Khảo sát thuật ngữ kinh tế trong Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam và sự chuyển dịch tương ứng sang tiếng Anh (từ văn kiện Đại Hội IX - X - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN NGỌC TOÀN KHẢO SÁT THUẬT NGỮ KINH TẾ TRONG VĂN
KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ SỰ
CHUYỂN DỊCH TƯƠNG ỨNG SANG TIẾNG ANH
( TỪ VĂN KIỆN ĐẠI HỘI IX- X)
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, tháng 04 năm 2010

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
XHCN Xã hội chủ nghĩa
ĐH Đại hội
KT Kinh tế
HTN Hệ thuật ngữ
HTN KT Hệ thuật ngữ kinh tế
TA tiếng Anh
TV tiếng Việt ii

MỤC LỤC

Bảng kí hiệu các chữ viết tắt

Mục lục

MỞ ĐẦU

15
1.5.3. Các công trình nghiên cứu gần đây
16
Tiểu kết chương 1
17
Chương 2: Phân tích đặc điểm thuật ngữ kinh tế tiếngViệt trên văn
kiện Đảng CSVN
18
2.1. Cấu tạo từ
18
2.1.1. Khái niệm từ
18
2.1.2 Vai trò của phân tích cấu tạo từ
18
2.1.3 Đơn vị cấu tạo từ
19
2.1.4 Phương thức cấu tạo từ
19

iii
2.1.5 Các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt
19
2.1.5.1 Từ đơn
20
2.1.5.2 Từ ghép
20
2.1.5.2.1 Từ ghép đẳng lập
20
2.1.5.2.2 Từ ghép chính phụ
22

2.4.3 Các thuật ngữ về kinh tế-quốc tế
36
2.4.4 Các thuật ngữ về kinh tế- kế hoạch- đầu tư
36
2.4.5 Các thuật ngữ về tài chính- ngân hàng- tín dụng- vốn
36
2.4.6 Các thuật ngữ về nông nghiệp- công nghiệp- du lịch- dịch vụ
37
2.4.7 Các thuật ngữ về quản trị- kinh doanh- thương mại
37
2.4.8 Các thuật ngữ về nhân lực- lao động
38
Tiểu kết chương 2
38
Chương 3: Cách chuyển dịch thuật ngữ kinh tế trên văn kiện Đảng
CSVN
40
3.1. Khái niệm dịch thuật
40
3.2. Dịch thuật và các vấn đề chuyển dịch thuật ngữ
40
3.2.1 Chuyển dịch thuật ngữ kinh tế trong văn kiện Đảng
43
3.3 Quan niệm tương đương dịch thuật
44

iv
3.4 Khả năng dịch tương đương các thuật ngữ kinh tế tiếng Việt sang
tiếng Anh
46

Danh mục tài liệu tham khảo
71
Phụ lục
81 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ trước đến nay nói đến KHXH&NV Việt Nam, từ sự hình thành
đến sự phát triển sau này luôn luôn không tách rời sự lãnh đạo của Đảng.
Quả thật thuật ngữ KHXH&NV ở Việt Nam (chữ quốc ngữ) bắt đầu xuất
hiện từ đầu thế kỉ XX, đầu tiên trên văn bản Đông Kinh Nghĩa Thục, Tân
thư, Tân văn, phong trào Duy Tân, rồi trên các báo Đông dương tạp chí
1913, Nam Phong tạp chí 1917 rồi đến văn kiện tiền thân của Đảng, rồi
đến văn kiện chính thức của Đảng. Thuật ngữ ra đời sớm nhưng thuật
ngữ kinh tế rất lâu sau đó mới xuất hiện. Tác phẩm Đường Kách Mệnh
mới định nghĩa thế nào là tư bản, thế nào là kinh tế tư bản rồi văn kiện
Đảng mới giải thích các định nghĩa về kinh tế. Ngày nay nước ta đang
trên đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) dưới sự
lãnh đạo của một chính Đảng duy nhất, do đó nói đến KHXH&NV là nói
đến lập trường quan điểm của Đảng. Chính vì vậy mà khi tìm hiểu về
KHXH&NV thì không thể không chú ý tới văn kiện Đảng. Phải nói rằng
văn kiện Đảng là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của KHXH&NV
nước nhà mà thuật ngữ kinh tế- chính trị-xã hội trong đó là nơi tập trung
thể hiện nội dung đường lối quan điểm của Đảng.
Từ khi Đảng thực hiện chính sách đổi mới (năm 1986) đã tạo ra
những bước phát triển toàn diện nhưng trong đó bước phát triển thể hiện
rõ nhất và quan trọng nhất là về kinh tế. Cũng trong bối cảnh như vậy, hệ
thuật ngữ (HTN) khoa học xã hội (KHXH) và kinh tế (KT) biến đổi rất

