Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam-Techcombank. - Pdf 29

1
LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, thuật ngữ thẻ thanh toán không còn xa lạ đối với
người dân Việt Nam như trước đây.Thẻ thanh toán đã được đưa vào giao dịch
ở nước ta từ những năm đầu thập kỷ 90. Thẻ Ngân hàng là một trong những
phương thức thanh toán hiện đại dựa trên nền tảng của hệ thống thông tin, xử
lý của mỗi Ngân hàng, nên dễ được thị trường chấp nhận nhất và nhanh chóng
được phổ dụng ở Việt nam.
Thực tế những năm qua cho thấy dịch vụ thanh toán thẻ đã đem lại
nhiều thành tựu đáng kể cho Việt Nam nói chung và các NH tham gia thanh
toán thẻ nói riêng. Thông qua phát hành và thanh toán thẻ, các Ngân hàng đã
đem lại cho nền kinh tế một lượng vốn đầu tư khá lớn, một lượng ngoại tệ
đáng kể... góp phần vào phát triển kinh tế đất nước. Chúng ta có thể khẳng
định rằng thẻ thanh toán ra đời là một tất yếu của một nền kinh tế phát triển.
Tuy nhiên dịch vụ này trong thời gian tới sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn,
vì vậy quan tâm phát triển thẻ thanh toán là việc rất cần thiết.
NHTM Cổ phần Kỹ thương Việt Nam-Techcombank, một Ngân hàng
đưa vào dịch vụ thanh toán thẻ ngay từ những năm đầu tiên mới thành lập.
Mặc dù hoạt động thanh toán thẻ của Techcombank đã đạt được những kết
quả nhất định, tuy nhiên cũng đã phải đối mặt với không ít những khó khăn.
Hơn nữa, trong thời gian tới Techcombank không những phải lo khắc phục
những bất cập chung mà còn phải cạnh tranh với những Ngân hàng trong và
ngoài nước cùng tham gia phát hành và thanh toán thẻ.
Để góp phần tìm ra giải pháp phát triển thẻ thanh toán cho các Ngân
hàng thương mại Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP kỹ thương nói
riêng, qua quá trình thực tập tại Techcombank, em mạnh dạn chọn đề tài:
“Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ thanh toán tại Ngân hàng
TMCP Kỹ thương Việt Nam-Techcombank” để làm khoá luận tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu của đề tài : Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lí
luận, tình hình thực tế phát hành và thanh toán thẻ tại Techcombank, các văn
bản pháp quy liên quan...để thấy được những tồn tại trong phát hành và thanh

với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các
dịch vụ thanh toán khác”.
Qua những khái niệm trên có thể thấy ngân hàng thương mại là một
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, có hai hoạt động cơ bản:
- Nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức, cơ quan
nhà nước và các tổ chức tín dụng tài chính khác kể cả trong nước và ngoài
nước.
- Sử dụng các nguồn vốn nói trên để cho vay hoặc chiết khấu và cung
ứng các sản phẩm dịch vụ khác cho nền kinh tế.
Cho đến ngày nay, một ngân hàng thương mại hiện đại có thể có tới
hơn 300 sản phẩm dịch vụ các loại để phục vụ cho các yêu cầu ngày càng
phong phú, đa dạng của mọi đối tượng khách hàng. Tiếp theo chúng ta sẽ tìm
hiểu một số chức năng chủ yếu của ngân hàng thương mại trong cơ chế thị
trường.
1.1.2. Chức năng của NHTM.
1.1.2.1. Chức năng thủ quỹ và trung gian thanh toán.
Chức năng thủ quỹ là chức năng đầu tiên của NHTM, gắn liền với sự ra
đời của NHTM và làm cơ sở cho Ngân hàng thực hiện các chức năng tín
dụng, thanh toán và các dịch vụ khác.
Ngay từ khi các NHTM chưa ra đời, các thương gia buôn bán lớn có
một lượng của cải dư thừa thường gửi vào các tiệm kim hoàn hoặc gửi những
người nhận giữ hộ tiền với mục đích cất trữ an toàn nguồn vốn dư thừa đó. Về
sau các cá nhân và các doanh nghiệp cũng tiến hành việc gửi tiền và ngoài
mục đích an toàn ra họ còn có mong muốn được hưởng các dịch vụ khác như
thanh toán, bảo lãnh, chi trả hộ và khi đó NHTM chính thức ra đời.
Như vậy NHTM ra đời với chức năng đầu tiên là làm thủ quỹ cho các
cá nhân và doanh nghiệp gửi tiền, sau đó thực hiện việc thanh toán hộ cho
khách hàng dựa trên tài khoản mà khách hàng mở tại Ngân hàng thông qua
việc khách hàng uỷ nhiệm cho Ngân hàng thu hộ, chi hộ.
Với chức năng thủ quỹ và trung gian thanh toán, NHTM đã thực hiện

