NIÊN LUẬN HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ NAM BỘ TRONG TÁC PHẨM NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG CỦA NGUYỄN THI - Pdf 13

MỤC LỤC
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Như một nguồn mạch dạt dào bất tận, như một dòng chảy mạnh mẽ không
ngừng. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã đi vào văn học một cách hết sức tự
nhiên và rồi cứ thế nó xuất hiện xuyên suốt trên hầu khắp các trang viết từ xưa cho
đến nay. Đáng quý biết bao người phụ nữ trong truyện cổ tích, ca dao với những
phẩm chất cao quý. Đáng trân trọng biết bao người phụ nữ trong văn học trung đại
dù trải qua nhiều bất hạnh nhưng vẫn giử tấm lòng son sắt, để rồi qua bao thăng
trầm của lịch sử cùng những thay đổi của thời gian người phụ nữ Việt Nam hiện lên
trong văn học hiện đại ghi lại dấu ấn của hai cuộc chiến tranh chống pháp và mĩ.
Người phụ nữ tượng trưng cho cái đẹp, là người sinh ra dành cho gia đình,
người bà, người mẹ, người vợ hay người chị… Người phụ nữ được ví như cành liễu
biểu tượng của sự mỏng manh, yếu đuối cần được sự che chở nhưng bên cạnh sự
yếu đuối đó lại có những cành liễu vô cùng rắn chắc vượt lên chống trọi với số phận
nghiệt ngã, hướng về lý tưởng của mình, họ sẵn sàng vứt bỏ tình riêng để hướng tới
cái chung. Làm sao ta quên được từ ngàn năm trước đã có người phụ nữ như thế,
Trưng Trắc, Trưng Nhị hay đến sau này trong lịch sử Việt Nam không thiếu tên
những người nữ anh hùng như thế Võ Thị Sáu, Lê Thị Riêng, Nguyễn Thị Minh
Khai … Tất cả họ đã hi sinh anh dũng trên chiến trường. Tất cả những đều trên cho
ta thấy người phụ nữ Việt Nam sẵn sàng chiến đấu vì tổ quốc. Trong thời kì kháng
chiến chống Mĩ nhân vật chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng đã khắc họa rõ nét
tinh thần chiến đấu ấy.
Trong kháng chiến chống Mĩ người phụ nữ được miêu tả bằng những nét
khỏe khoắn, trẻ trung dũng cảm một cách lạ thường. Hình ảnh chi Út Tịch trong
Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi đã để lại đấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc
với tinh thần chiến đấu mãnh liệt “ còn cái lai quần cũng đánh”. Mang bầu bảy
tháng nhưng chị vẫn xông pha giết giặc. Chị đã đại diện cho người phụ nữ Miền
Nam anh hùng bất khuất. Bên trong chị hơn cả người mẹ, người vợ mà còn là người
chiến sĩ cách mạng hi sinh tất cả vì sự nghiệp giải phóng đất nước. Tác giả xây

Nội, “sách viết những trải nghiệm và chặng đường đời của Nguyễn Thi trong hai
cuộc kháng chiến lớn của dân tộc, đã có hàng trăm văn nghệ sĩ, trong đó có mấy
chục nhà văn hy sinh ở khắp các chiến trường. Nhưng có một khối lượng tác phẩm
lớn, trong đó có nhiều truyện ký đặc sắc về các anh hùng trong chiến đấu và đến
lượt mình đã ngã xuống trong tư thế của một người khi đấu súng với kẻ thù như nhà
văn Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi là trường hợp ít ỏ”i. [7;102]
Cuốn truyện ký Nguyễn Thi, NXB Giải phóng, Hà Nội – 1969 đề cập đến
Nguyễn Thi trong văn học chiến đấu: “Nguyễn Thi có một cuộc đời riêng nhiều
biến động, Từ một thiếu niên không nghề nghiệp, lang bạt kiếm sống khắp nơi, bắt
gặp và được cách mạng thức tỉnh, đưa vào đội ngũ, trở thành người chiến sĩ cầm
súng rồi thành nhà văn là cả một chặng đường có lúc như một huyền thoại”.[6;68]
Hồng Diệu đánh giá cao truyện ngắn “ Im lặng” “truyện thật buồn nhưng thể
hiện sớm, thể hiện đúng, thể hiện sâu nổi đau của chúng ta trước tình trạng đất
nước bị chia cắt
3
Năm 1998 nhân kỉ niệm 70 năm ngày sinh và 30 ngày mất của Nguyễn Thi,
có nhiều nhận định về con người và tác phẩm của ông qua bài “Nguyễn Ngọc Tấn –
Nguyễn Thi, con người và sự nghiêp”.[8;100,101]
Đó là một số công trình nghiên cứu về tác giả Nguyễn Thi cũng như một số
tác phẩm tiêu biểu của ông, mỗi công trình nghiên cứu từng đề tài riêng lẽ làm
phong phú thêm vấn đề. Người viết đã dựa vào các công trình trên để nghiên cứu
tìm hiểu tác phẩm Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài hình ảnh người phụ nữ Nam Bộ qua tác phẩm người mẹ
cầm súng nhằm mục đích sau.
Đi sâu tìm hiểu nhân vật chị Út tịch thông qua đó tìm hiểu thêm về những
đặc điểm của người phụ nữ Nam Bộ trong kháng chiến chống Mĩ.
Đề tài này còn giúp ta hiểu rõ hơn về lòng yêu nước của nhân dân ta vào thời
kỳ chống mĩ, với ý chí kiên cường, lòng dũng cảm của người dân Nam Bộ đặc biệt
là người phụ nữ.

