Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối
với sự ổn định và phát triển kinh tế của một đất nước. Nền kinh tế của một đất
nước chỉ phát triển với tốc độ cao và ổn định khi có chính sách tài chính tiền
tệ đúng đắn và hệ thống ngân hàng hoạt động đủ mạnh, có hiệu quả cao, có
khả năng thu hút, tập trung nguồn vốn nhàn rỗi và phân bổ hợp lý vào các
ngành sản xuất kinh doanh.
Với bất kỳ doanh nghiệp nào, vốn là yếu tố đầu tiên cơ bản của quá trình
hoạt động kinh doanh. Chủ trương hiện nay về vốn ngân sách chỉ chi cho việc
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn, còn toàn bộ
nhu cầu vốn của sản xuất kinh doanh, kể cả đầu tư xây dựng, vốn cố định, vốn
lưu động…đều phải đi vay. Nếu không có vốn thì không thay đổi được cơ cấu
kinh tế, không xây dựng được các cơ sở công nghiệp, các trung tâm dịch vụ
lớn. Trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá, vốn nổi lên như là một yêu
cầu hết sức nóng bỏng, cấp bách.
Giải quyết nhu cầu vốn là một đòi hỏi, thách thức lớn đối với các ngân
hàng. Các ngành kinh tế và nhân đân hiện nay đang đòi hỏi ở ngành ngân
hàng phải tạo điều kiện cho nền kinh tế không bị tụt hậu. Đó chính là vấn đề
vốn. Nguồn vốn trong kinh doanh của ngân hàng có vai trò đặc biệt quan
trọng nó là cơ sở cho công tác tín dụng. Hiện nay, muốn mở rộng việc cho
vay phát triển sản xuất kinh doanh không thể trông chờ vào nguồn vốn ngân
sách như ở thời kỳ bao cấp mà bản thân ngân hàng phải tổ chức huy động vốn
từ nền kinh tế để làm nguồn vốn tín dụng, tìm cách nâng cao khả năng huy
động vốn, hoàn thiện thêm những hình thức huy động vốn cho ngân hàng
trong tương lai.
Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các Ngân hàng Thương mại hiện nay là: Làm
thế nào để tìm ra được giải pháp tối ưu khai thác triệt để nguồn vốn nhàn rỗi
trong dân cư và các thành phần kinh tế để phục vụ cho tiến trình công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước. Đây không phải là vấn đề mới mẻ nhưng lại là
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC BẢNG BIỂU
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG
1.1. VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm
Vốn của Ngân hàng Thương mại là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng
huy động hay tạo lập được dùng để cho vay đầu tư hoặc thực hiện các mục
đích kinh doanh khác của ngân hàng.
Chúng ta có thể hiểu nguồn vốn của ngân hàng là tất cả nhưng phương
tiện tiền tệ của xã hội mà ngân hàng thu hút động viên quản lý nhằm để cho
vay và thực hiện các nghiệp vụ khác của ngân hàng. Nguồn vốn của ngân
hàng đóng một vai trò quan trọng không những đối với bản thân ngân hàng
mà nó còn đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung.
1.1.2. Kết cấu
1.1.2.1. Vốn tự có
Là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng tạo lập nên. Vốn tự có của
Ngân hàng Thương mại cũng là vốn sở hữu riêng của mỗi ngân hàng được
hình thành từ ban đầu. Ở Việt Nam khi thành lập NHTM quốc doanh vốn hình
thành ban đầu là vốn của nhà nước cấp, các ngân hàng ngoài quốc doanh do
cổ đông đóng góp, liên doanh liên kết.
Vốn tự có có vai trò rất quan trọng, nó là cơ sở để thành lập ngân hàng,
nó là nguồn vốn duy nhất dùng để xây dựng mua sắm tài sản cố định. Vì vậy
nó quyết định khả năng hiện đại hoá ngân hàng. Vốn tự có của ngân hàng là
cơ sở tối thiểu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và an toàn
cho người gửi tiền nói riêng. Nó quyết định tới quy mô huy động vốn, sử
dụng vốn và khẳng định vị thế của ngân hàng trên thị trường.