hệ thống Ngân hàng trung ương của mỗi nước. Khả năng tạo tiền là khả năng
biến mức tiền gửi ban đầu tại một Ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một
khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng thanh
toán qua nhiều Ngân hàng. Một Ngân hàng này cho vay xong là hết vốn, thì
số vốn đó lại chuyển sang Ngân hàng khác trở thành vốn tiền gửi và làm tăng
thêm vốn tiền gửi của các Ngân hàng khác.
Chức năng tạo tiền của hệ thống NHTM liên quan chặt chẽ với chính
sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương. Thông qua đó Ngân hàng Trung ương
có thể tăng hay giảm lượng tiền cung ứng bằng việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt
buộc nhằm điều tiết vĩ mô, ổn định nền kinh tế.
1.1.3. Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại
Theo Từ điển thuật ngữ tài chính tín dụng: “ Nghiệp vụ ngân hàng là
những sản phẩm mà ngân hàng thực hiện trong việc huy động các nguồn vốn
tiền tệ và đầu tư số vốn huy động được, cấp tín dụng, phục vụ thanh toán cho
khách hàng và làm các dịch vụ khác theo sự uỷ thác của khách hàng”.
Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại được thể hiện ở nội
dung các khoản mục thuộc bảng tổng kết tài sản hay bảng cân đối kế toán của
ngân hàng và có thể phân chúng thành ba nhóm: Các nghiệp vụ Tài sản Nợ,
các nghiệp vụ Tài sản Có và các nghiệp vụ trung gian.
1.1.3.1 Tiền gửi
Với nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng sẽ huy động vốn của các doanh
nghiệp, cá nhân, các tổ chức kinh tế qua tài khoản séc, tài khoản vãng lai; tài
khoản tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi của khách hàng thường chia làm hai loại:
tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.
- Tài khoản séc: Là loại tiền gửi được áp dụng phổ biến ở hầu hết các
nước trên thế giới. Theo Công ước Giơ-ne-vơ năm 1931 thì “Séc là một tờ
lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách hàng ký phát cho ngân hàng, yêu cầu
ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho người
cầm séc hoặc cho người được chỉ định trên séc”.
7

