.1.3. Khu bảo tồn biển 11


1.3.1.2. Đánh giá thông qua chỉ tiêu kinh tế tổng hợp 29

1.3.2. Đánh giá theo tiêu chí xã hội 33

1.3.3. Đánh giá theo tiêu chí môi trường 34

1.4. Sự phù hợp khi sử dụng CBA làm công cụ phân tích đánh giá hiệu quả
kinh tế mô hình quản lý KBTB. 35

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ TẠI KHU BẢO VỆ
HỆ SINH THÁI BIỂN RẠN TRÀO 37

2.1. Tổng quan về KBVHSTB Rạn trào 37

2.1.1. Điều kiện tự nhiên 37

2.1.1.1. Vị trí địa lý 37

2.1.1.2. Các vùng chức năng trong KBV 39

2.1.1.3. Khí hậu, thời tiết. 40

2.1.2. Đặc điểm kinh tế- văn hóa- xã hội 40

2.1.2.1. Đất đai và sử dụng đất đai 40

2.1.2.2. Dân số, giáo dục và y tế 41

2.1.2.3. Các giá trị văn hóa- lịch sử 42

2.2.2. Mô hình quản lý tại địa phương 50

2.2.2.1. Về cơ cấu tổ chức 50

2.2.2.2. Về tài chính cho khu bảo tồn 53

2.2.3. Mục tiêu KBVHSTB Rạn Trào 53

2.2.4. Các hoạt động đã được triển khai tại KBVB Rạn Trào 54

2.2.5. Những khó khăn, thuận lợi trong quá trình thực hiện dự án 55

2.2.6. Đánh giá tính bền vững mô hình quản lý. 56

CHƯƠNG III: ÁP DỤNG CÔNG CỤ PHÂN TÍCH KINH TẾ NHẰM
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KBVHSTB RẠN TRÀO DO CỘNG ĐỒNG DÂN
CƯ ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ 57

3.1. Nhận dạng vấn đề 57

3.2. Nhận dạng lợi ích, chi phí 57

3.2.1. Nhận dạng lợi ích 57

3.2.1.1. Lợi ích trực tiếp 57

3.2.1.2. Lợi ích gián tiếp 59

3.2.2. Nhận dạng chi phí 60


3.7. Kiến nghị. 844
KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
KBT Khu bảo tồn
KBTB Khu bảo tồn biển
KBV Khu bảo vệ
KBVB Khu bảo vệ biển
KBVHSTB Khu bảo vệ hệ sinh thái biển
MCD Trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng
NGO Tổ chức phi chính phủ
UNESCO Tổ chức văn hóa, giáo dục, khoa học liên hợp quốc
WTP Mức sẵn lòng chi trả

6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

TÊN BẢNG
B
ảng 1: Danh sách các điểm đ
ư
ợc đề xuất th
ành KBTB

Bảng 2 : Bảng so sánh hai mô hình
Bảng 3: Bảng so sánh phân tích chi phí- lợi ích với phân tích tài chính
Bảng 4: Tình hình sử dụng đất đai xã Vạn Hưng
Bảng 5: Dân số và lao động xã Vạn Hưng
Bảng 6: Số hộ tham gia các ngành nghề ở xã Vạn Hưng
B
ảng 7: Mật độ (con/400m2) các nhóm cá rạn san hô tại khu vực Rạn Tr
ào


B
ảng 26: Bảng tổng hợp các lợi ích thu về qua
các năm

Bảng 27 : Bảng tính NPV của dự án

7 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1: S
ơ đ
ồ các loại h
ình KBT

Hình 2: Sơ đồ các loại hình KBTB
Hình 3: Mô hình quản lý ngành dọc có sự tham gia của cộng đồng
Hình 4: Mô hình do địa phương quản lý
Hình 5: Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa
Hình 6 : Bản đồ phân vùng chức năng vùng biển Rạn Trào
Hình 7

: T
ổ chức quản lý KBVB Rạn Tr
ào

Hình 8: Mô hình phát triển bền vững
 Về không gian lãnh thổ: KBVHSTB Rạn Trào, xã Vạn Hưng.