văn học thì không thể thiếu nhân vật, vì đó chính là phương tiện cơ bản để nhà văn
khái quát hiện thực một cách hình tượng. Nhà văn sáng tạo nhân vật thể hiện nhận
thức của mình về một cá nhân nào đó của hiện thực. Bởi vì, nhân vật là người đọc
vào một thế giới riêng trong một thời kì lịch sử nhất định. Nhân vật văn học là con
người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Những con
người này được nhà văn miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất
hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít
hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm.
Nhân vật văn học có thể là con người có tên như ( Tấm, Cám, Thúy Kiều…),
có thể là những người không có tên ( như một số nhân vật xưng tôi trong truyện
ngắn, tiểu thuyết hiện đại, mình ta trong ca dao…). Khái niệm con người này cũng
cần phải hiểu một cách rộng rải trên hai phương diện: số lượng: hầu hết các tác
phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại điều tập trung miêu tả số phận của
con người. Về chất lượng: dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật … Nhưng
lại gán cho nó phẩm chất của con người.
Trong nhiều trường hợp, khái niệm nhân vật được sử dụng một cách ẩn dụ
nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Chẳng hạn, người ta
thường nói đến nhân vật như là một nhân vật trung tâm trong “chiến tranh và hòa
bình” của L.txtoi. Tuy vậy, nhìn chung nhân vật vẩn là hình thức của con người
trong tác phẩm văn học.
Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, có những dấu
hiệu để nhận biết: tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm
riêng…Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu từ đầu và thông thường, sự phát
triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó. Ví dụ
việc giới thiệu Tràng trong tác phẩm “vợ nhặt” của Kim Lân dường như cũng báo
trước về số phận Tràng sau này “hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí,
gà gà đắm vào bong chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho bộ mặt
5
thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ gì lý thú, vừa dữ tợn. Hắn
có tật vừa đi vừa nói. Hắn lam nhảm than thở những điều hắn nghĩ”.

việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những
nhân vật có nguyên mẫu ngoài cuộc đời. (chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng, chị
Sứ trong Hòn đất…), nhưng cũng cần luôn luôn nhớ rằng nhân vật văn học là một
sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc niêu
lên vấn đề hiện thực của đời sống.
6

1.2. Sơ lược về tác giả và tác phẩm
1.2.1. Nguyễn Thi – cuộc đời và sự nghiệp
Đời sống nhà văn luôn là thế giới sinh động muôn màu muôn vẻ, người thì
xuề xòa giản dị, người thì kỉ lưỡng nghiêm cẩn, người thì phải vật lộn mưu sinh cày
sâu cuốc bẩm. Riêng đối với Nguyễn Thi thì cuộc đời ông là cả một quá trình gian
khổ, từ lúc nhỏ cho đến khi trưởng thành ông gặp không ít thử thách trông gai
nhưng ông đã vượt qua, và vững vàng cho sự nghiệp cầm bút.
Sau đây người viết giới thiệu đôi nét về nhà văn chiến sĩ Nguyễn Thi, một
ngòi bút cá tính và đặc sắc của tạp trí văn nghệ quân đội.
Tên thật : Nguyễn Hoàng Ca
Sinh ngày : 15/5/1928
Mất ngày : 9/5/1968
Quê quán : xã Hải Anh, huyện Hải Hâụ, tỉnh Nam Định
Cuộc đời nhà văn trải qua thăng trầm bất hạnh.Ông xuất thân trong một gia
đình nghèo, cha làm hương sư tên Nguyễn Bội Quỳnh, sau bị xa thải vì hoạt động
yêu nước và cách mạng, mẹ tên Thành Thị Du ( vợ hai ) buôn bán vặt. Nguyễn Thi
sớm bước chân vào đời, năm mười tuổi ông mồ côi cha, mẹ đi bước nửa. Ông phải
sống cảnh ăn nhờ ở đậu, và có lúc phải sống như đứa trẻ lang thang, Tuy hoàn cảnh
khó khăn ông vẫn ham học. Năm 1945 ông đã có mặt ở Sài Gòn, chính nơi đây đã
tạo điều kiện cho ông học hỏi nhiều thứ. Học vẽ, học đàn, học ca, đọc sách… Và
cũng chính mảnh đất Sài Gòn đã vun đấp cho mối tình đầu tiên của ông, những nét
tính cách của Ngyễn Thi bắt đầu hình thành từ những bức thư, truyện ngắn gởi tặng
người yêu. Đó là một người hay thu mình vào đời sống nội tâm, ngại tiếp xúc, vẻ