ứng với số tiền đã vay cùng với số tiền lãi tỷ lệ với số tiền gốc và thời hạn
vay.
* Thứ hai: tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền
Tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền có các hình thức chủ
yếu: chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá, bao thanh toán Factoring...
- Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá: Chiết khấu thương phiếu
là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở
hữu thương phiếu chưa đến hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng
mệnh giá của thương phiếu trừ đi lợi tức và hoa hồng chiết khấu.
- Bao thanh toán (Factoring): Bao thanh toán là một hợp đồng mà trong
đó một tổ chức tín dụng chuyên nghiệp được gọi là “Factor” mua đứt các trái
quyền của người cung cấp (người bán) đối với khách hàng của họ (người
mua).
Thứ ba: cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là hình thức tài trợ vốn bằng cách ngân hàng giao
động sản, bất động sản, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, dây chuyển sản
xuất, khách sạn, kho tàng... cho khách hàng (người thuê) sử dụng. Nói cách
khác, cho thuê tài chính là hình thức tín dụng trung, dài hạn thông qua vịêc
cho thuê máy móc, thiết bị bất động sản và động sản.
Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ sinh lời quan trọng, chủ yếu của ngân
hàng thương mại, không có nghiệp vụ tín dụng thì cũng không còn ngân hàng
thương mại, nên nghiệp vụ tín dụng luôn luôn tồn tại và phát triển cùng ngân
hàng thương mại. Kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu vốn cho sản xuất,
9
kinh doanh, cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày càng nhiều, vì thế vai trò
của tín dụng ngân hàng cũng ngày càng quan trọng và cần thiết hơn. Nhưng
tín dụng là lĩnh vực kinh doanh có nhiều rủi ro, đã có rất nhiều ngân hàng
phải phá sản vì cho vay mà không thu được nợ hoặc có tỷ lệ nợ quá hạn lớn.
Vì vậy, bên cạnh việc phát triển nghiệp vụ tín dụng, các ngân hàng thương
mại đều thực hiện đa dạng hoá nghiệp vụ, đa dạng hoá các khoản mục tài sản

ngân hàng đảm bảo có số dư khi thanh toán, nếu muốn sử dụng thẻ ngân hàng
sẽ cấp cho khách hàng một thẻ séc. Tấm thẻ ghi rõ số tiền tối đa của thẻ, tên
của ngân hàng phát hành thẻ, mã số của chi nhánh phát hành, tên của khách
hàng sử dụng, số thẻ và ngày hết hạn của thẻ. Thẻ được sử dụng theo hai nội
dung: rút tiền mặt tại các ngân hàng và “đảm bảo” cho việc thanh toán hàng
hoá và dịch vụ.
Do khách hàng không phải ký quỹ hoặc không nhất thiết phải có đủ số
dư trên tài khoản so với số tiền ghi trên thẻ, nên trong trường hợp số tiền ghi
trên séc lớn hơn số dư trên tài khoản của khách, ngân hàng vẫn phải đảm bảo
thanh toán cho người thụ hưởng, phần vượt quá số dư ngân hàng sẽ làm vịêc
và xử lý với chủ tài khoản sau. Vì vậy, khi cấp phát thẻ séc, ngân hàng phải
chọn lọc đối tượng để được cấp thẻ séc.
Thẻ séc thường được kết hợp với thẻ rút tiền tự động (ATM) và thẻ
thanh toán thành một thẻ đa năng.
11
- Thẻ thanh toán (Debit Card): Thẻ thanh toán hay còn gọi là “thẻ nợ”
là một loại thẻ do ngân hàng phát hành. Thẻ dùng để thanh toán hàng hoá và
dịch vụ.
- Thẻ tín dụng (Credit Card): Thẻ tín dụng hay gọi là “thẻ có” cũng là
một loại thẻ do ngân hàng phát hành. Khi phát hành thẻ khách hàng không
cần có số dư trên tài khoản tiền gửi mà được cấp một hạn mức tín dụng theo
tài khoản thẻ tín dụng của họ. Thẻ tín dụng dùng để mua hàng hoá và các dịch
vụ trả tiền sau. Việc thanh toán hàng hoá, dịch vụ được thực hiện tại những
nơi có máy đọc thẻ và tại các điểm bán lẻ có các ký hiệu của loại thẻ tín dụng
mà chúng chấp nhận.
- Máy rút tiền tự động ATM: Các ngân hàng, các chi nhánh, các điểm
bán hàng được đặt những máy rút tiền tự động, những máy này đã được nối
mạng với trung tâm thanh toán. Khách hàng có thể dùng thẻ rút tiền (Thẻ từ
hoặc thẻ thông minh) do ngân hàng phát hành để rút tiền mặt ở các máy trên,
mà không phải trực tiếp đến ngân hàng hoặc chi nhánh.