Các nguồn vốn huy động:
• Tiền gửi của các tổ chức kinh tế và ký quỹ.
• Tiền gửi tiết kiệm
• Vốn phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi.
1.1.2.3. Vốn đi vay
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nguồn tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM tuy nhiên khi cần
Ngân hàng thường vay mượn thêm. Ngân hàng có thể vay NHTW thông qua
hình thức tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn. Hoặc vay các tổ chức tín dụng khác
trên thị trường liên ngân hàng.
1.1.2.4. Vốn khác
Các loại vốn khác được hình thành trong quá trình hoạt động nghiệp vụ
và được sử dụng theo các quy định của Ngân hàng Nhà nước.
1.1.3. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại
Huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội là một hoạt động hàng đầu của ngân
hàng. Ngân hàng huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cư để đáp ứng
nhu cầu vay vốn cho nền kinh tế. Trên cơ sở đó ngân hàng quy định lãi suất
đầu ra lớn hơn lãi suất đầu vào để thu lợi nhuận.
Đảm bảo cho công tác huy động vốn có hiệu quả, trong quá trình thực
hiện các ngân hàng phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Việc huy động vốn phải căn cứ vào nhu cầu của nền kinh
tế quốc dân. Ngân hàng với chức năng là cơ quan tập trung nguồn vốn nhàn
rỗi nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh đòi hỏi ngân hàng phải luôn có biện
pháp để tăng cường nguồn vốn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Mặt khác, ngân hàng là một đơn vị hạch toán kinh doanh do vậy ngân hàng
cũng phải huy động vốn sao cho không bị ứ đọng vốn trong ngân hàng ảnh
hưởng tới lợi nhuận và hoạt động của đơn vị. Muốn vậy ngân hàng phải nắm
được chính sách kinh tế của địa phương, của các đơn vị và của dân cư. Từ đó
đề ra chính sách và biện pháp huy động vốn hợp lý để đảm bảo sử dụng vốn
được số lượng cần thiết phải huy động tại ngân hàng để tránh tình trạng
ứ đọng vốn. Sau đó ngân hàng quyết định xem xét lựa chọn hình thức
huy động vốn phù hợp với điều kiện của Ngân hàng, của địa phương…
• Trên cơ sở lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay tại ngân hàng, lãi suất huy
động vốn của ngân hàng khác trên địa bàn, tốc độ tăng trưởng kinh tế
trên địa bàn… Ngân hàng tính toán được lãi suất huy động vốn của
ngân hàng mình cho phù hợp.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Để thu hút được lượng vốn tối đa, ngân hàng cần có chiến lược
marketing phù hợp, thông tin rộng rãi trên các cơ sở thông tin đại chúng
về hình thức huy động vốn, cách thức trả lãi (trả lãi trước, trả lãi sau…)
Như vậy trong quá trình hoạt động của mỗi Ngân hàng, khi Ngân hàng có
thực hiện tốt nghiệp vụ huy động vốn từ đó mới tạo được nguồn vốn để thực
hiện các hoạt động kinh doanh khác.
1.2. VAI TRÒ CỦA VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.2.1. Vai trò của vốn
Bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển kinh tế mạnh đều
phải có vốn. Vốn có một tầm quan trọng về phương pháp nhận thức và chỉ
đạo thực tiễn. Một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh cũng
đều cần phải có vốn. NHTM thực chất cũng là một doanh nghiệp thực hiện
kinh doanh vì lợi ích lợi nhuận, chỉ khác đối tuợng kinh doanh của Ngân hàng
là tiền tệ. Vốn là nguồn lực chủ yếu quyết định khả năng, quy mô hoạt động
của một Ngân hàng nói chung và quy mô thị trường tín dụng nói riêng. Từ đó
quyết định đến khả năng cạnh tranh của một Ngân hàng trên thị trường. Quy
mô càng lớn thì ưu thế trên thị trường càng cao. Mặt khác vốn của ngân hàng
càng lớn cho phép mở rộng đa dạng hoá các hình thức kinh doanh tạo điều
kiện cho các ngân hàng hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất.