Đôi bạn.
Đầu 1950, tập thơ Hương đồng nội ra đời, gồm 20 bài. Đây là tiếng lòng của
con người đang chập chững bước vào đường văn chương, tập quan sát, miêu tả và
tự thể hiện, như cậu học trò tập làm luận nên giá trị nghệ thuật chưa cao.
Hai tập truyện Trăng sáng và Đôi bạn tập trung vào ba mảng đề tài khá quen
thuộc bấy giờ tấm lòng Nam – Bắc chia cắt, tình nghĩa quân dân (giữa đồng bào
miền Bắc với bộ đội miền Nam đi tập kết), tội ác của mĩ ngụy. Mỗi tập gồm 7
truyện.
Thời kì này, truyện của Nguyễn Ngọc Tấn không có gì đặc biệt về đề tài. Sự
kiện được phản ánh chưa mang tầm dốc lớn lao của lịch sử. Nhà văn chưa có ý
định, chưa đủ sức vẽ nên những bức dân tộc về kháng chiến.
Ngoài ra, Nguyễn Ngọc Tấn còn đặc biệt chú ý thể hiện nội tâm nhân vật và
nội tâm của chính mình. Nhiều chi tiết có ý nghĩa tự truyện. Hiện thực chủ yếu là
hiện thực tâm hồn, rất chân thực gần gũi. Văn phong giàu chất chữ tình, chất thơ, ít
hành động, sự việc giàu tâm tình.Kết hợp với những hình ảnh so sánh thông minh,
độc đáo tạo nên những hứng thú thẩm mỹ bất ngờ: “ sự nóng ruột giấu trong đôi
mắt đảo lia dảo lịa của cô tưởng có thể tóm ra mà đặt xuống bàn được” (Một
chuyến về phép); “ tin ấy như con rắn luồn từ ngõ này sang ngách khác” (Về
Nam).
8
Từ 1963 đến 1968, sáng tác ở Miền Nam, với bút danh Nguyễn Thi. Những
sáng tác tiêu biểu ở các thể loại: ký, truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết được tập
hợp trong Truyện và ký Nguyễn Thi.
Về truyện ngắn, Nguyễn Thi viết truyện ngắn không nhiều nhưng truyện nào
cũng có giá trị, đặ biệt: truyện viết về những nhân vật thanh thiếu niên và người phụ
nữ. bối cảnh là nông thôn Nam Bộ những năm tháng ngột ngạt trước xuân Mậu thân
1668. Ở đó, một khi tội ác càng chồng chất thì lòng căm thù và quyết tâm trả thù
càng ngùn ngụt bốc cao.
Tác phẩm Chuyện xóm tôi (1964), sáng tác đầu tiên với bút danh Nguyễn
Thi. Nhân vật chính là hai đứa trẻ tên Đực và Bỉnh, sống chung trong một xóm nhỏ

Bộ, Đặc biệt là người phụ nữ, được khắc họa bằng những nét điển hình đẹp đẽ, dân
tộc mà rất hiện đại, phù hợp với yêu cầu mới của cách mạng. Trang viết Nguyễn
Thi góp vào văn học cách mạng Miền Nam một hương sắc riêng, độc đáo.
Nhìn chung, toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thi có tổng cộng hai
mươi truyện ngắn. Trong đó có mười bốn truyện ngắn viết ở Miền Bắc, con lại
những sáng tác ở Miền Nam. Chỉ ngần ấy thôi, ta nhìn thấy một tài năng trẻ có đóng
góp cho thể loại truyện ngắn cả về nội dung lẩn hình thức. Chắc chắn rằng những
trang viết ấy sẽ còn nhiều bổ ích cho chúng ta hôm nay và cả may sau.
1.2.2. Tác phẩm người mẹ cầm súng
1.2.2.1. Hoàn cảnh sang tác
Tác phẩm Người mẹ cầm súng được tác giả viết vào năm 1965 khi ông dự
đại hội tuyên dương anh hùng. Đây là lần đầu tiên Nguyễn Thi gặp chị Út Tịch lấy
tư liệu để hoàn thành tác phẩm, tác phẩm được viết trong giai đoạn nước ta lâm vào
cảnh dầu sôi lửa bỏng. Vào năm 1965 Hoa kỳ đã đưa một đội quân hùng mạnh vào
Việt Nam gây xáo trộn về kinh tế xã hội, lạm phát trầm trọng chiến tranh leo thang.
Trong hoàn cảnh đó Nguyễn Thi đã sáng tác, tác phẩm Người mẹ cầm súng, với
những hình ảnh có thật của chị Út Tịch một người mẹ nghèo đông con, bụng mang
dạ chửa nhưng vẫn hiên ngang cầm súng đánh giặc làm cho người đọc thấy được sự
anh dũng của nhân dân ta, sẵn sàng chiến đấu vì đất nước. Tác phẩm còn mang tính
cổ vũ tinh thần chiến đấu cho nhân dân ta.
Nguyễn Thi đã khai thác chất liệu sống quý giá của hiện thực với tinh thần
tôn trọng lịch sử. Mặt khác ông đã khéo léo sử dụng có mức độ nghệ thuật điển hình
hóa cá biệt hóa tính cách nhân vật bằng những chi tiết chọn lọc nên nhân vật của
Nguyễn Thi rất thật trong cuộc sống. Nguyễn thi đã viết tác phẩm Người mẹ cầm
súng với nhân vật có thật là chị Út Tịch. Ông đã thể hiện được tính cách, hành động
của chị qua lời ăn tiếng nói hằng ngày, nhờ vào sự miêu tả của Nguyễn Thi ta thấy
được chị Út Tịch là một người có đầy đủ tính chất của một người phụ nữ Nam Bộ,
chị đảm đang trong việc nhà, anh dũng trong chiến đấu. Chị xứng đáng với tám chữ
vàng “ Anh hùng, buất khuất, trung hậu, đảm đang” mà Bác dành tặng cho phụ nữ
Việt Nam.