theo là phân theo những tiểu ngành trong kinh tế, phân tích đặc điểm cấu
tạo, nội dung của thuật ngữ. Cuối cùng tìm cách chuyển dịch sang tiếng
Anh và nêu những nguyên tắc, cách thức chuyển dịch để đảm bảo tính
chính xác chuyển tải được thực chất nội dung trong Văn kiện Đảng.
2.2 Mục đích nghiên cứu

3
Mục đích cuối cùng là hiểu được một cách chính xác thuật ngữ
kinh tế dùng trong Văn kiện Đảng, từ đó có thể chuyển dịch chính xác
sang tiếng Anh. Và hơn thế nữa, trong một giới hạn cho phép khái quát
nêu thành những nguyên tắc dịch trong Văn kiện khác trong văn bản
thường, văn bản báo chí. Rút ra những bài học cần thiết khi làm việc với
hệ thuật ngữ này.
3. Tƣ liệu
* Nguồn tư liệu và ngữ liệu chính là những xuất bản phẩm chính
thức. Đó là các văn bản chính thức của Đảng, những văn kiện đã xuất
bản. Tiếp theo là các ấn phẩm giải thích về văn kiện Đảng bằng tiếng
Việt của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia cũng như các nhà xuất bản
khác. Những bài nói chuyện, những giải thích của các nhà lãnh đạo quản
lí trong vận dụng thực hiện nghị quyết của Đảng. Những ngữ liệu các bộ
ngành liên quan dịch, công bố chính thức ra tiếng Anh.
* Các văn kiện Đảng bằng tiếng Việt, tiếng Anh trên trang web
chính thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam: dangcongsan.vn
* Từ điển kinh tế thương mại Anh- Việt, Việt- Anh
* Các bài báo, các bài viết về kinh tế được viết và dịch trên các
trang web chính thức của Nhà nước.
4. Phƣơng pháp
Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi vận dụng những
phương pháp phổ biến trong nghiên cứu ngôn ngữ học áp dụng cho lĩnh
vực phân tích từ vựng- ngữ nghĩa như phân tích cấu trúc từ, phân tích


5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CHO VIỆC KHẢO SÁT THUẬT NGỮ
KINH TẾ TRONG VĂN KIỆN ĐẢNG CSVN
1. 1 Khái niệm thuật ngữ
1.1.1 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học thế giới khi bàn về thuật
ngữ và ngôn ngữ chuyên ngành
Ngày nay trong tài liệu ngôn ngữ học đã có rất nhiều cách hiểu,
cách định nghĩa về thuật ngữ. Thật khó liệt kê ra hết những cách hiểu đó.
Dưới đây chúng tôi chỉ lấy ra vài định nghĩa tiêu biểu trong và ngoài
nước làm cơ sở cho nghiên cứu.
M.A.K.Halliday đại diện cho giới ngôn ngữ học Anh những năm 60 đã
từng có quan điểm như sau “ đặc trưng của ngôn ngữ chuyên ngành
không phải là các thành tố ngữ pháp mà chính là các đơn vị từ vựng”
[23, tr 21]
Theo cuốn Đại từ điển tiếng Đức Langenscheidts “ Ngôn ngữ
chuyên ngành là tất cả những diễn đạt chuyên môn và chuyên biệt được
sử dụng trong một chuyên ngành nhất định (hoặc một nghề nhất định) và
đối với những người không thông thạo chuyên môn thì những khái niệm
đó rất khó hiểu hoặc không hiểu được” [1, tr.18]
A.X Gerd, một trong các nhà ngôn ngữ học Xô Viết định nghĩa
như sau: “Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng- ngữ nghĩa có chức năng
định danh và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như
tính hệ thống, tính đơn nghĩa; ở thuật ngữ không có hiện tượng đồng
nghĩa hay đồng âm trong phạm vi của một khoa học hay một lĩnh vực tri
thức cụ thể” [25, tr.19]
Một số định nghĩa về thuật ngữ khoa học bằng tiếng Anh được đăng tải
trên một số trang web.
 Thuật ngữ là một từ hoặc ngữ có nghĩa chính xác trong một số ngữ