Nguồn vốn của ngân hàng dồi dào thì ngân hàng có thể thoả mãn tối đa
được một khoản lãi tiền gửi, coi đây là một sự đầu tư của khách hàng. Hiện
nay, các ngân hàng đã áp dụng nhiều biện pháp tháo gỡ như thông qua bảo
hiểm tiền gửi, mua lại Ngân hàng bị phá sản từ các ngân hàng lớn hơn, đặc
biệt là hoạt động ngân hàng mang tính tổ chức liên hiệp và là các ngành được
chính phủ quan tâm sâu sắc, nhằm tránh gây ra những đổ vỡ ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sản xuất cũng như giảm lòng tin của công chúng và gây tâm
lý hoang mang lo sợ trong nhân dân.
1.2.2.2. Đối với bản thân các Ngân hàng Thương mại
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục đích của huy động vốn là vấn đề mang tính sống còn của bất kỳ tổ
chức tín dụng nào trong nền kinh tế thị trường và cũng là mục tiêu phải đạt tới
nằm trong chính sách “đi vay để cho vay” của NHTM.
Như chúng ta đã biết, trong kinh doanh đòi hỏi các tổ chức kinh tế nói
chung phải có nguồn vốn. NHTM là tổ chức kinh tế có quan hệ mật thiết với
cá nhân và các tổ chức kinh tế khác nên phải có điểm chung đó. Có nghĩa là
nguồn vốn của Ngân hàng không phải chỉ là nguồn vốn tự có, vốn vay từ các
tổ chức tín dụng mà phải huy động từ nội bộ nền kinh tế. Mặt khác nguồn vốn
này ngày càng phải chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ nguồn vốn của các tổ
chức tín dụng. Nếu nguồn vốn huy động phát triển theo chiều hướng trên thì
Ngân hàng Thương mại được chấp nhận, tín dụng ngày càng mở rộng phù
hợp với quy luật khách quan. Chức năng huy động vốn giúp Ngân hàng thực
hiện tốt chức năng của mình. Chức năng cung ứng tín dụng nhằm mục tiêu
cuối cùng là lợi nhuận, bởi vì lợi nhuận có được ngoài việc chênh lệch lãi suất
cho vay và lãi suất đi vay còn phải tính đến khối lượng tín dụng cung ứng cho
khách hàng trên cơ sở nguồn vốn. Huy động vốn còn tạo ra cơ hội cho các
Ngân hàng từng bước hiện đại hoá hoạt động bằng cách đầu tư trang thiết bị
phục vụ nhanh chóng, tiện lợi nhằm thu hút khách hàng đến với Ngân hàng
ngày càng nhiều hơn.
1.2.2.3. Đối với nền kinh tế thị trường
các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội. Bản chất của huy động vốn là
tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà
không có quyền sở hữu. Ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi
khi đến hạn. Vốn huy động đó đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động
kinh doanh của NHTM. Nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn. Vốn của
Ngân hàng luôn biến động nên Ngân hàng không thể sử dụng hết nguồn vốn
kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh
toán chi trả.
Vốn huy động có một ý nghĩa quan trọng đối với NHTM. Nó quyết định
đến quy mô hoạt động kinh doanh, đến khả năng thanh toán chi trả, đến năng
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lực cạnh tranh của NHTM. Để có vốn nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh
của mình, NHTM chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động là chính, do đó Ngân
hàng phải quan tâm đến các biện pháp tạo vốn và phải áp dụng một cách hài
hoà. Trong đó đa dạng các hình thức huy động vốn là một trong những biện
pháp sống còn. Nó góp phần khai thác vốn ở mọi tầng lớp dân cư, mọi thành
phần trong nền kinh tế. Các hình thức huy động vốn trong nền kinh tế của
Ngân hàng Thương mại bao gồm:
1.3.1. Huy động tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là khoản tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất
cứ lúc nào và Ngân hàng phải thoả mãn nhu cầu đó của khách hàng. Tiền gửi
không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi bao gồm hai loại sau:
1.3.1.1. Tiền gửi thanh toán
Đó là các khoản tiền gửi không kỳ hạn trước hết được sử dụng để tiến
hành thanh toán chi trả cho các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và các khoản
phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận
lợi. Tiền gửi thanh toán thường được bảo quản tại Ngân hàng trên hai loại: Tài
khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai.