Sau hiệp định Geneve, 1954 vợ chồng bà được phân công ở lại không tập kết mà
sống hợp pháp tại Miền Nam. Trong thời gian này lo ngại trước những người cộng
sản, chính quyền của tổng thống Ngô Đình Diệm đã cho thực thi chính sách “ tố
cộng, diệt cộng” nhằm đến người kháng chiến củ trong đó có gia đình bà, Chồng bà
và nhiều người khác bị bắt chỉ được thả sau khi bà và nhiều người phụ nữ khác gây
áp lực với chính quyền.
Tuy nhiên để được yên ổn, gia đình bà tạm lánh về Kế Sách làm ăn. Mãi đến
cuối năm 1959 gia đình bà mới trở về Tam Ngãi, sau phong trào Đồng Khởi ông bà
tham gia hoạt động quân sự của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam, dù phải
chăm lo chuyện gia đình và con cái nhưng bà vẩn tích cực tham gia hoạt động binh
vận, du kích,tham gia đánh nhiều trận tuyên truyền vận động nhiều binh lính bỏ
ngủ. 1965 bà được cử đi dự đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua lực lượng vũ trang
11
toàn Miền Nam, được ủy ban trung ương mặt trận dân tộc giải phóng toàn Miền
Nam tặng thưởng huân chương quân công giải phóng hạn nhì với thành tích đã
tham gia “23 trận đánh lớn góp phần quan trọng cùng đơn vị diệt làm tan rã trên
200 tên giặc, thu 70 súng. Đồng chí là một chiến sĩ chinh sát dũng cảm và mưu trí,
một chiến đấu viên ngoan cường, một chiến sĩ binh vận tài tình đã vận động phá vỡ
nhiều binh sĩ địch, nhiều lần đưa bộ đội vào diệt bót lấy súng không tốn một viên
đạn”.
Sau 1945 bà được điều về quân khu chính công tác trong một trận oanh kích
bằng máy bay B52 của Mĩ xuống vùng Tân Châu, Châu Đốc, bà và người con gái
thứ ba không may bị tử thương.Với những chiến công hiển hách này bà được nhà
nước phong tặng nhiều danh hiệu cao quý.
12
CHƯƠNG 2: VẼ ĐẸP HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ NAM BỘ TRONG
TÁC PHẨM NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG CỦA NGUYỄN THI

không sợ địch, và lòng căm thù thề không đội trời chung với giặc. Chính những
điều ấy mới làm cho một người con gái có dóc dáng nhỏ nhắn nhưng sức mạnh lại
phi thường.
Với những phẩm chất đó những người con của cách mạng họ đã đánh bại
được kẻ thù hung bạo như Tám Thế, Quận Hùm và tiêu diệt những kẻ phản bội,
13
chúng những kẻ ác ôn làm sao thắng nổi sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân
và dưới sự đồng lòng của họ.
Trong Người mẹ cầm súng, Nguyễn Thi đã xúc động viết về chị Út Tịch
người con gái Nam Bộ có phẩm chất anh hùng và những người phụ nữ Miền Nam
đang quên mình chiến đấu vì dân tộc. Chưa bao giờ truyền thống anh hùng của Bà
Trưng, Bà Triệu lại được bộc lộ rõ nét như trong cuộc kháng chiến chống mĩ này,
Nhưng biểu hiện tập trung nhất đầy đủ nhất phẩm chất cao đẹp và sự bất khuất
trong chiến tranh mang sự anh dũng của người phụ nữ đó chính là hình ảnh chị Út
Tịch, chị là sự hãnh diện của xóm làng của những người phụ nữ miền Nam. Chị
không có ngoại hình quá xuất sắc nhưng chính những phẩm chất tinh thần đã làm
cho chị can đảm đối đầu với những khó khăn mà chị gặp phải trong chiến đấu. Lúc
nào chị cũng có lòng tin vào mình, tin vào cách mạng để tiếp tục chiến đấu “bị giặc
lùng bắt, út bồng đứa con mới đẻ lưu lạc lên Sa Đéc ở đó chị móc nói được với cơ
sở nội tuyến, đi tìm anh em mình vô phá cầu lấy bót Cay Châu”[2,221]. Đó là sức
sống kiên cường bất diệt của những con người vì cách mạng, mặc dù bị lùng bắt,
phải bồng con nhỏ đi chốn chạy nhưng chị Út Tịch không đầu hàng trước số phận.
Cho dù hoàn cảnh khó khăn đến đâu chị vẩn tìm mọi cách để hoạt động cách mạng.
Mặc dù trong cuộc sống gặp nhiều khó khăn, khi mọi người đi tập kết mà vợ chồng
Út phải ở lại nhưng không vì vậy mà nản lòng Út đã khẳn khái nói “ trước mình đã
dám đánh nó thì bây giờ chẳng có gì đáng sợ”[7,222]. Chị Út một con người đời
thường đảm đang dịu hiền là thế nhưng khi giáp mặt với kẻ thù chị thật cứng cỏi,
kiên cường hiên ngang làm cho kẻ thù phải khiếp sợ. Chúng ta chắc hẳn còn nhớ
lần địch bắt anh Tịch. Nếu là một người đàn bà khác thì sẽ đau đớn, khóc lóc, bối
rối. Nhưng chị Út Tịch thì không. Đối với kẻ thù, kẻ phản bội, chị biết phải làm thế

