TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập
khẩu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội Sinh viên thực hiện : Đặng Bảo Ngọc
Lớp : Nhật 2
Khoá : K43F
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. Nguyễn Thị Quy
Hà Nội, 2008
MC LC
Lời mở đầu 1
Ch-ơng I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng
xuất nhập khẩu của các ngân hàng th-ơng mại 3
I. Khái quát về ngân hàng th-ơng mại và hoạt động tín dụng của ngân
hàng th-ơng mại 3
1. Khái quát về Ngân hàng Th-ơng mại 3
2.1. Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong
n-ớc 35
2.2. Môi tr-ờng pháp lý, kinh tế, chính trị, xã hội trong n-ớc 36
2.3. Môi tr-ờng pháp lý, kinh tế, chính trị, xã hội của các n-ớc có quan
hệ xuất nhập khẩu 38
IV. Kinh nghiệm thế giới về tín dụng xuất nhập khẩu 39
Ch-ơng II: Thực trạng hoạt động tín dụng xuất nhập
khẩu tại ngân hàng th-ơng mại cổ phần quân đội 41
I. Khái quát về Ngân hàng Th-ơng mại Cổ phần Quân Đội 41
1. Lịch sử hình thành và phát triển 41
2. Cơ cấu tổ chức 44
3. Tình hình hoạt động kinh doanh từ năm 2005-2007 46
3.1. Hoạt động huy động vốn 46
3.2. Hoạt động tín dụng 49
3.3. Một số hoạt động khác 51
3.4. Kết quả kinh doanh 56
iii
II. Thực trạng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng
Th-ơng mại Cổ phần Quân Đội 59
1. Khái quát chung 59
1.1. Tình hình hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu nói chung 59
1.2. Tình hình hoạt động cho vay xuất nhập khẩu 60
2. Tín dụng xuất khẩu 67
2.1. Cho vay trực tiếp 67
2.2. Chiết khấu hối phiếu và chiết khấu bộ chứng từ 69
3. Tín dụng nhập khẩu 71
3.1. Cho vay trực tiếp 71
3.2. Cấp tín dụng thông qua ph-ơng thức thanh toán tín dụng chứng từ
72
2.1. Lựa chọn khách hàng mục tiêu và xây dựng chiến l-ợc khách hàng
cụ thể 96
2.2. Chiến l-ợc giá và lãi suất hợp lý, cạnh tranh 97
2.3. Chiến l-ợc huy động vốn lâu dài, thích hợp với từng loại khách
hàng 98
3. Xây dựng và hoàn thiện các biện pháp phòng ngừa, quản lý rủi ro
trong hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu 101
3.1. Nâng cao chất l-ợng thẩm định và đánh giá ph-ơng án kinh doanh
xuất nhập khẩu 101
3.2. Bảo hiểm tín dụng xuất nhập khẩu 104
3.3. Các ph-ơng pháp phòng ngừa rủi ro khác 104
4. Nâng cao chất l-ợng nguồn nhân lực và công nghệ ngân hàng phục
vụ cho hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu 106
4.1. Nâng cao chất l-ợng nguồn nhân lực 106
v
4.2. Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng 108
III. Các kiến nghị với chính phủ và ngân hàng nhà n-ớc 109
1. Đối với Chính phủ 109
1.1. Đảm bảo môi tr-ờng pháp lý ổn định hiệu quả 109
1.2. Tạo môi tr-ờng kinh doanh lành mạnh, bình đẳng 110
1.3. Hỗ trợ và khuyến khích hoạt động xuất nhập khẩu 112
1.4. Huy động các nguồn vốn quốc tế phục vụ cho hoạt động tín dụng
xuất nhập khẩu 113
2. Đối với Ngân hàng Nhà n-ớc Việt Nam 113
2.1. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng
Ngân hàng Nhà N-ớc (CIC) 113
2.2. Ban hành h-ớng dẫn phân loại nợ, xử lý các khoản nợ xấu, nợ quá
hạn gần với tiêu chuẩn quốc tế 114
Kết luận 115
nhân làm cho hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu kém phát triển, đồng thời
tìm giải pháp tháo gỡ cho thực trạng nói trên; đề tài “Giải pháp phát triển
2
hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân
Đội” đã được chọn để nghiên cứu.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
được chia làm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu
của ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội
Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu
tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội
3
CHƢƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XUẤT
NHẬP KHẨU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
I. Khái quát về ngân hàng thƣơng mại và hoạt động tín dụng của ngân
hàng thƣơng mại
1. Khái quát về Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp được thành lập theo luật
Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để thực hiện các hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng mà chủ yếu và thường xuyên là
nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó
để làm phương tiện thanh toán, để cho vay, để thực hiện nhiệm vụ chiết khấu
và các loại dịch vụ khác.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan
theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong một khoảng thời gian nhất
định giữa một bên là ngân hàng đóng vai trò người cho vay và một bên là các
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và các cá nhân đóng vai trò người đi vay.