1.3.1.2. Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý
1.3.3.1. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:
Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào song không được sử dụng
các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác.
1.3.3.2. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
Là khoản tiền gửi có thoả thuận trước về thời hạn gửi và rút tiền, có mức
lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm được coi là
một công cụ vốn lưu truyền của các NHTM. Vốn huy động từ tài khoản tiền
gửi tiết kiệm chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng. Tiền gửi tiết kiệm có thể chia ra làm hai loại: Tiền gửi tiết kiệm không
kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
• Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Thực chất đây là khoản tiền gửi tiết
kiệm thông thường. Đối với khoản tiền này, chủ tài khoản có thể rút ra
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bất cứ lúc nào mà không phải báo trước. Số dư tài khoản này thường
không lớn nhưng có ưu điểm hơn so với tài khoản tiền gửi giao dịch ở
chỗ số dư này ít biến động chính vì vậy đối với loại tiền gửi này các
NHTM thường phải trả lãi suất cao hơn tiền gửi thanh toán. Đó là điều
kiện để các Ngân hàng dễ dàng huy động loại vốn này.
• Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Có hai loại là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
ngắn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dài. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
ngắn khá quen thuộc ở Việt Nam. NHTM Việt Nam thường huy động
tiết kiệm từ ba tháng đến một năm. Về nguyên tắc khách hàng chỉ được
rút tiền khi đến hạn song để tăng tính cạnh tranh các NHTM vẫn cho
khách hàng rút trước thời hạn. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dài rất phổ
biến ở một số nước công nghiệp, tiền gửi tiết kiệm dài hạn chỉ được
phép rút ra khi đến hạn nên nó tạo nguồn vốn có tính ổn định cho hoạt
động cấp tín dụng dài hạn của NHTM.
1.3.4. Huy động bằng vốn vay
Các khoản vay ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của các
ngân hàng phát hành thành nhiều đợt. Huy động vốn dưới hình thức này
NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với huy động tiền gửi. Như vậy khi thực
hiện huy động dưới hình thức này ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết
định lãi suất huy động, thời hạn và phương thức huy động.
Trái phiếu ngân hàng được phát hành nhằm huy động vốn dài hạn trên thị
trường vốn. Về phía người mua, trái phiếu ngân hàng là giấy chứng nhận việc
đầu tư vốn và việc được quyền hưởng thụ một khoản lãi trên số tiền mua trái
phiếu. Ngân hàng trả lãi và gốc cho người mua sau một thời gian nhất định
theo cam kết. Hình thức huy động vốn này giúp cho NHTM chủ động trong
việc huy động vốn để thực hiện các dự án đầu tư dài hạn.
Kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi thực ra là một trái phiếu nhưng
nó linh động hơn, được phát hành thường xuyên hơn so với trái phiếu, có
nhiều loại khác nhau từ 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng,…đến 60 tháng phù hợp
với khách hàng. Đối với từng Ngân hàng khác nhau lãi suất thường xuyên
thay đổi.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nói chung khi huy động vốn bằng cách đi vay các ngân hàng đều phải
chịu chi phí lớn vì vậy hiệu quả kinh tế đem lại từ việc sử dụng nguồn vốn
này đối với các NHTM không cao nên trong thực tế nguồn vốn này cũng chỉ
chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng.
1.3.4.4. Huy động vốn khác
Thông qua quá trình làm trung gian thanh toán Ngân hàng Thương mại
tạo ra được một khoản vốn gọi là vốn trong thanh toán như: vốn trên tài khoản
mở thư tín dụng, tiền gửi đảm bảo thanh toán séc, tiền gửi ký quỹ. Thông qua
nghiệp vụ đại lý NHTM cũng thu hút được một lượng vốn đáng kể trong quá
trình thu chi hộ khách hàng. Do việc phát tiền vay được thực hiện theo tiến độ
công việc nên ngân hàng có thể sử dụng tạm thời tồn khoản đó vào kinh
doanh. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng không lớn song nó có chi phí đầu vào
thấp. Ngân hàng Thương mại còn có thể thu hút vốn từ các hoạt động uỷ thác
chọn cho mình một sản phẩm phù hợp. Một NHTM phải đưa ra nhiều hình
thức huy động để khách hàng lựa chọn điều này giúp cho ngân hàng có thể
thu hút vốn ở mọi tầng lớp, mọi thành phần xã hội.