người phụ nữ thì đáng phục hơn. Nhưng chị Út Tịch là một người mẹ nghèo, đông
con mà vẫn đánh giặc giỏi thì càng đáng kính hơn. Dù nghèo không gạo, không
tiền, chị vẫn rất mạnh, rất bạo. Chị nghèo về vật chất nhưng chị giàu thứ khác, đó là
phẩm chất của một người anh hùng cách mạng. Có nước ắt có tiền có gạo, trên hết
có những điều còn quý hơn cả tiền và gạo, ấy là quyền làm người tự do, ấy là lòng
tự hào dân tộc. Chính những điều ấy đã hun đúc cho chị có thể cầm súng đánh giặc
giỏi trở thành người anh hùng của dân tộc.
Trong cuộc chiến, Út coi chồng như một người bạn chiến đấu thân thiết, bình
đẳng, một đồng chí với tất cả ý nghĩa đúng của nó. Trong hai tổ chiến đấu mô tả
trận đánh của vợ chồng Út yểm cho nhau là một bản chiến ca tuyệt đẹp, đồng thời
cũng là một bản tình ca trong đó nghe nhịp đập trái tim của đôi vợ chồng chiến sĩ
cùng hòa lẩn với tiếng súng bắn giặc phối hợp hết sức nhịp nhàn. Bài ca kết thúc
với câu nói chứa chan tình cảm vợ chồng xen lẩn tình đồng đội thắm thiết “ tôi chia
lửa cho đồng chí chồng rút đó nghen”.[7,269]
Tất cả những điều trên cho ta thấy con người trong chiến tranh họ coi đánh
giặc là trả nợ nước thù nhà là lẽ sống. Họ chiến đấu bằng sức mạnh của lòng căm
thù, của tình yêu thương nhân loại. Vì chỉ có cầm vũ khí đứng lên ta mới bảo vệ
được những gì thiêng liêng nhất, bảo vệ tình yêu và sự sống. Chân lý ấy đã được
chứng minh qua số phận con người và con đường cách mạng của người dân Nam
Bộ với phẩm chất anh hùng và bất khuất trong chiến đấu. Nhân vật chị Út Tịch đã
thắp sang niềm tin chiến đấu và chị cũng đại diện cho dáng hình người phụ nữ trong
15
thời chiến, không hề thua kém đấng nam nhi. Nếu Chính Hữu viết về người lính với
tình đồng chí thiết tha máu thịt lòng dũng cảm, kiên cường bất khuất.
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chò giặc tới
Đầu súng trăng treo.”
Đồng chí (Chính hữu)
Thì người phụ nữ cũng không hề thua kém họ cũng được dựng lên từ không
khí đó. Họ cũng được miêu tả là những con người mang đầy đủ phẩm chất anh

nét cơ bản của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không gì có thể tiêu diệt tấm lòng
của họ đối với cách mạng “út tìm được một tấm hình Bác Hồ in trong tấm bằng
khen, cắt ra, giấu kỹ. Bác ở xa, út chưa gặp Bác nhưng có Bác thì cách mạng nhất
định sẽ thành công”.[7,221]
Chiến tranh lấy đi tất cả mọi thứ của con người, nó dồn nhân dân ta vào
đường cùng, cướp tất cả những phương tiện tạo nên sự sống của con người. “ruộng
đất cách mạng cho nó cướp lại hết vào nhà ai chúng muốn đào đâu, cạy đâu cũng
phải chịu. Đêm đêm chúng tự do vào sớm bắt người tra tấn”[7,231]. Cuộc sống như
vậy nào đâu phải cuộc sống của một con người. Nhưng chúng không thể dùng bạo
lực bắt nhân dân ta phải khuất phục, không thể nào bắt nhân dân ta phải buông vũ
khí đầu hàng trước thế lực đó, trong sự ác liệt và tàn bạo của chiến tranh không làm
cho chị Út Tịch lùi bươc mà chị đã khẳng định một điều “ còn cái lai quần cũng
đánh”[7,224] câu nói đầy hào sảng lẫn tự hào và kiên quyết như bật ra từ trái tim,
thắp lửa niềm tin đấu tranh cho tất cả mọi người. Đó chính là sự sống bất diệt trong
chiến tranh, dù phải chịu đàn áp, đứng giữa bờ vực của sự sống và cái chết thì họ
cũng không đầu hàng mà chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.
Chính chiến tranh đã làm cho những đứa trẻ phải thiếu bàn tay chăm sóc của
mẹ. Như đám con chị Út Tịch măc dù còn rất nhỏ nhưng để đánh giặc mà không
vướng víu, chị đã tổ chức lại cách sống của đàn con, kiên trì huấn luyện chúng theo
nếp sống phù hợp với thời chiến, quen không có mẹ ở nhà. Đặc biệt chị dạy đứa con
gái đầu lòng biết đảm đang thay mẹ trông em phải tự coi lấy nhau. Chị cứ phải đi
suốt ngày, thường quá nửa đêm mới về tới nhà. Cái cảnh mẹ con sum họp đầm ấm
chỉ vì giặc Mĩ mà quá thưa thớt, càng khiến lòng chị căm thù bọn xâm lược. Phải xa
con thường xuyên nên khi gặp lại con “ chị vui như vừa đi xa về. Một niềm vui kỳ
lạ, tưởng như việc sống chết vừa hồi này đây là không có và nếu có, nó cũng chỉ
như những tia chớp yếu ớt, rất xa, trong những đêm mưa mát dịu, không hề làm xao
động tới cảnh đầm ấm của mẹ con trong nhà”[7,278]. Đó là sự ác liệt của chiến
tranh nó làm cho một gia đình đáng ra phải sống hạnh phúc thì những đứa trẻ
thường thường phải xa mẹ mà phải chờ đến đêm khuya mới gặp mẹ.
Cho nên ta căm giận vừa ngạc nhiên khăm phục khi thấy quanh cái bụng