thẻ, theo hình thức tiêu trước trả tiền sau, cho các khách hàng phù hợp với
những tiêu chuẩn thẩm định của họ để khuyến khích tiêu dùng, tăng doanh
thu. Thực tế thì hình thức này đã đem lại những hiệu quả nhất định.
Tuy nhiên, việc phát hành thẻ (hay các phiếu bán hàng) có nhiều hạn
chế với các cửa hàng: khả năng tài trợ có hạn, chi phí quản lý cao ảnh hưởng
đến lợi nhuận, thẻ của mỗi hệ thống chỉ sử dụng được trong hệ thống đó nên
tính tiện lợi của thẻ không cao, nhiều đại lý nhỏ không đủ điều kiện và khả
năng cung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ. Nhu cầu có một loại thẻ
13
chung để có thể sử dụng thanh toán tại các điểm bán hàng trở nên cấp thiết và
chính nó đã tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vào cuộc.
Năm 1946, dạng thẻ đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charge-It của ngân
hàng John Biggins xuất hiện tại Mỹ, cho phép các khách hàng thực hiện các
giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành. Các đại lý
nộp các phiếu giao dịch cho ngân hàng Biggins, ngân hàng sẽ thanh toán các
giao dịch đó cho các đại lý và thu lại tiền từ các khách hàng.
Những năm sau đó, ngày càng có nhiều tổ chức tài chính tham gia vào
thị trường thẻ. Thẻ Charge-It đã mở đường cho sự ra đời của thẻ vào năm
1951 do ngân hàng Franklin National, New York phát hành. Tại đây, khách
hàng xin cấp hạn mức tín dụng và được thẩm định khả năng thanh toán, tình
hình tài chính thông qua hoạt động tín dụng trước đó của họ với ngân hàng.
Những khách hàng đủ tiêu chuẩn sẽ được cấp thẻ để thực hiện giao dịch tại
các đại lý chấp nhận thẻ. Các cơ sở này khi nhận được giao dịch sẽ liên hệ với
ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền sau
đối với ngân hàng. Các chủ thẻ phải trả toàn bộ dư nợ vào cuối tháng.
Năm 1955, hàng loạt thẻ mới như Trip Charge, Golden Key, Dinner
Club, Gourmet Club rồi đến Carte Blanche và American Express (1958), JCB
(1961) ra đời. Năm 1960, ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ
ngân hàng của riêng mình, the Bank Americard, và đã đạt được nhiều thành
công. Với những lợi ích của hệ thống thanh toán này, ngày càng có nhiều tổ

phát hành và thanh toán, thẻ do ngân hàng phát hành thực sự được đông đảo
công chúng quan tâm và ưa thích. Trong khoảng thời gian 25 năm trở lại đây,
15
ngành công nghiệp thẻ thanh toán, đặc biệt là thẻ ngân hàng mới thực sự được
phát triển.
1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của thẻ thanh toán.
1.2.2.1. Khái niệm
Thẻ là một tấm nhựa chứa băng từ hoặc chip điện tử để lưu giữ các
thông tin, số liệu cần thiết đã được mã hoá. Nói một cách ngắn gọn, thẻ là một
phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc tổ chức tài
chính phát hành cấp cho khách hàng và được sử dụng để rút tiền mặt tại các
ngân hàng đại lí, các máy rút tiền tự động hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch
vụ tại những cơ sở chấp nhận thẻ trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi hoặc
hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
Đối với ngân hàng, việc phát hành và thanh toán thẻ là hoạt động bao
gồm các nghiệp vụ cho vay, huy động vốn (đặt cọc hoặc có tiền trong tài
khoản), thanh toán trong nước và ngoài nước.
1.2.2.2. Đặc điểm cơ bản của thẻ thanh toán
Hầu hết các loại thẻ thanh toán quốc tế làm bằng nhựa cấu tạo với 3 lớp
được ép với kĩ thuật cao. Thẻ có kích thước: 84mm x 54mm x 0,76mm có góc
tròn gồm 2 mặt có in đầy đủ các yếu tố như: nhãn hiệu thương mại của thẻ,
tên và logo của nhà phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực… và
một số yếu tố khác tuỳ theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế hoặc hiệp
hội phát hành thẻ.
a. Mặt trước của thẻ gồm:
- Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành thẻ, của tổ chức thẻ: Mỗi loại
thẻ có một biểu tượng riêng, mang tính đặc trưng của tổ chức phát hành thẻ.
Đây được xem như một yếu tố an ninh, chống lại sự giả mạo.
- Số thẻ (được in nổi): số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi
trên thẻ và được in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ. Tuỳ theo