9
 Về thời gian nghiên cứu: dự tính điều tra, phỏng vấn người dân tại khu
bảo vệ vào đầu tháng 4/2009, sử dụng số liệu từ 2000 đến nay.
 Về giới hạn nghiên cứu: đề tài đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án
thông qua các chỉ số kinh tế là BCR, NPV.
4. Phương pháp nghiên cứu.
 Phương pháp thu thập, xử lý thông tin.
 Phương pháp thực địa.
 Phương pháp điều tra xã hội học.
 Phương pháp chuyên gia.
 Phương pháp giá thị trường.
 Phương pháp chi phí thay thế.
 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên.
 Phương pháp tiếp cận thay đổi năng suất.
 Phương pháp xử lý số liệu bằng Excel, SPSS.
5. Cấu trúc đề tài.
Ngoài lời nói đầu và kết thúc, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý và đánh giá hiệu quả kinh tế KBTB.
Chương II: Thực trạng mô hình quản lý tại KBVHST biển Rạn Trào.
Chương III: Áp dụng công cụ phân tích kinh tế nhằm đánh giá hiệu quản kinh
tế KBVHSTB Rạn Trào do cộng đồng dân cư địa phương quản lý.


Khu di sản
thế giới
Khu dự trữ
sinh quyển

Vườn quốc
gia
Khu b
ảo tồn
thiên nhiên

Khu rừng
văn hóa l
ịch
sử môi
trường

11
 Đất ngập nước: Bằng việc thông qua Công ước đa dạng sinh học và
Công ước Ramsar về đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, Chính
phủ đã cam kết thành lập một mạng lưới các khu bảo tồn đất ngập
nước. Kế hoạch hành động đa dạng sinh học bao gồm 61 khu đất ngập
nước. Mới đây, 68 khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia đã
được xác định trong đó có một số khu nằm trong hệ thống rừng đặc
dụng. Cơ quan chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp khu đất ngập nước là
Bộ TN&MT.
 Các KBTB: Việt Nam hiện có 2 khu di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh
Hạ Long, vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng và 3 khu di sản thế giới
nữa là: Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An và tổ hợp các công trình Huế
đã được UNESCO công nhận.

và quốc tế được phân loại thành: Vườn quốc gia; Khu bảo tồn loài, sinh cảnh;
Khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh.

Hình 2: Sơ đồ các loại hình KBTB
- Vườn Quốc gia có đủ các điều kiện sau:
 Là vùng biển có một hay nhiều hệ sinh thái điển hình như: san hô, cỏ
biển, rừng ngập mặn hay hệ sinh thái đầm phá, cửa sông còn nguyên
vẹn hoặc ít bị tác động của con người; là nơi sinh cư của một hay nhiều
loài động, thực vật biển hoang dã, quý hiếm, đang bị đe dọa có nguy cơ
tuyệt chủng, cần được quản lý, bảo vệ, bảo tồn.
 Diện tích Vườn Quốc gia nhỏ nhất không ít hơn 20.000 ha. Trong đó,
diện tích các hệ sinh thái điển hình còn nguyên vẹn hoặc ít bị tác động
của con người tối thiểu phải chiếm 1/3 diện tích của Vườn.
 Là khu vực mà mục tiêu bảo tồn bảo đảm được thực hiện và không bị
thay đổi bởi những hoạt động bất lợi của con người.
Khu bảo tồn biển
Vườn quốc gia Khu bảo tồn loài,
sinh cảnh
Khu dự trữ tài
nguyên thiên nhiên
thủy sinh

13
- Khu bảo tồn loài, sinh cảnh có đủ các điều kiện sau:
 Là vùng biển có một hay nhiều loài động, thực vật biển hoang dã, quý
hiếm, đang bị đe dọa có nguy cơ tuyệt chủng; có các hệ sinh thái điển
hình như san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn, hay hệ sinh thái đầm phá, cửa
sông còn nguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người, cần được quản
lý, bảo vệ, bảo tồn.
 Diện tích của Khu bảo tồn loài, sinh cảnh nhỏ nhất không ít hơn 10.000