Chi tiết trên cho chúng ta thấy dù sống trong sự tàn bạo của chiến tranh nhưng
những con người ấy vẫn có sức sống kiên cường, lạc quan và tin vào sự thành công
của cách mạng sau này. Hình ảnh cái bụng bầu của chị Út Tịch cũng gợi ra cho ta
một triết lý sâu sắc về cuộc sống của con người, chỉ ý nghĩa cao quý của nó phục vụ
cho hạnh phúc tự do của con người, làm niềm tin cho mọi người và thể hiện được
bản chất anh hùng của người phụ nữ miền Nam.
Đọc những đoạn chị Út Tịch mang bụng bầu đi đánh giặc, người đọc tự hỏi.
Đi đánh giặc đâu phải đi dạo mát hay đi chơi, người thường đã mệt nói chi là một
người phụ nữ bụng mang dạ chửa như chị. Sao người mẹ có thai ấy lại có một tâm
hồn khỏe mạnh, trẻ trung đến như thế, sao lại có thể hồn nhiên chan hòa bình dị đến
như thế. Câu trả lời chỉ có thể là, tâm hồn ấy rực sáng tâm hồn của một người chiến
sĩ cách mạng, anh dũng, lạc quan đặc biệt trong tâm hồn của người mẹ ấy không
chịu khuất phục trước bọn ngoại xâm mà quyết đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi Việt
Nam. Một lý do nữa để người mẹ ấy có tinh thần lạc quan là nhờ vào cách mạng,
cách mạng đã cho chị tất cả.
18
Đối với chị Út Tich một người phụ nữ đại diện cho những người phụ nữ
miền Nam thời này. Chị ở đợ dám đánh lại chủ, khi làm cách mạng dù trong hoàn
cảnh nào chị cũng không lùi bước. Hành động của chị làm cho người đọc cảm nhận
được một tinh thần kiên cường gan dạ quyết không lùi bước hay cúi đàu trước sự
tàn bạo của chiến tranh.
2.3. Tình cảm sâu nặng với gia đình, quê hương, tổ quốc
Trong tác phẩm Người mẹ cầm súng Nguyễn Thi đã xây dựng nhân vật chị
Út Tịch là một người giàu tình cảm. Tình cảm với gia đình, với quê hương tổ quốc
nhưng chị đã dung hòa được tất cả các mối quan hệ này. Chị là đại diện cho người
phụ nữ miền Nam giỏi việc nước đảm việc nhà.
Vốn là một cố nông, đi ở đợ từ lúc còn tuổi còn nhỏ, chịu hành hạ đói rách,
và với lòng yêu nước có sẵn, Chị Út Tịch đã đến với cách mạng mà không hề phân
vân. Cũng như bao người khác bằng tấm lòng và trái tim của mình, chị nhận biết
được cuộc cách mạng này là của chị và những người có cùng tấm lòng yêu nước nổi