1.4.4. Chính sách kinh doanh của Ngân hàng
Các chính sách cơ bản của ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp cũng như
gián tiếp tới công tác huy động vốn. Nếu có một chính sách biện pháp đúng
đắn ngân hàng có thể dễ dàng đạt được mục tiêu của mình. Nâng cao hiệu quả
hoạt động huy động vốn là một mục tiêu trung gian mà ngân hàng cần đạt
được. Hệ thống chính sách như: chính sách sản phẩm dịch vụ, chính sách giá,
chính sách phân phối, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách
khuếch trương giao tiếp... có tác động mạnh tới hoạt động huy động vốn.
1.4.5. Các dịch vụ do Ngân hàng cung ứng
Nếu một ngân hàng đưa ra được các dịch vụ tốt, đa dạng sẽ có cơ hội, lợi
thế hơn các ngân hàng có dịch vụ giới hạn. Khi ngân hàng cung ứng dịch vụ
đa dạng sẽ tạo được nhiều mối quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng do đó
ngân hàng có thể dễ dàng tìm thấy cơ hội thu hút vốn hơn. Một ngân hàng
cung ứng dịch vụ thanh toán tốt sẽ có nhiều khách hàng mở tài khoản để thực
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hiện thanh toán hoặc cung ứng dịch vụ thông qua hình thức tín dụng thấu chi
để tìm kiếm được nguồn vốn lúc tài khoản dư có.
1.4.6. Địa điểm và mạng lưới hoạt động
Trong khi người kinh doanh đi tới các ngân hàng khác nhau không phụ
thuộc vào khoảng cách để được vay thì người tiêu dùng ít có khuynh hướng
đó hơn. Yếu tố địa điểm thường tác động vào tâm lý khách hàng bởi nếu có
một ngân hàng nằm ở vị trí thuận lợi như ở trung tâm thành phố, thị xã... điều
kiện đi lại thuận tiện, khu vực xung quanh an toàn cho việc giao dịch... thì sẽ
gây cho khách hàng sự chú ý và khách hàng dễ bị thu hút về phía ngân hàng
đó. Phần lớn khách hàng thường có rất ít thời gian để đến ngân hàng do thời
gian giao dịch trùng với giờ hành chính nên càng gần, càng tiện lợi thì khách
hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển thị trường tiền tệ có một
ý nghĩa tích cực trong việc thu hút vốn.
Sự can thiệp của NHTW: Khi thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW
cũng có ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn. Khi thực hiện chính sách tiền
tệ nới lỏng sẽ mang lại thuận lợi cho Ngân hàng trong việc huy động vốn vay
từ NHTW, không những thế mà nó còn làm giảm lãi suất trên thị trường tiền
tệ. Ngược lại khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ khó khăn hơn trong
hoạt động huy động vốn vay từ NHTW.
Trong nền kinh tế thị trường nguồn vốn huy động của NHTM có vai trò
vô cùng quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như sự
phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đặc biệt đối với nước ta trong giai đoạn
hiện nay và nhiều năm tới, vốn đáp ứng cho nhu cầu công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước là vấn đề cực kỳ quan trọng và cấp bách. Do vậy việc mở
rộng nguồn vốn huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đó là mối quan
tâm hàng đầu của cả hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ NỘI
2.1. MỘT SỐ NÉT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HÀ NỘI
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NHNNo&PTNT Hà Nội
2.1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NHNNo&PTNT Hà Nội.
Được thành lập theo quyết định số 51- QĐ/NHNN ngày 27/6/1988 của
Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (nay là Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam), Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Thành
phố Hà Nội (nay là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội)
trên cơ sở 28 cán bộ cùng với 21 công ty, xí nghiệp thuộc lĩnh vực Nông,
Lâm, Ngư nghiệp được điều động từ Ngân hàng Công - Nông – Thương
gia cầm, phát triển vùng chuyên canh rau, hoa cây cảnh… nhờ vậy thu nhập
và đời sống nông dân ngoại thành đã được cải thiện đáng kể, tỷ lệ hộ khá và
giàu tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống.