đã khoanh vùng cho các khái niệm mà lớp từ vựng này phục vụ:

7
“Thuật ngữ là bộ phận ngôn ngữ (từ vựng) biểu đạt các khái niệm
khoa học, là thuộc tính của khoa học, kĩ thuật, chính trị, tức là những
lĩnh vực của xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ” [21, tr. 57]
Nguyễn Văn Tu lại cho rằng: “ Thuật ngữ là từ và cụm từ cố định
để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất
hay ngành văn hóa nào đó,.v v Đặc điểm của thuật ngữ là từ chỉ có một
nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có
tính chất quốc tế (tùy từng ngành)” [28, tr.114]. Trong định nghĩa này
Nguyễn Văn Tu đã có quan điểm gần như thống nhất với các nhà ngôn
ngữ học Âu-Mỹ về bản chất và đặc điểm của thuật ngữ.
Vũ Quang Hào […, tr.124,125] lại tiếp cận thuật ngữ về phương
diện ngữ nghĩa. Theo ông, trong tiếng Việt, bản thân hai chữ “thuật ngữ”
phải được hiểu theo bốn nghĩa:
“Thuật ngữ” được hiểu là nội dung của khái niệm khoa học (nội
hàm khái niệm). Theo nghĩa này, thuật ngữ là đơn vị cơ bản của mỗi
khoa học chuyên ngành.
“Thuật ngữ” được hiểu là hình thức ngôn ngữ, là cái vỏ, là tên
gọi của một khái niệm khoa học. Theo nghĩa này, thuật ngữ - tên gọi là
đơn vị cơ bản trong vốn từ của ngôn ngữ khoa học
“Thuật ngữ” được hiểu là toàn bộ khái niệm trong một khoa học,
một lĩnh vực. Theo nghĩa này, toàn bộ thuật ngữ - khái niệm làm thành
hệ thuật ngữ - khái niệm của một khoa học.
“Thuật ngữ” được hiểu là toàn bộ tên gọi trong một khoa học.
Theo nghĩa này , toàn bộ thuật ngữ - tên gọi làm thành hệ thuật ngữ -
tên gọi của một khoa học. Tình trạng của hệ thuật ngữ - tên gọi phản
ánh tình trạng ứng dụng lý luận ngôn ngữ học vào việc giải quyết những
vấn đề của hình thức ngôn ngữ trong một khoa học.

thực tế là đối với những chuyên ngành, những lĩnh vực càng được xã hội
quan tâm và phát triển thì hệ thống thuật ngữ của chuyên ngành ấy càng
hoàn chỉnh và đến lượt nó sẽ quay lại làm tiền đề thúc đẩy cho chính
ngành khoa học đó phát triển lên một bậc cao hơn.

9
Ở Việt Nam hiện nay, số lượng các thuật ngữ ngày càng nhiều và
đang được hoàn thiện dần, nhưng bên cạnh đó lại tồn tại một số bất cập.
Ví dụ, có những khái niệm được biểu thị bằng hơn một thuật ngữ. Thí
dụ: Lũ - lũ lớn - hồng thuỷ; phi cơ trực thăng – máy bay lên thẳng, tàu
hỏa- xe lửa Ngay cả cách phiên âm thuật ngữ Ấn Âu ở nước ta cũng
không thống nhất. Thí dụ: Cùng một thuật ngữ tiếng Anh acid nhưng
sang Việt Nam lại được viết thành axít, a-xít Sở dĩ có điều này là vì
các thuật ngữ của nước ta chưa được đặt trong một hệ thống quy chuẩn
chặt chẽ, ít nhiều đâu đó vẫn còn mang tính nôm na. Điều này gây không
ít khó khăn cho người nghiên cứu.
Bởi vậy hơn bao giờ hết chúng ta đang rất cần một đội ngũ các
chuyên gia nghiên cứu thuật ngữ học, rất cần những sự quan tâm thích
đáng trong việc nghiên cứu thuật ngữ, xây dựng và tiêu chuẩn hoá các hệ
thống thuật ngữ thuộc các ngành khoa học ở nước ta. Đây quả thực là
một vấn đề cấp thiết vì Việt Nam đang cần những hệ thống thuật ngữ
chuẩn xác, khắc phục những nhược điểm như đã nêu trên.
1.3. Đặc điểm thuật ngữ theo quan điểm của giới Việt ngữ học
Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam nói chung và các nhà Việt ngữ
học nói riêng cũng đã đưa ra rất nhiều ý kiến về những vấn đề, những
yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ và đặc điểm của thuật ngữ. Trong đó có
một quan điểm được các nhà Việt ngữ học thống nhất là: Xây dựng thuật
ngữ khoa học cho dân tộc mình, chúng ta nên dựa vào phương châm
khoa học, dân tộc, đại chúng. Bởi vậy, đặt thuật ngữ cần phải xét đến
những tiêu chuẩn sau:

Ví dụ 2
Trong tiếng Anh, từ “call” phải tùy từng ngữ cảnh, từng lĩnh vực
chuyên môn mà dịch thì mới chính xác được. Ví dụ:
Phone call: cuộc gọi bằng điện thoại (thông dụng)
Call goods: hàng không có sẵn: muốn có phải gọi điện thoại đặt
hàng (thương mại)
Call loan: tiền vay không kì hạn: số tiền vay phải trả ngay khi bị
đòi hay yêu cầu ( tài chính)

11
Vậy nên muốn giải thích đúng nội dung của thuật ngữ, ta phải có
sự hiểu biết tường tận về ngành khoa học có thuật ngữ đó và phải biết ta
đang dịch nghĩa cho ngành khoa học nào. Sử dụng chính xác thuật ngữ
không dễ dàng gì đối với những người không có chuyên môn. Muốn làm
tốt được điều này, đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ với những nhà chuyên
môn thuộc lĩnh vực đó.
Tính hệ thống
Thuật ngữ là một bộ phận của từ vựng, nên bắt buộc phải mang
tính hệ thống. Nói đến tính hệ thống của thuật ngữ khoa học kĩ thuật tức
là đề cập tới cả hai góc độ nội dung và hình thức. Nói cách khác là hệ
thống khái niệm và hệ thống kí hiệu. Hơn nữa, mỗi lĩnh vực khoa học
đều có một hệ thống các khái niệm chặt chẽ mà mỗi thuật ngữ lại biểu
thị một khái niệm, đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn của ngành khoa
học nên nó phải tuân theo hệ thống. Đề cập đến vấn đề này, Lưu Vân
Lăng đã khẳng định “ yêu cầu thuật ngữ khoa học phải được thống
nhất là nói đến cách biểu đạt thống nhất một khái niệm nhất định trong
một lĩnh vực chuyên môn nhất định”.[21, tr. 65]. Từ những vấn đề đặt ra
nên khi xây dựng một thuật ngữ hay thực hiện một sự chuyển dịch một
thuật ngữ từ tiếng nước ngoài vào tiếng Việt, chúng ta cần đặc biệt chú ý
đến tính hệ thống của thuật ngữ để tạo thuận lợi cho những người làm

một thuật ngữ mới thì thuật ngữ đó cần đảm bảo được tính hệ thống để
thuận lợi cho người học và người sử dụng thuật ngữ.
Tính quốc tế
Ngoài đặc điểm chính xác và tuân theo một hệ thống nhất định,
thuật ngữ còn mang tính quốc tế. Tính quốc tế là một vấn đề đang được
tranh luận nhiều trong giới ngôn ngữ học và thuật ngữ học, bởi vì khái
niệm khoa học của thuật ngữ mang tính phổ niệm, tính quốc tế vì nó là
tài sản chung của toàn nhân loại nhưng ngôn ngữ lại mang tính dân tộc.
Trong khi đó, hầu hết tất cả các thuật ngữ đều là của nước ngoài nên khi
được chuyển dịch hoặc phiên âm vào tiếng Việt thì phải làm sao để vừa
đảm bảo tính khoa học, tính quốc tế nhưng vẫn phải mang tính dân tộc.
Đây là một bài toán rất khó giải cho các nhà Việt ngữ học cũng như các
dịch giả thuật ngữ Việt Nam. Thông thường, nói tới tính quốc tế của
thuật ngữ người ta thường chú ý tới hình thức cấu tạo của nó về mặt âm,
mặt nghĩa. Nhưng thực tế, quan trọng hơn, nó còn thể hiện ở mặt hình
thái bên trong của nó (có nghĩa là cách chọn đặc trưng của sự vật, khái
niệm làm cơ sở định dạng cho việc đặt thuật ngữ. Và theo như Lê Hoài
Ân “ tính quốc tế của thuật ngữ chính là sự giống nhau, gần nhau ở mặt