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng ngân hàng là một giao dịch về
vốn trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:
- Sự chuyển dịch vốn giữa hai đối tác là sự chuyển dịch quyền sử
dụng vốn tạm thời trên nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngân hàng khi chuyển giao
vốn cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả nợ
đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng.
- Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc vay, hay nói cách khác là
người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc. Để thực hiện được
nguyên tắc này, ngân hàng phải xác định lãi suất cho vay thực dương tức là
lãi suất danh nghĩa phải lớn hơn tỷ lệ lạm phát.
5
Có nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng ngân hàng. Căn cứ vào thời
hạn vay trả có thể chia thành tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín
dụng dài hạn. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay có thể chia thành tín
dụng không có bảo đảm bằng tài sản và tín dụng có bảo đảm bằng tài sản.
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng đã có sự phát triển
vượt bậc cả về đối tượng, quy mô và ngày càng được mở rộng và đa dạng hoá.
tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm, giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh, tiết kiệm chi phí
lưu thông của toàn xã hội. Tín dụng ngân hàng còn là đòn bẩy kinh tế được sử
dụng thường xuyên và linh động nhất đối với mọi thành phần kinh tế.
Ngày nay, do sự phát triển không ngừng của các quan hệ trao đổi quốc
tế, tín dụng ngân hàng càng trở nên cần thiết. Vai trò của tín dụng ngân hàng
không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ hoạt động kinh tế trong nước mà còn tích cực
thúc đẩy sự nghiệp phát triển ngoại thương, mở rộng giao lưu quốc tế.
để có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh tranh, hoàn thành
thương vụ, có nguồn lực để tiếp tục ổn định và phát triển kinh doanh…
Sự phát triển khách quan của tín dụng xuất nhập khẩu: Tín dụng xuất
nhập khẩu thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng – bên đưa
ra hỗ trợ, và một bên là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu – bên cần hỗ trợ.
Tín dụng xuất nhập khẩu là quá trình ngân hàng cung cấp vốn dưới các hình
thức khác nhau cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Sự ra đời và phát triển của tín dụng xuất nhập khẩu là một yêu cầu tất
yếu khách quan gắn liền với các quan hệ thương mại quốc tế. Khi thương mại
quốc tế càng phát triển thì kéo theo sự phát triển của tín dụng xuất nhập khẩu.
Khác với trước đây, ngân hàng tham gia vào thương mại quốc tế chủ yếu ở
khâu thanh toán. Ngày nay, mọi giai đoạn của hoạt động ngoại thương đều có
thể cần tới sự hỗ trợ của ngân hàng.
7
Đừng về phía nhà xuất khẩu, từ lúc chưa ký kết được hợp đồng ngoại
thương, nhà xuất khẩu đã cần có tài trợ từ ngân hàng dưới hình thức ngân
hàng đứng ra bảo lãnh và giúp nhà xuất khẩu giành được hợp đồng. Trong
giai đoạn thực hiện hợp đồng, việc xuất hiện nhu cầu vốn là rất lớn và có khi
vượt quá khả năng hiện có của nhà xuất khẩu đã làm nảy sinh nhu cầu được
tài trợ vốn từ ngân hàng. Sau khi đã giao hàng nhưng còn phải chờ thanh toán
từ phía nước ngoài với thời gian khá lâu (nếu hợp đồng ký theo phương thức
thanh toán trả chậm) mà nhà xuất khẩu lại cần tiền ngay để tham gia vào một
thương vụ khác, ngân hàng sẽ hộ trợ thông qua chiết khấu hối phiếu hay chiết
khấu bộ chứng từ.