Tháng 9/1991, bảy Ngân hàng huyện thị: Mê Linh Hoài Đức, Đan
Phượng, Thạch Thất, Ba Vì, Phúc Thọ, Thị xã Sơn Tây được bàn giao về tỉnh
Vĩnh Phú và Hà Tây. Tiếp theo đó thực hiện mô hình hai cấp từ tháng
10/1995 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội đã bàn giao
5 Ngân hàng Sóc Sơn, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm về Ngân
hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Lúc này Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội lại đứng trước một thử thách
mới đó là mang tên Ngân hàng Nông nghiệp nhưng lại phục vụ các thành
phần kinh tế không mang dáng dấp của sản xuất nông nghiệp giữa nội đô
Thành phố Hà Nội.
Để đứng vững tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội đã chủ động mở rộng mạng lưới
để huy động vốn và đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của các thành phần kinh tế
trên địa bàn nội thành.
Năm 1994 thành lập Ngân hàng khu vực Chợ Hôm (nay là Hai Bà
Trưng).
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Năm 1995 thành lập Ngân hàng khu vực Đồng Xuân (nay là Hoàn
Kiếm).
Năm 1996 thành lập Ngân hàng quận Tây Hồ, Ba Đình, Thanh Xuân.
Năm 1997 thành lập Ngân hàng quận Cầu Giấy.
Năm 2000 thành lập Ngân hàng quận Đống Đa và khu vực Tam Trinh.
Năm 2001 thành lập 10 phòng giao dịch
Năm 2002 thành lập 2 Ngân hàng Chương Dương và Tràng Tiền Plaza
và 11 phòng giao dịch.
Năm 2003 thành lập 3 chi nhánh Chợ Hôm, Hàng Đào, Nghĩa Đô.
công tác huy động vốn. Trong từng thời điểm Ngân hàng đã chủ động thường
xuyên bám sát tình hình diễn biến về lãi suất huy động, phân tích được tâm lý
người dân và xu hướng tiền nhàn rỗi của họ. Chính điều này đã giúp cho
Ngân hàng có những quyết định đúng đắn về hình thức huy động cũng như về
lãi suất. Hơn nữa Ngân hàng cũng mở rộng mạng lưới huy động, áp dụng
chính sách lãi suất huy động linh hoạt, mang tính cạnh tranh, cải tiến phương
thức phục vụ khách hàng theo hướng khép kín các dịch vụ ngân hàng làm tốt
công tác marketing ngân hàng. Kết quả huy động vốn của ngân hàng từ năm
2006 đến năm 2008 như sau:
Bảng số liệu 1: Kết quả huy động vốn trong 3 năm 2007-2009
Đơn vị : Tỷ đồng
Năm Nguồn vốn huy động Tăng giảm so với các năm trước
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Số tuyệt đối Tỷ lệ (%)
2007 13.821 976 7,60
2008 15.321 1.500 10,85
2009 14.487 -834 -5,44
(Nguồn số liệu: Phòng kế hoạch tổng hợp)
Trong ba năm 2007-2009 nguồn vốn huy động của Chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội có sự biến động khá lớn. Nguồn
vốn huy động của ngân hàng có sự tăng trưởng rõ rệt từ 2007-2008 cả về số
tuyệt đối và tỷ lệ phần trăm. Tuy nhiên, bước sang năm 2009, cuộc khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã ảnh hưởng hệ thống tài chính
của nước ta kết quả là làm cho tiền gửi vào hệ thống ngân hàng giảm đáng kể
cả về số tuyệt đối lẫn tương đối (năm 2009, nguồn vốn huy động giảm 834 tỷ
đồng hay giảm 5,44% so với năm 2007).
2.1.2.2. Kết quả hoạt động đầu tư tín dụng
Đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế, trên cơ sở nguồn vốn đã huy
động được, NHNNo&PTNT Hà Nội thực hiện cho pháp nhân và các cá nhân