1.1.2. Mục tiêu KBTB
Theo IUCN, mục tiêu của các KBTB là nhằm bảo tồn đa dạng sinh học
và khả năng sinh sản (bao gồm sự sống sinh thái) của đại dương. IUCN cũng
đã xác định mục tiêu cho mạng lưới các KBTB toàn cầu theo ngôn ngữ tiêu
chuẩn trong Nghị quyết Đại hội đồng như sau: “Hỗ trợ bảo vệ, tái tạo, sử
dụng một cách thông minh, am hiểu và tận hưởng vĩnh viễn các di sản biển
trên thế giới thông qua việc thiết lập một hệ thống đại diện các KBTB toàn
cầu và thông qua việc quản lý phù hợp với các nguyên tắc trong chiến lược
bảo tồn thế giới về các hoạt động của con người có thể sử dụng hoặc ảnh
hưởng tới môi trường biển” (Trích từ: Nghị quyết Đại hội đồng 17.38 năm
1998. Mục tiêu này cũng được lặp lại trong Nghị quyết Đại hội đồng 19.46
năm 1994 và trong nghị quyết tương tự của Đại hội hoang dã thế giới năm
1997).
1.1.3. Tính cấp thiết của việc thiết lập KBTB
Việt Nam trải dài qua 13 vĩ tuyến theo hướng Bắc - Nam với khoảng
3260 km bờ biển và 2.700 đảo lớn nhỏ. Các hệ sinh thái nhiệt đới điển hình
như rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển phân bố rộng ở vùng ven biển
và các đảo xa. Biển Việt Nam còn được coi là nơi có thành phần loài sinh vật
khá cao, cung cấp nhiều nguồn lợi đáng kể. Nghề cá ở nước ta mang tính đa
loài, giá trị các loài khác nhau nhiều. Ngoài nghề cá truyền thống, nhiều
nguồn lợi mới mang lại lợi ích lớn. Biển và vùng ven biển nước ta còn cho
một tiềm năng lớn về du lịch. Cảnh quan trên bờ và dưới nước ở vịnh Hạ
long, Nha Trang, đang thu hút du khách từ bốn phương. Nguồn lợi biển đã
và đang được sử dụng với cường độ ngày càng cao. Cùng với quá trình tăng

15
trưởng kinh tế, hoạt động của con người đã gây ra nhiều tác động đối với tài
nguyên và môi trường biển. Có thể kể đến một số tác động chính sau đây:
Khai thác quá mức: Nhờ các cải tiến về phương pháp đánh bắt và tăng số
lượng, công suất tàu thuyền, sản lượng khai thác mỗi năm tăng. Tuy vậy, hiệu

Tính đa dạng sinh học và nguồn lợi biển nước ta đang chịu những tác
động có hại. Vì vậy, vấn đề bảo tồn thiên nhiên và sử dụng lâu bền đang được
các nhà quản lý, khoa học và cộng đồng quan tâm. Luật bảo vệ môi trường
đặc biệt nhấn mạnh đến bảo tồn các hệ sinh thái và nghiêm cấm các hoạt động
gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Trên thực tế, các luật lệ có hiệu lực rất
thấp và tài nguyên biển đang suy giảm nghiêm trọng, các hệ sinh thái ven bờ
tiếp tục bị huỷ diệt. Trong tình hình đó việc thiết lập các KBTB bao gồm các
hệ sinh thái tiêu biểu với tính đa dạng sinh học cao là hết sức cần thiết nhằm
giữ gìn một phần các quần thể sinh vật nguồn lợi và bảo tồn một phần các hệ
sinh thái. KBTB là một phương thức hiệu quả, ít tốn kém để duy trì và quản
lý nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ đa dạng sinh học và và đáp ứng nhu cầu sinh kế
của con người. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, mật độ sinh vật trong các
khu bảo tồn biển tăng gấp đôi sau một thời gian thiết lập (thường là 5 năm),
cung cấp ấu trùng và bổ sung hải sản non vào vùng biển xung quanh nhờ các
dòng hải lưu. Hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái cỏ biển và hệ sinh thái rừng
ngập mặn cũng sẽ được khôi phục. Do vậy, nguồn lợi thuỷ sản không bị sụt
giảm, dẫn đến tăng năng suất nghề cá. Ngoài ra, KBTB còn có sức hấp dẫn
đối với du khách, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái,
nghiên cứu khoa học và giáo dục cộng đồng.
1.1.4. Một số trở ngại khi triển khai KBTB
Việt Nam là một nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng nhanh (GDP
tăng 8 -9%/năm), phát triển kinh tế đang là ưu tiên của Chính phủ và cộng
đồng. Đồng thời với mức sống được nâng cao, sức ép đối với tài nguyên và
môi trường cũng gia tăng. Là một quốc gia biển với 70% dân cư sống ở vùng
ven biển và các châu thổ, hoạt động kinh tế chủ yếu tập trung ở vùng ven biển
và trên biển. Các khu vực đề xuất bảo tồn biển đang đứng trước các mối đe
doạ với mức độ khác nhau. Tác động lớn nhất gây ra bởi khai thác nguồn lợi
và du lịch biển thiếu kiểm soát. Tuy nhiên, điều đáng buồn là nhiều hành