Long đi tìm đồng chí cán bộ bị vây lùng, mang đến cho anh tấm lòng thiết tha sôi
nổi với cách mạng. Đúng với những gì chị làm tấm lòng của chị lúc nào cũng hướng
về cách mạng có đôi khi cách mạng không ở gần nhưng trong nội tâm chị vẫn
hướng về cách mạng “ cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình” và như
thế “ út giữ chặt lòng mình với cách mạng”[7,229]. Trong mọi hoàn cảnh thì chị
vẫn giữ tấm lòng với cách mạng dù trong hoàn cảnh sống chết gần kề. Lòng yêu
nước như ăn sâu vào máu thịt của những con người ở đây mà trong tác phẩm Người
mẹ cầm súng chị Út Tịch đã đại diện cho họ.
Bắt đầu cầm súng, chị Út Tịch đã mang tất cả những nét gan lì, táo bạo vào
trong chiến đấu. Một con người như chị trở thành anh hùng làm cho ta phải thán
phục, kính trọng trước những chiến công của chị. Điều làm cho chúng ta thêm thán
phục, chị là người mẹ của sáu đứa con, sáu đứa con lần lượt sinh ra trong những
ngày chiến đấu. Ở một người phụ nữ tình cảm đối với con cái có lẽ là tình cảm đằm
thắm sâu xa hơn hết. Thế thì làm sao vừa đánh giặc vừa làm mẹ, hai nhiệm vụ đều
quá nặng nề, quá thiêng liêng có người phụ nữ làm được như thế. Chị không biết
nhưng đối với chị cuộc sống thực tế đã tạo ra giải pháp thực tế cho một vấn đề
tưởng chừng như gay cấn. Vì tấm lòng của một người mẹ và tinh thần dũng cảm của
một người chiến, tấm lòng ấy đã chia cho tất cả nhưng lúc nào cũng tràn đầy và chị
đã dung hòa được hai điều này.
Để hoàn thành tốt hai nhiện vụ chị đã dạy cho con những công việc thường
ngày, đứa con gái lớn của chị tuy còn nhỏ nhưng đã thay chị đảm đương việc nhà để
chị có thể đi công tác, khi đi xa về gặp con thì tình cảm mẹ con hết sức đầm ấm.
Khi không cầm súng chị là người mẹ hết mực thương con, đó cũng là phẩm chất của
người phụ nữ miền Nam. Khi được gần con chị quên hết mọi cực nhọc lúc cầm
súng khi đối mặt với với sự sống và cái chết, khung cảnh đầm ấm đó sẽ không có
bất kì ảnh hưởng gì từ bên ngoài gì đã có tình thương của người mẹ bao bọc.
Những chi tiết đó giải thích phần nào điều kiện Út trở thành một người mẹ,
một người chiến sĩ anh hùng. Út không chỉ là người mẹ , người chiến sĩ mà chị còn
là người vợ, người đồng chí với chồng. Trong chiến đấu chị và chồng cùng nhau sát
cánh chiến đấu, khi chiến đấu rơi vào cảnh nguy hiểm người vợ ấy “chia lửa” với

nhưng với lòng yêu nước và với ý nghĩ chỉ có nước nhà độc lập thì cuộc sống gia
đình mới hạnh phúc.
21
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
NAM BỘ TRONG TÁC PHẨM NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG CỦA NGUYỄN THI
3.1. Kết cấu
Kết cấu truyện của Nguyễn Thi đa dạng, phong phú bên cạnh kết cấu xuôi
theo dòng thời gian ông còn thành công với lối kết cấu khác. Những trang vết của
Nguyễn Thi hấp dẫn người đọc một phần nhờ kết cấu theo dòng hồi ức, theo sự hồi
tưởng của nhân vật. Cũng với bút pháp này Người mẹ cầm súng cũng được bắt đầu
bằng những hồi tưởng “tại xã Tam Ngải huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh có một người
đàn bà có sáu đứa con tên là Nguyễn Thị Út…”[7,209] Tiếp nối là sự hồi tưởng
hàng loạt sự kiện diễn ra với nhân vật chính. Lúc còn nhỏ chị gan dạ đánh lại bọn
địa chủ và xin đi bộ đội, đến khi có chồng và con chị gan lì với bọn giặc hung ác.
Truyện chỉ như vậy nhưng với những dòng hồi tưởng đã tạo nên nét đặc sắc
nghệ thuật riêng nhằm thu hút độc giả. Với kết cấu như vậy làm cho truyện dể hiểu,
kích thích sự tò mò, lôi cuốn người đọc. Ngoài những truyện bắt đầu bằng những
dòng hồi tưởng rồi quay lại quá khứ, Nguyễn Thi có một số truyện được kể vào lúc
cốt truyện đi vào khoảng giữa truyện đến đỉnh điểm hay kết cục sau đó mới trở
ngược lại kể các phần dẫn nhập. Hơn thế nữa truyện ngắn của ông đạt tới đỉnh cao
khi tác phẩm được kết cấu theo hai mảng, hai phần khác nhau thành một truyện kể.
Kết cấu này được tác giả sử dụng trong tác phẩm “ Im lặng”. Đi sóng đôi, ngược
chiều, chuyện này lồng chéo hổ trợ, tương tác vào chuyện kia, chuyện này giằng co,
bắt chéo, xen kẽ với chuyện kia, chuyện này là tấm gương phản chiếu chuyện kia
không phải là một tấm gương phẳng lặng mà là một tấm gương lòi lõm làm biến
dạng hình ảnh ban đầu, truyện này là chìa khóa mở ra truyện kia… thông qua lời kể
nhân vật trong tác phẩm. Cũng vậy trong tác phẩm Người mẹ cầm súng tác giả đã
dẫn chúng ta vào ngỏ nghách của tâm hồn của một người phụ nữ nghèo đông con
nhưng vẫn ra sức chiến đấu vì tổ quốc. Tác giả gợi lên những suy nghĩ của nhân vật
mà qua đó chúng ta cũng như tác giả sẽ bắt gặp hình ảnh một con người bình