nhất của thẻ, dựa trên kĩ thuật vi xử lí tin học. Thẻ được gắn một chip điện tử
có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Thẻ thông minh có nhiều nhóm
với dung lượng nhớ của chip điện tử khác nhau, có tính an toàn và bảo mật rất
cao. Nhưng do giá thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận thẻ đắt nên việc
sử dụng thẻ này còn chưa phổ biến như thẻ từ. Việc phát hành và chấp nhận
thẻ thông minh mới chỉ phổ biến ở các nước phát triển dù các tổ chức thẻ vẫn
đang khuyến khích các ngân hàng thành viên đầu tư để phát hành và chấp
nhận loại thẻ này nhằm giảm tỷ lệ rủi ro do giả mạo thẻ.
1.2.3.2. Theo chủ thể phát hành:
a. Thẻ do ngân hàng phát hành: Là thẻ thanh toán do các NHTM
phát hành để giúp khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân
hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Loại thẻ này được
sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Nó không chỉ lưu hành trong một quốc gia
mà còn có thể lưu hành trên toàn cầu như thẻ Visa, Master,..
b. Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là các loại thẻ du
lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Diners Club,
Amex,.. và cũng lưu hành trên toàn cầu.
1.2.3.3. Theo tính chất thanh toán của thẻ:
a. Thẻ tín dụng: Là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người
chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn để mua sắm hàng
hoá, dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ này. Thẻ tín dụng thường do
ngân hàng phát hành và thường được quy định một hạn mức tín dụng nhất
định trên cơ sở khả năng tài chính, tài sản thế chấp của chủ thẻ. Chủ thẻ chỉ
được phép chi tiêu trong phạm vi hạn mức đã cho và phải thanh toán cho
ngân hàng phát hành thẻ theo kỳ hàng tháng, lãi suất tín dụng tuỳ thuộc vào
quy định của mỗi ngân hàng phát hành. Thẻ tín dụng được coi là một công cụ
tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng.
b. Thẻ ghi nợ: Có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi
của chủ thẻ. Chủ thẻ cũng có thể được ngân hàng cấp cho một mức thấu chi
theo sự thoả thuận giữa hai bên. Những giao dịch thực hiện bằng thẻ này sẽ