17


18
cộng đồng ngư dân nghèo cũng là một vấn đề bức xúc của hoạt động bảo tồn
biển. Các dự án bảo tồn chỉ có thể đóng góp bằng những hoạt động trong
khuôn khổ bảo tồn biển. Trong đó, việc làm giàu nguồn lợi tự nhiên nếu quản
lý tốt sẽ làm tăng nguồn thu nhập cho cộng đồng thông qua khai thác hợp lý.
Những hổ trợ trực tiếp chỉ có thể đối với số ít ngư dân nghèo chịu ảnh hưởng
do quy hoạch vùng không đánh bắt trong khu bảo tồn. Mặc dù việc thiết lập
các KBTB đã được đề xuất vài năm trước đây, khả năng hiện thực hoá bị hạn
chế do thiếu một cơ quan điều hành thống nhất cấp trung ương và chính sách
quốc gia về bảo tồn thiên nhiên biển. Sự quan tâm riêng lẻ của các bộ, ngành,
địa phương khó có thể dẫn đến thành công nếu không muốn nói là còn có tác
dụng ngược lại. Một thách thức lớn là phải duy trì, quản lý và cải tạo những
sinh cảnh quan trọng về đa dạng sinh học có vai trò chủ đạo đối với kinh tế
địa phương và quốc gia, đặc biệt là những khu bảo tồn quan trọng cả về bảo
tồn đa dạng sinh học cũng như đối với các cộng đồng ven biển mà phúc lợi và
nguồn kiếm sống của họ phụ thuộc vào một môi trường biển và ven biển. Đầu
tư vào hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam có thể và nên được coi
là những bước quan trọng để bảo đảm sự ổn định kinh tế tại miền duyên hải
và là chất xúc tác cho những hoạt động cải thiện hơn nữa chất lượng môi
trường, đồng thời tạo ra một cộng đồng bảo tồn và một công chúng được
thông tin tốt hơn và ủng hộ hoạt động bảo tồn thiên nhiên.
Như vậy, để hình thành hệ thống các KBTB ở Việt Nam còn rất nhiều
việc phải làm và sẽ gặp không ít trở ngại. Theo các chuyên gia bảo tồn biển
quốc tế, thực trạng ở nước ta hiện nay tương tự với Australia cách đây 20 năm
hay với Indonesia 5-10 năm trước. Với nỗ lực của ngành thủy sản và phối hợp
đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức quốc tế, các cộng đồng ven
biển, hy vọng rằng việc thiết lập hệ thống bảo tồn biển và ven bờ sẽ được
triển khai có hiệu quả, góp phần vào việc bảo vệ và duy trì bền vững nguồn
lợi thủy sản của nước ta.

khu. Khoảng 46% số KBTB không được quản lý hoặc quản lý lỏng lẻo, 28%
được quản lý dưới mức trung bình, còn số khu được quản lý tốt chỉ đếm trên

20
đầu ngón tay. Nếu so sánh với bảo tồn thiên nhiên trên đất liền thì vấn đề bảo
tồn biển còn rất chậm. Hơn nữa, diện tích biển gấp khoảng 2,5 lần tổng diện
tích đất liền của thế giới, nhưng cho đến nay mới chỉ khoảng 1 % diện tích
biển là các khu bảo tồn biển được thiết lập (Salm & Clark, 2003).
1.2.1.2. Tình hình nghiên cứu và thiết lập các khu bảo tồn biển ở Việt Nam
Việt Nam có 29 tỉnh ven biển với hơn 3260 km đường bờ biển với hơn
3000 đảo, vùng biển rộng khoảng 1triệu km², Việt Nam có 125 huyện có vị
trí ven biển với khoảng 81.500 hộ dân tương đương với 17 triệu người, chiếm
17% diện tích cả nước. Vấn đề thiết lập các KBTB đã được đề cập từ những
năm 1980 trong khuôn khổ của chương trình biển Nhà nước với các đề xuất
hình thành các KBTB ở Côn Đảo, Cát Bà và Sinh Tồn. Trong thời kỳ 1992-
1994, với sự hỗ trợ của WWF và Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Quốc gia, Viện Hải dương học đã tiến hành các nghiên cứu về tính đa dạng
sinh học, hiện trạng sử dụng nguồn lợi và tiềm năng bảo tồn thiên nhiên ở một
số vùng và đề xuất 7 khu vực ưu tiên để thiết lập KBTB. Tất cả các khu vực
đề xuất đều lấy rạn san hô làm trọng tâm vì tầm quan trọng của chúng về tài
nguyên và môi trường. Bên cạnh đó, nhiều khu rừng ngập mặn đã được qui
hoạch trong hệ thống bảo tồn rừng thuộc sự quản lý của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn (Nguyễn Chu Hồi, 2000). Bộ Khoa học Công nghệ &
Môi trường (nay là Bộ TN&MT) và Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng
(1998-1999) đã nghiên cứu cơ sở khoa học qui hoạch hệ thống KBTB Việt
Nam với một danh mục 15 KBTB. Cho đến năm 1999, hệ thống gồm 15
KBTB này đã được đề nghị và trình Chính Phủ phê duyệt. Đó là:

thử nghiệm. Sau 5 năm hoạt động, KBT Hòn Mun đã được các chuyên gia
của Bộ Thuỷ sản, Chính phủ Đan Mạch, Ngân hàng Thế giới, WWF và IUCN
đánh giá là một mô hình khá thành công và đạt được những hiệu quả tốt về
bảo tồn biển, đây là một minh chứng khả thi cho việc thiết lập và quản lý các
KBTB ở Việt Nam. Đến năm 2003-2004, Viện Nghiên cứu Hải sản phối hợp
với Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng tiến hành khảo sát, nghiên cứu bổ
Danh sách các điểm được đề xuất thành KBTB:
- Đảo Trần, đảo Cô Tô (Quảng Ninh)
- Đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng)
- Hòn Mê (Thanh Hoá)
- Đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị)
- Sơn Trà - Hải Vân (Thừa Thiên Huế)
- Cù Lao Chàm (Quảng Nam)
- Đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)
- Hòn Mun, Nam Yết (Khánh Hoà)
- Hòn Cau, Đảo Phú Quý (Bình Thuận)
- Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu)
- Phú Quốc (Kiên Giang)

22
sung cơ sở khoa học cho việc quy hoạch và quản lý hai KBTB Cát Bà và Cô
Tô. Nội dung chủ yếu là khảo sát đa dạng sinh học, rạn san hô, thảm rong cỏ
biển, hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái vùng triều. Kết quả nghiên
cứu đã xây dựng quy hoạch và đề xuất kế hoạch quản lý tài nguyên trong
KBTB Cát Bà và Cô Tô. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp liên quan
đến những khiếm khuyết lớn trong hệ thống khu bảo tồn hiện nay. Ngoại trừ
một vài KBT có kế hoạch quản lý thì Việt Nam vẫn còn thiếu một chương
trình dành cho các KBTB và ven biển.
1.2.2. Các mô hình quản lý KBTB
Hiện nay ở Việt Nam mô hình quản lý KBTB chủ yếu là mô hình quản

quan chức năng của địa phương xây dựng các dự án thiết lập, kế hoạch quản
lý và quy chế quản lý các KBTB được phân cấp. Tổ chức quản lý các KBTB
được phân cấp; hướng dẫn các Ban quản lý KBTB xây dựng quy chế, nội quy
cụ thể để quản lý các KBTB: chịu trách nhiệm quản lý một số vườn quốc gia
và các khu bảo tồn thiên nhiên.
- Nhà tài trợ thường là các tổ chức phi chính phủ (NGOs): Họ có thể là những
nhà tài trợ, nhà tư vấn cho quá trình thiết lập quản lý KBTB hoặc là người xây
dựng nên những mô hình sinh kế bền vững cho người dân địa phương.
- Cộng đồng người dân: Càng ngày người ta càng nhận ra tầm quan trọng của
người dân địa phương trong việc thiết lập quản lý KBTB. Họ là những người
bị ảnh hưởng trực tiếp do việc bảo tồn đồng thời các hoạt động sinh kế hàng
ngày của họ cũng tác động ngược lại tới công tác bảo tồn. Do đó, để việc bảo
tồn đạt hiệu quả thì cần phải phối hợp Nhà nước và nhân dân cùng làm. Nghị
định số 57/2008/NĐ-CP đã nêu rõ vai trò của cộng đồng trong quá trình xây
dựng và quản lý các KBTB đó là:
 Công tác truyền thông, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ và bảo
tồn đa dạng sinh học;
 Quan trắc, tuần tra và bảo vệ KBTB;
 Nghiên cứu khoa học và đào tạo trong KBTB;
 Dịch vụ du lịch sinh thái trong các KBTB.
Các hoạt động trên phải tuân thủ các quy định của pháp luật và nội quy
của Ban quản lý KBTB.

24
Có thể tóm tắt mô hình quản lý từ trên xuống trong sơ đồ sau:
thể thao&
du l
ịch

KBTB
Sở văn hóa, thể
thao&du lịch
Sở TN&MT
Sở
NN&PTNT+
Sở thủy sản
Sở KH&ĐT
UBND tỉnh
Mối liên hệ hành chính.

M
ối li
ên h
ệ kỹ thuật.

Nhà tài trợ
(NGO)

Cộng đồng
người dân

25
1.2.2.2. Mô hình do cộng đồng địa phương quản lý
Đây còn được gọi là mô hình từ dưới lên (bottom up modelling). Điểm
xuất phát của mô hình là từ phía cộng đồng địa phương bao gồm UBND


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status