13
âm, mặt chữ của thuật ngữ và có các đặc trưng hình thái bên trong của
khái niệm định danh cho thuật ngữ” [1, tr. 35]. Ví dụ:
Tiếng Anh: Economic planning
Kinh tế việc lập kế hoạch
Tiếng Việt: Hoạch định kinh tế
Tiếng Đức: Ausfuhr vertrag
Xuất khẩu hợp đồng
Tiếng Anh: Export contract
Xuất khẩu hợp đồng
Tiếng Việt: Hợp đồng xuất khẩu

chuẩn. Thuật ngữ khoa học Việt nam trước tiên phải thỏa mãn các tiêu
chuẩn chung về thuật ngữ như đã nêu trên, sau đó phải có màu sắc dân
tộc, đảm bảo tính khoa học, tính đại chúng (ngắn gọn và dễ dùng). Muốn
đảm bảo được mức độ chính xác thì khi đặt một hệ thống thuật ngữ,
trong cùng một lĩnh vực chuyên môn, nên tránh các hiện tượng đồng âm,
đồng nghĩa (những hiện tượng ngày nay thường thấy trong ngôn ngữ),
muốn thế thuật ngữ khoa học phải cố gắng tiến tới nguyên tắc: mỗi khái
niệm có một thuật ngữ và mỗi thuật ngữ chỉ có một khái niệm [12 tr.41].
Theo các nhà khoa học, tính chính xác là đặc điểm quan trọng nhất, cơ
bản nhất trong các đặc điểm của thuật ngữ.
Để đảm bảo màu sắc dân tộc và tính đại chúng của các thuật ngữ,
các nhà khoa học đều đi đến thống nhất: trước hết phải tận dụng kho
tàng từ vựng của tiếng Việt, đó là những từ mà mọi người dân thường
dùng. Điều này vừa bảo vệ, phát triển được ngôn ngữ dân tộc vừa hạn
chế các yếu tố ngoại lai không cần thiết khiến cho một số thuật ngữ trở
nên xa lạ và khó hiểu đối với người sử dụng. Điều này đã sớm được
khẳng định bởi Lưu Vân Lăng: “Thuật ngữ dù là thuộc lĩnh vực khoa
học, chuyên môn nào, cũng nhất thiết phải là một bộ phận của từ ngữ
dân tộc. Do đó thuật ngữ phải có tính dân tộc và phải mang màu sắc
ngôn ngữ dân tộc.[22 tr. 28]
Bảo đảm tính chất ngôn ngữ dân tộc của thuật ngữ là góp phần
xây dựng tính đại chúng của thuật ngữ. Khoa học kĩ thuật không thể tách

15
rời quần chúng, tách rời người sử dụng, nhất là trong thời đại mà nền
kinh tế tri thức đang được tiếp nhận trên phạm vi toàn cầu. Khoa học
công nghệ phải thực sự xâm nhập sâu rộng vào quần chúng. Muốn vậy
thuật ngữ không thể là những từ, ngữ cao siêu, xa lạ với quần chúng, chỉ
dành riêng cho các nhà chuyên môn mà phải dễ dùng đối với đông đảo
quần chúng. Như vậy, thuật ngữ phải được hình thành từ ngôn ngữ phổ