Về phía nhà nhập khẩu, khi ký hợp đồng, nếu nhà nhập khẩu không tin
tưởng vào khả năng tài chính của mình hoặc tạm thời chưa đủ vốn, anh ta có
thể nhờ vào uy tín của ngân hàng. Ngân hàng có thể phát hành một thư bảo
lãnh thay cho việc nhà nhập khẩu phải đặt cọc để đảm bảo thanh toán giá trị
hợp đồng hoặc ngân hàng đứng ra mở L/C, cam kết trả tiền hàng nhập, tạo ra
với L/C và đặc biệt là tập quán thương mại quốc tế ở mỗi quốc gia. Từ đó
ngân hàng sẽ tư vấn cho khách hàng và cung cấp tín dụng vừa đảm bảo đáp
ứng vốn kịp thời cho khách hàng đồng thời giảm thiểu được rủi ro.
Tín dụng xuất nhập khẩu được kết hợp chặt chẽ với các phương
thức thanh toán quốc tế
Đi đôi với mỗi phương thức thanh toán quốc tế đề có thể có một hình
thức cấp tín dụng. Đây là quan hệ ràng buộc có tính chất tương đối lẫn nhau.
Chẳng hạn với phương thức thanh toán TTR (phương thức thanh toán hàng
nhập khẩu qua ngân hàng bằng điện chuyển tiền có yêu cầu xuất trình tờ khai
Hải quan), các ngân hàng có thể cho khách hàng vay trực tiếp; với phương
thức tín dụng chứng từ thì mở L/C là một cam kết trả nợ của ngân hàng đối
với khách hàng… Mở rộng quan hệ đối ngoại, đẩy mạnh và đa dạng hoá các
phương thức thanh toán có tác dụng đa dạng hoá được các loại hình tín dụng,
9
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế. Ngược lại, công tác tín dụng
xuất nhập khẩu được đảm bảo cung ứng kịp thời nhu cầu vốn cho khách hàng
sẽ thúc đẩy hoạt động thanh toán quốc tế sôi động hơn, qua đó các ngân hàng
thăng thu nhập từ hoạt động này.
10
Tín dụng xuất nhập khẩu mang tính đa dạng
Sự đa dạng về mặt giá cả: Một trong những khác biệt với hình thức tín
dụng thông thường của tín dụng xuất nhập khẩu là giá cả. Sự phong phú, đa
dạng trong việc cấp tín dụng: cho vay trực tiếp, bảo lãnh, chiết khấu, bao
thanh toán tương ứng là các loại giá cả: lãi suất cho vay, bảo lãnh, lãi suất
chiết khấu, giá mua nợ Các ngân hàng luôn cố gắng đa dạng hoá các hình
thức cấp tín dụng, với mong muốn nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng thu
nhập. Ngoài các nghiệp vụ đơn thuần và truyền thống, đa số các ngân hàng
hiện nay đề có xu hướng phát triển các loại hình dịch vụ dưới nhiều hình thức,
hạn (từ một đến dưới 5 năm) và cho vay dài hạn (từ 5 năm trở lên).
Đối với nhà xuất khẩu, hình thức tín dụng này được sử dụng cho các
mục đích thu mua sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu, các chi phí vận chuyển,
thuế, bảo hiểm lô hàng xuất khẩu Để khuyến khích xuất khẩu, các ngân
hàng thường áp dụng các điều kiện ưu đãi như lãi suất ưu đãi, ưu đãi về các
điều kiện tín dụng
Hiện nay đang phát triển hình thức cho vay hợp vốn – một hình thức
đồng tài trợ, trong đó hai hay nhiều ngân hàng cùng góp vốn cho vay đối với
một dự án. Cho vay hợp vốn phát triển do ngày càng xuất hiện nhiều dự án
quy mô lớn, nhu cầu vốn tăng cao mà khả năng cho vay một ngân hàng riêng
lẻ không đáp ứng đủ hoặc do nhu cầu phân tán rủi ro của ngân hàng mà cần
tới sự tham gia góp vốn của nhiều ngân hàng khác nhau.
Cho vay trong khuôn khổ phương thức nhờ thu kèm chứng từ
(Documentary collection)
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là một phương thức thanh toán
trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho
khách hàng, uỷ thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền của người mua,
căn cứ vào hối phiếu do người bán ký phát và bộ chứng từ gửi hàng kèm theo.
12
Với điều kiện nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu, thì
ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng để người mua đi nhận hàng.