loại do tổ chức tài chính hoặc ngân hàng trong nước phát hành và chỉ được sử
dụng trong nội bộ hệ thống tổ chức đó. Loại thứ hai là thẻ mang thương hiệu
của tổ chức thẻ quốc tế nhưng được phát hành để sử dụng trong nước.
b. Thẻ quốc tế: Là loại thẻ được sử dụng trên phạm vi quốc tế, dùng
ngoại tệ mạnh làm đồng tiền thanh toán. Thẻ quốc tế được hỗ trợ và quản lý
trên toàn thế giới bởi những tổ chức tài chính lớn như Visa, Master hoặc công
ty điều hành hoạt động thống nhất và đồng bộ. Thẻ quốc tế được ưa chuộng
bởi tính an toàn, tiện lợi của nó.
1.2.4. Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ.
* Tổ chức thẻ quốc tế là tổ chức đứng ra liên kết với các thành viên,
đặt ra các qui định bắt buộc đối với các thành viên phải áp dụng và tuân theo
thống nhất thành một hệ thống toàn cầu. Bất cứ ngân hàng nào hiện nay hoạt
động trong lĩnh vực thẻ thanh toán quốc tế đều phải gia nhập vào ít nhất là
một tổ chức thẻ quốc tế. Tổ chức thẻ được tổ chức dưới hai hình thức: hiệp
hội và ngân hàng (hay công ty).
Hình thức hiệp hội: do một nhóm ngân hàng liên kết với nhau thành lập
ra. Hiệp hội soạn thảo các quy định riêng về cách tổ chức, cấp phép, bù trừ,
thanh toán áp dụng cho tất cả các thành viên của hiệp hội, đồng thời tổ chức
về vấn đề cạnh tranh trên thị trường và vấn đề pháp lý. Hiệp hội không trực
tiếp phát hành thẻ mà giao việc này cho các ngân hàng thành viên và thu phí
thường niên. Điển hình của loại hình này là các tổ chức Visa và Master.
Hình thức ngân hàng (hay công ty): do một hoặc hai ngân hàng hay
công ty đứng ra tổ chức và độc quyền phát hành loại thẻ của họ. Họ trực tiếp
phát hành thẻ và đứng ra quản lý chủ thẻ. Việc mở rộng thị trường được thực
hiện bằng cách lập ra các chi nhánh hay văn phòng đại diện phát hành thẻ, do
vậy phạm vi hoạt động thường nhỏ hơn so với hình thức hiệp hội. JCB và
American Express là điển hình của hình thức tổ chức này.
* Ngân hàng phát hành thẻ: là thành viên chính thức của tổ chức thẻ
và được phép phát hành thẻ. Ngân hàng này có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý
hồ sơ xin cấp thẻ, thiết kế các tiêu chuẩn kĩ thuật, mật mã, kí hiệu,.. cho các

với trung tâm thanh toán. Khách hàng có thể dùng thẻ rút tiền do ngân hàng
phát hành để rút tiền mặt ở các máy trên, mà không phải trực tiếp đến ngân
hàng hoặc chi nhánh. Khi có nhu cầu khách hàng đưa thẻ vào máy và bấm số
trên bàn phím, thông qua thông tin lưu trữ trên dải từ tính hoặc con chíp điện
tử, máy tính có thể “tra cứu” tài khoản của khách hàng và đưa ra số tiền mặt
mà khách hàng cần rút với giới hạn cho phép. Máy còn thông báo người cầm
thẻ biết số dư trong tài khoản của khách hàng hoặc thực hiện một lệnh thanh
toán chuyển khoản với điều kiện phải biết chi tiết về ngân hàng của người
được thanh toán.Máy ATM đã trải qua nhiều thế hệ, từ chỗ chỉ là máy rút tiền
tự động ngày nay các máy ATM thế hệ mới thực sự hoạt động như một ngân
hàng nhỏ với đầy đủ các chức năng như rút tiền, gửi tiền, thanh toán... Do đó,
việc đặt các máy ATM thế hệ mới ngoài trụ sở chi nhánh ngân hàng thực chất
là việc mở rộng mạng lưới hoạt động về mặt địa lý.
1.2.5. Những lợi ích của việc sử dụng thẻ thanh toán.
1.2.5.1. Đối với người sử dụng thẻ.
Tiện lợi, linh hoạt và nhanh chóng trong thanh toán ở trong và ngoài
nước: Tiện ích nổi bật cho người sử dụng thẻ là sự tiện lợi và tính linh hoạt
hơn hẳn các phương tiện thanh toán khác của thẻ. Chủ thẻ có thể thực sự cảm
nhận thấy điều này khi di du lịch hay công tác ở nước ngoài. Thẻ thanh toán
như Visa, Master và trong phạm vi hẹp hơn là Amex, Diners Club được chấp
nhận trên toàn thế giới. Điều này có nghĩa là khi dự định ra nước ngoài, thay
vì phải chuẩn bị trước một lượng ngoại tệ hay sec du lịch, chủ thẻ có thể
mang theo thẻ để thanh toán cho mọi nhu cầu chi tiêu của mình. Chủ thẻ cũng
có thể thấy điều này khi sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ
thông qua một mạng lưới rộng rãi các CSCNT trong và ngoài nước hay rút
tiền mặt khi cần thiết tại các tổ chức tài chính hay ngân hàng trên thế giới
hoặc tại các máy rút tiền tự động ATM với loại tiền phù hợp của nước sở tại.
Với kích thước gọn nhẹ của thẻ, chủ thẻ có thể dễ dàng mang theo
người, tạo cảm giác thoải mái khi đi mua sắm, đặc biệt với khối lượng chi trả
lớn. Khi mua sắm hàng hoá, dịch vụ, khách hàng chỉ cần xuất trình thẻ và ký