trong quá trình phát triển và hiện đại hóa đất nước. Chưa bao giờ trong
lịch sử ngành khoa học kinh tế được quan tâm và phát triển như ngày
nay. Trong đó, đi đầu trong việc hoàn thiện, chuẩn hóa hệ thống cơ sở lí
luận khoa học về kinh tế là việc hoàn thiện và chuẩn hóa hệ thống thuật
ngữ kinh tế với đầy đủ những tiêu chí: chính xác, khoa học, đầy đủ, hệ
thống, quốc tế, cập nhật
1.5.2 Các công trình nghiên cứu gần đây
Bên cạnh các hướng nghiên cứu về thuật ngữ như nêu trên, gần
đây tại Việt Nam đã có một số đáng kể luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
nghiên cứu về thuật ngữ. Điều này chứng tỏ vấn đề thuật ngữ, nghiên
cứu và xây dựng thuật ngữ đã và đang càng ngày càng được quan tâm.
Ví dụ:
- Thuật ngữ kinh tế thương mại Nhật- Việt (tác giả Nguyễn Thị
Bích Hà, luận án tiến sĩ 2000)
- Thuật ngữ điện tử Anh- Việt (tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh,
luận văn thạc sĩ 2000)
- Thuật ngữ thương mại Anh- Việt (tác giả Vũ Thị Bích Hà, luận
văn thạc sĩ 2003)
- Thuật ngữ kiểm toán tiếng Đức (tác giả Lê Hoài Ân, luận văn
thạc sĩ năm 2003)
- Thuật ngữ khí tượng thủy văn tiếng Anh (tác giả Đoàn Thúy
Quỳnh, luận văn thạc sỹ năm 2007) 17

Tiểu kết

CHƢƠNG 2
PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM THUẬT NGỮ KINH TẾ
TIẾNG VIỆT TRÊN VĂN KIỆN ĐẢNG CSVN
2.1 Cấu tạo từ
2.1.1 Khái niệm từ:
“Hiện nay có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ. Nói chung
không có định nghĩa nào về từ làm mọi người thỏa mãn. Với tư cách là
định nghĩa sơ bộ, có tính chất giả thiết để làm việc, có thể chấp nhận
định nghĩa từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý
nghĩa và hình thức.” [12, tr. 61]
2.1.2 Vai trò của phân tích cấu tạo từ
Trong bất kì một ngôn ngữ nào cũng vậy, trước khi tiến hành
nghiên cứu từ hay các vấn đề liên quan đến từ thì phân tích cấu tạo từ
phải là một trong những công việc mang tính tiền đề bởi vì nó mang tính
cơ sở nhất, nền móng nhất. Trong việc nghiên cứu ngôn ngữ nói chung
và nghiên cứu thuật ngữ nói riêng, việc phân tích cấu tạo từ giúp làm
sáng rõ bản chất cấu trúc của từ, từ đó giúp ta nghiên cứu, hiểu rõ và có
thể giải quyết một loạt các vấn đề liên quan đến từ như vấn đề ngữ
nghĩa, ngữ dụng của từ, vấn đề từ loại, vấn đề lịch sử, vấn đề về các biến
thể, các trường nghĩa, ngữ âm
Trong phạm vi luận văn của chúng tôi, chúng tôi dành một phần
lớn thời gian và sự quan tâm để nghiên cứu thật kĩ đặc điểm cấu trúc của
thuật ngữ. Bởi hơn ai hết chúng tôi ý thức được rằng đặc điểm cấu trúc
của thuật ngữ là biểu hiện bề ngoài, bề nổi của mọi cấu trúc chìm bên
trong; và một khi làm sáng rõ được cấu trúc của thuật ngữ thì chúng tôi
có thể trong một phạm vi nào đó, nghiên cứu sâu hơn để làm sáng tỏ quá
trình hình thành của thuật ngữ, các vấn đề nguồn gốc lịch sử, các vấn đề
về phương thức cấu tạo, các vấn đề về từ loại, các vấn đề về ngữ nghĩa,
các vấn đề về ngữ dụng và các vấn đề về so sánh đối chiếu, chuyển dịch
thuật ngữ.

đen”
2.1.5 Các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt

Trích đoạn Sử dụng phiên âm thuật ngữ khi chuyển dịch Giữ nguyên dạng khi chuyển dịch Thay thế toàn bộ khi chuyển dịch (chỉ dịch ý chứ không dịch nghĩa của từ ngữ) Sử dụng khái niệm tƣơng đƣơng trong tiếng Việt Chuyển dịch các thuật ngữ kinh tế đặc trƣng trong văn kiện Đảng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status