Khi thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng cho vay bằng cách ứng trước
giá trị hối phiếu nhờ thu cho nhà xuất khẩu khi nhà xuất khẩu giao hối phiếu
chưa được chấp nhận cho ngân hàng. Hình thức tài trợ này cho phép nhà xuất
khẩu mau chóng nhận được tiền đưa vào sản xuất kinh doanh thay vì phải chờ
đến khi hối phiếu được nhà nhập khẩu nước ngoài tiếp nhận và thanh toán.
Mức tài trợ này của ngân hàng tuỳ thuộc vào mức độ an toàn trong
giao dịch và thoả thuận với khách hàng, thông thường là 80 – 90% mệnh giá
hối phiếu. Khi tài trợ theo phương thức này, ngân hàng tuy không được
tín dụng này bao hàm nhiều rủi ro đối với ngân hàng nên ngân hàng chỉ áp
dụng đối với những doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt và hoạt động
xuất khẩu đều đặn.
3.1.2. Các hình thức chiết khấu
Chiết khấu hối phiếu
Chiết khấu hối phiếu là một dạng tài trợ ngắn hạn của ngân hàng cho
người thụ hưởng hối phiếu, theo đó người thụ hưởng chuyển nhượng thương
phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của
thương phiếu trừ đi lãi suất chiết khấu và phí. Loại tài trợ này giúp cho nhà
xuất khẩu có điều kiện thu hồi vốn nhanh để đưa vào sản xuất kinh doanh
thay vì phải chờ hối phiếu đến hạn thanh toán.
Tín dụng chiết khấu hối phiếu ngoại thương thường áp dụng cho các
giao dịch xuất nhập khẩu thanh toán bằng phương thức ghi sổ. Trong đó nhà
xuất khẩu cấp tín dụng thương mại (bán hàng trả chậm) cho nhà nhập khẩu
nước ngoài dưới hình thức hối phiếu trả chậm do nhà xuất khẩu ký phát yêu
cầu nhà nhập khẩu thanh toán khi hối phiếu đến hạn. Để được ngân hàng xem
xét tài trợ chiết khấu, hối phiếu trả chậm này phải được người mua ký chấp
14
nhận lên bề mặt hối phiếu, thừa nhận món nợ phải trả cho người thụ hưởng
khi hối phiếu đến hạn.
Kỹ thuật tài trợ chiết khấu khá đơn giản. Ngân hàng sẽ mua lại quyền
thụ hưởng giá trị hối phiếu khi đến hạn thanh toán từ người thụ hưởng hợp
pháp thể hiện trên bề mặt hối phiếu. Số tiền mua lại (giá trị chiết khấu) được
tính như sau:
Md = M x [1- (Rd x t/360)] – C
Trong đó:
+ Md: Giá trị chiết khấu
+ M: Mệnh giá hối phiếu
thiết trung bình để đòi tiền nhà nhập khẩu. Chiết khấu miễn truy đòi có nghĩa
là nhà xuất khẩu đã bán bộ chứng từ cho ngân hàng và không có trách nhiệm
hoàn trả, trách nhiệm đòi tiền và quyền sử dụng số tiền thu được hoàn toàn
thuộc về ngân hàng, ngân hàng không có quyền truy đòi nhà xuất khẩu nếu bộ
chứng từ không được thanh toán. Các ngân hàng Việt Nam ít sử dụng hình
thức này vì nó tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng và lãi suất chiết khấu trong
trường hợp này thường cao.
- Chiết khấu có truy đòi: trường hợp này trách nhiệm của nhà xuất khẩu
vẫn còn cho đến khi ngân hàng thu được tiền thanh toán từ nhà nhập khẩu.
Ngân hàng sau khi thực hiện chiết khấu bộ chứng từ vẫn có quyền truy đòi
nhà xuất khẩu nếu bộ chứng từ không được thanh toán. Lãi suất chiết khấu
trong trường hợp này thấp hơn trường hợp chiết khấu miễn truy đòi vì rủi ro
ngân hàng phải chịu sẽ thấp hơn.
Hiện nay đa số các ngân hàng thực hiện hình thức chiết khấu có truy đòi.
3.1.3. Các hình thức bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng là một cam kết bằng văn bản của người phát hành
bảo lãnh (ngân hàng thương mại) – gọi là người bảo lãnh với người thụ hưởng
16
bảo lãnh đó. Trong đó người bảo lãnh cam kết sẽ bồi hoàn một khoản tiền cho
người thụ hưởng trong trường hợp người được bảo lãnh vi phạm những nghĩa
vụ của họ được quy định trong chứng thư bảo lãnh.