người sử dụng thẻ, hình ảnh chủ thẻ trên thẻ kết hợp với các thông tin được
mã hoá trên thẻ tạo nên một bức tường vững chắc trước nguy cơ bị người
khác lạm dụng. Nhờ vậy, chủ thẻ có thể an tâm khi sử dụng thẻ. Khi mất thẻ
hay để lộ số PIN, chủ thẻ có thể báo ngay cho ngân hàng phát hành thẻ để kịp
thời phong toả tài khoản thẻ. Trong điều kiện kỹ thuật công nghệ hiện đại
ngày càng phát triển, các thiết bị kiểm tra thẻ hoạt động ngày càng hiệu quả,
tính an toàn của thẻ sẽ còn được nâng cao trong tương lai.
Văn minh: Thanh toán bằng thẻ ngoài tính thuận tiện, gọn nhẹ, nhanh
chóng, an toàn và hiệu quả đối với chủ thẻ còn tạo thêm vẻ văn minh lịch sự,
sang trọng cho khách hàng khi thanh toán. Mặt khác, nó còn giúp khách hàng
tiếp cận với các phương thức mua hàng gián tiếp hiện nay như đặt hàng qua
thư hay điện thoại, mua hàng qua mạng.
1.2.5.2. Đối với đơn vị chấp nhận thẻ
Các CSCNT là điều kiện không thể thiếu đối với sự phát triển thanh
toán thẻ. Thẻ sẽ trở nên vô dụng nếu như không có hay thiếu chủ thể này. Khi
tham gia thanh toán thẻ, lợi ích mà các đại lý chấp nhận thẻ sẽ lớn hơn rất
nhiều so với các chi phí mà họ phải bỏ ra.
Với việc chấp nhận thẻ, sự sang trọng cũng như uy tín của đại lý sẽ
tăng lên vì thẻ là một phương tiện thanh toán hiện đại . Nó đại diện cho một
xã hội văn minh, tiến bộ. Trong điều kiện đời sống của người dân được nâng
cao thì du lịch quốc tế trở thành một nhu cầu không thể thiếu. Ngày nay thẻ
đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới và khách nước ngoài thường rất thích
dùng thẻ nên chấp nhận thẻ cũng là một cách giúp các đại lý thu hút khách
hàng, tăng doanh số bán hàng.
Việc chấp nhận thẻ sẽ giúp các đơn vị này đa dạng hoá phương thức
thanh toán, giảm tình trạng chậm trả của khách hàng cũng như công tác kiểm
đếm, thu giữ tiền mặt, tránh nhận phải tiền giả trong thanh toán, qua đó giảm
được các chi phí kinh doanh không cần thiết.
Một điều quan trọng khác là khi chấp nhận thanh toán thẻ, các CSCNT
hưởng lợi rất nhiều từ ngân hàng. Các đại lý sẽ được ngân hàng cung cấp các

có cầu sử dụng thẻ tại ngân hàng. Mặt khác, NHPHT còn có thể mở rộng hoạt
động cho vay thông qua việc phát hành thẻ tín dụng và hoạt động cho vay này
khá an toàn, nhanh chóng, hiệu quả khá cao.

Trích đoạn Định hướng chung về phát triển hoạt động kinh doanh của Techcombank Định hướng về phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của Techcombank Chính sách khuyếch trương sản phẩm và quan hệ khách hàng Mở rộng mạng lưới dịch vụ và các ĐVCNT Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status