lộn với thiên nhiên, với con sông chảy xiết, sóng to gió lớn vẫn không run sợ mà
vẩn kiên cường chống chọi. Lúc còn nhỏ chị có thân hình “ốm nhách” bị nhà địa
chủ đánh đến nỗi “hai bên bên hong út sần sượng nổi cục”[7,212]. Tuy vậy nhưng
trong đôi mắt tinh anh của chị vẩn là một luồng sáng rực cháy cho khát khao lý
tưởng giành được độc lập, đôi mắt ấy có thể dữ dằn “ bà con kéo tới, thằng Ân cao
lớn mặt tái đứng chết trân giữa lộ, đôi mắt út dữ quá”[7,223], và khi cần đôi mắt ấy
cũng có thể nhìn sự đời. Chị Út Tịch có ngoại hình nhỏ gọn nhưng chị là một người
gan dạ,.
Việc dùng thủ pháp độc thoại nội tâm là một trong những phương thức hữu
hiệu để khắc họa tính cách nhân vật. Những suy nghĩ mà không bao giờ có điều
kiện bộc bạch, tỏ bày chỉ khi nhân vật đối diện với bản thân mình thì mới bộc lộ.
Qua độc thoại nội tâm, nhân vật có cơ hội bộc lộ những góc khuất thầm kín của đời
sống tâm hồn, vì như thế trở nên thật hơn. Nguyễn Thi đã thành công khắc họa nhân
vật chị Út Tịch như thế. Trẻ thơ luôn có những suy nghĩ trong sáng nó mang những
điều vụng dại ngây ngô. 13 tuổi Út đã nghĩ đến việc đánh tây thì sướng như tiên,
chứ không cực như ở đợ, mà tiên thì cái gì cũng đẹp, cũng vui, cũng hạnh phúc nên
23
Út xem đi đáng giặc là sướng. Trong suy nghĩ của Út lúc nào cũng không được đầu
hàng giặc. Trong trận đánh bót Tám Thế không chịu giao bót Út luôn nghĩ trong
đầu “ tao đã nói lấy bót là lấy đâu chịu thua mày”. Út khẳng định khi muốn thì phải
làm cho được điều này thể hiện sự quyết tâm, gan lỳ, mạnh mẽ của chị. Nguyễn Thi
đã rất khéo léo khi để nhân vật bộc lộ nội tâm của mình qua suy nghĩ, những ước
muốn hàng ngày để ta thấy được nỗi khát khao được tự do và thể hiện được bản lĩnh
của người phụ nữ Việt Nam.
Phải chăng Nguyễn Thi cũng như Ngô Tất Tố đều là những nhà văn chân
chính của người nông dân cùng khổ dưới sự thống trị của ách đế quốc phong kiến.
Dù cách nhau bởi hai thời đại văn học, hai thời đại lịch sử khác nhau về màu sắc địa
phương nhưng những gì họ muốn truyền tải tới chúng ta là những đức tính tốt đẹp
và những tấm long yêu quê hương đất nước của dân tộc ta.
3.3. Ngôn ngữ trong tác phẩm

lệ “ Còn cái lai quần cũng đánh” hay “ Phải đánh nó để nó không đánh
mình”[7,224]. Câu nói rất chân chất nhà quê nhưng lại mang đậm tinh thần mạnh
mẽ trong chiến đấu, phụ nữ miền Tây dũng cảm hy sinh đến cùng, không sợ gì cả vì
cái lo sợ nhất là mất nước nên nó đã lấn áp các nỗii sợ khác. Những lời nói hùng
hồn ấy của chị đã khắc ghi mãi trong lòng người dân Tam Ngãi nói riêng và cả dân
tộc nói chung.
Và đôi khi nhưng câu nói của Út khiến người đọc phải bật cười vì sự dí dỏm,
đáng yêu của chị, khi chồng không cho chị đi đánh giặc vì mang thai chị nửa cười
nửa mếu mà nói “Đồng chí hại người ta, giờ còn cản người ta nữa”. câu nói của chị
tuy nữa đùa nữa thật nhưng mang tinh thần chiến đấu cao và không bao giờ nghĩ khi
đất nước chưa được độc lập.
Bằng phương ngữ Nam Bộ đích thực mộc mạc, chân quê nhưng tất cả những
điều đó là thứ mộc mạc, chân quê đích thực rất thiêng liêng của dân tộc ta mà không
tìm đâu được. Có lẽ, cũng không tìm thấy ở các dân tộc khác sự phong phú về ngôn
ngữ mà trên cả tuyệt vời như thế. Trong tác phẩm, ngôn ngữ Nam Bộ được thể hiện
rỏ ràng qua từng lời thoại “ Tụi con mới đụng có một “ tăng” qúa trời, bà con ơi!”
hay “Đừng có ra nghen con! Nó tới rồi! Đừng có sợ nghen con”, hay những từ ngữ
chị Út Tịch dùng khi đối thoại với anh em “ Bịnh tao cũng đi”.
Ngôn ngữ trong lối viết của Nguyễn Thi đậm chất phương ngữ Nam Bộ, vừa
nhẹ nhàng giản dị nhưng đi sâu vào lòng người. Thể hiện được đặc trưng riêng của
miền sông nước, mộc mạc bình dân và mang nặng nghĩa tình của Nam Bộ.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status