Một đặc điểm quan trọng của bảo lãnh là tính độc lập của nó, nghĩa là
nếu các điều khoản và điều kiện của bảo lãnh được đáp ứng thì ngân hàng
phải thanh toán cho bên thụ hưởng mà không viện dẫn những biện hộ phát
sinh từ quan hệ hợp đồng mua bán giữa bên thụ hưởng vào bên được bảo lãnh.
Bảo lãnh ngân hàng có vai trò ngăn chặn những rủi ro có thể phát sinh
trong hoạt động ngoại thương, đồng thời bù đắp những thiệt hại về mặt tài
chính cho người thụ hưởng, giúp họ yên tâm hơn khi bước vào kinh doanh.
Đối với người được bảo lãnh, bảo lãnh ngân hàng giúp nâng cao uy tín của họ
hàng sử dụng Bảo lãnh thực hiện hợp đồng thường có hiệu lực cho tới khi
nghĩa vụ hợp đồng được hoàn thành và có khi kéo dài tới khi hết thời hạn
khiếu nại của hợp đồng.
Bảo lãnh tiền giữ lại (Retention money Guarantee)
Để hạn chế rủi ro sau khi giao hàng, nhà nhập khẩu có thể thỏa thuận
về số tiền được giữ lại sau mỗi lần thanh toán cho nhà xuất khẩu. Tổng số tiền
người nhập khẩu giữ lại có thể lên tới 10% giá trị hợp đồng. Nếu nhà xuất
khẩu muốn được thanh toán ngay toàn bộ tiền hàng thì cần xuất trình thư bảo
lãnh của ngân hàng cho số tiền giữ lại đó.
Như vậy việc bảo lãnh tiền giữ lại cho phép người bán nhận được tổng
số tiền của hợp đồng, còn người mua thay cho việc giữ lại tiền sẽ được ngân
hàng phát hành bảo lãnh đảm bảo hoàn lại số tiền bảo lãnh trong trường hợp
xảy ra rủi ro sau khi giao hàng.
Bảo lãnh bảo hành (Maitainance Guarantee)
18
Bảo lãnh bảo hành thường đi kèm với các hợp đồng xây dựng hay hợp
đồng dây chuyền thiết bị cho nhà máy. Mục đích bảo lãnh nhằm đảm bảo rằng
nhà xuất khẩu vẫn chịu trách nhiệm về máy móc thiết bị mình cung ứng trong
thời gian bảo hành. Thông thường các hợp đồng mua bán thiết bị từ nước
ngoài bao giờ cũng có điều khoản về bảo hành nhưng có không ít trường hợp
bên mua không có biện pháp buộc bên bán phải thực hiện hoàn chỉnh nghĩa
vụ của mình do những điều kiện khách quan về khoảng cách địa lý giữa hai
bên. Bảo lãnh bảo hành đảm bảo người mua sẽ không bị thiệt hại, nhất là khi
đặt mua những thiết bị hiện đại, giá trị cao. Bảo lãnh này còn có thể thay thế
cho bảo lãnh tiền giữ lại.
Bảo lãnh sai sót bộ chứng từ nhờ thu (Discrepancy Guarantee)
Theo đề nghị của nhà xuất khẩu, ngân hàng cam kết với nhà nhập khẩu
bù đắp những thiệt hại phát sinh trong khuôn khổ phương thức thanh toán nhờ
thu do việc xuất trình chứng từ không phù hợp hoàn toàn với những điều khoản
thực hiện cho vay nhập khẩu hoặc muốn san sẻ bớt rủi ro cho các đối tượng khác
hoặc theo yêu cầu của khách hàng thì ngân hàng có thể đứng ra làm tổ chức tín
dụng đầu mối mời các ngân hàng khác cùng tham gia tài trợ nhập khẩu.
Cho vay thanh toán bộ chứng từ giao hàng
Theo hình thức này, doanh nghiệp nhập khẩu phải lập phương án sản
xuất kinh doanh có tính khả thi cho lô hàng nhập về phục vụ cho sản xuất
kinh doanh; đồng thời doanh nghiệp phải lập kế hoạch tài chính nhằm xác
định khả năng thanh toán khi đến thời điểm thanh toán, xác định khoản thiếu
hụt cần vay ngân hàng. Sau khi xem xét và phân tích kế hoạch, phương án của
doanh nghiệp, ngân hàng ra quyết định cho vay và xác định mức cho vay.