Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại trung tâm thẻ ngân hàng Techcombank - Pdf 25

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007 đánh dấu một sự thành công vượt bậc của nền kinh tế Việt nam
bằng việc đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới
WTO. Hòa chung trong xu thế hội nhập với nhiều cơ hội và thách thức nền kinh
tế Việt Nam trong những năm vừa qua đã ghi nhận những vai trò hết sức quan
trọng của toàn ngành ngân hàng trong việc phát triển kinh tế và đặc biệt quan
trọng hơn khi đã thay đổi được thị trường vốn được coi là tiền mặt như Việt
Nam hiện nay.
Nhận thức được những vai trò quan trọng trong nghiệp vụ kinh doanh thẻ
tại ngân hàng là một thế mạnh và nguồn thu không nhỏ trong tổng nguồn thu của
ngân hàng mình, vì vậy trong những năm vừa qua mặc dù gia nhập thị trường thẻ
tương đối muộn song với chiến lược sự cố gắng hợp tác với các tổ chức tài chính
nước ngoài để phát hành hoặc làm đại lí thanh toán thẻ tín dụng quốc tế như Visa,
Master, Amex, cho đến nay thị trường thẻ của Việt Nam đã trở nên sôi động và có
những bức đột phá quan trọng trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào quy
trình quản lí nghiệp vụ trong lĩnh vực thanh toán thẻ.
Là một ngân hàng ra đời trong trong bối cảnh đất nước đang chuyển sang
nền kinh tế thị trường đầy năng động thêm vào đó là những cơ hội được học hỏi
những kinh nghiệm mà các ngân hàng đi trước, tận dụng dược những lợi thế đó
ngân hàng Techcombank từ khi ra đời đã không ngừng cải tiến nâng cao công
nghệ lấy mũi nhọn hoạt động là phát hành và kinh doanh thẻ một nguồn thu
không nhỏ trong toàn bộ nguồn thu của ngân hàng.Với thương hiệu thẻ
Techcombank F@stAccess đã mang lại thành công rất lớn trong kinh doanh thẻ
của ngân hàng.Tuy vậy, cũng còn rất nhiều khó khăn và thách thức trong quá
trình cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường hiện nay.
Nhằm góp phần phát triển hơn nữa nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ
đồng thời làm tăng uy tín, tạo được lòng tin cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ
thẻ, đặc biệt nâng cao sức cạnh tranh của Techcombank trong thời gian tới, nhận
thức được tính cấp thiết của vấn đề, sau thời gian thực tập ở Techcombank, tìm
hiểu thực tế quá trình kinh doanh thẻ tại ngân hàng em đã lựa chọn đề tài: “Giải

ngày càng đa dạng, phức tạp và trên một quy mô lớn từ đó các hình thức tiền tệ
của các ngân hàng cũng phát triển đa dạng để phục vụ cho nhu cầu thanh toán,
cất trữ trong xã hội hiện nay. Cũng trong giai đoạn này cả thế giới cũng đón
nhận những thành tựu rất quan trọng ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực công nghệ
thông tin. Đăc biệt là sự ra đời của tin học đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngân
hàng và các tổ chức tín dụng trong việc đưa ra và hoàn thiện các phương thức
thanh toán của mình. Trong đó phải kể đến sự ra đời và phát triển của thẻ ngân
hàng được nói đến như một công cụ thanh toán hiện đại thông dụng trong thời
đại ngày nay.
Năm 1949 một doanh nhân người Mỹ tên là Frank Mc Namara đã sáng chế
ra chiếc thẻ đầu tiên mang tên Dinners Club khởi đầu cho một loại các thẻ ra đời
sau này như Amex (American Express) ra đời năm 1958, Bank American
Sau này là thẻ Visa phát hành năm 1960, JCB xuất hiện ở Nhật năm 1961,
Master Card ra đời năm 1966 với tên Master Charge do hội ngân hàng ICA phát
hành thông qua các thành viên trên thế giới.
Mặc dù ra đời đã khá lâu nhưng vì với chức năng và công dụng của từng
loại thẻ của từng ngân hàng là khác nhau nên chưa có một định nghĩa chung
nhất cho thẻ của ngân hàng. Về tổng quát có thể hiểu như sau: “Thẻ ngân hàng
là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng phát hành, thẻ cấp
cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt
tại các máy rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lí trong phạm vi số dư tài
khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được kí kết giữa ngân hàng phát hành thẻ
3
và chủ thẻ. Hóa đơn thanh toán thẻ chính là giấy nhận nợ của chủ thẻ đối với cơ
sở chấp nhận thẻ.”
1.1.2 Đặc điểm cấu tạo của thẻ
Để thống nhất và đồng bộ về việc thanh toán hiện nay theo quy chuẩn quốc
tế thẻ được làm bằng nhựa cứng (plastic) có hình chữ nhật với kích thước 54mm
x 84 mm dày 1mm, có 4 góc tròn, thẻ có 3 lớp màu sắc có thể thay đổi khác
nhau tuỳ theo ngân hàng phát hành theo quy định thống nhất của mỗi tổ chức

Đằng sau của thẻ chứa các thông tin sau: Mã Pin (mã số bí mật), số thẻ, ngày
hiệu lực, hạn mức tín dụng. Riêng thẻ thông minh có một con chip (vi mạch) lưu
trữ thông tin về người cầm thẻ và tài khoản của chủ thẻ. Chúng lưu giữ được gần
200 giao dịch được thực hiện gần nhất.
Băng chữ kí:
Trên băng giấy này là chữ kí của chủ thẻ. Khi lập hoá đơn thanh toán cơ sở
chấp nhận thẻ sẽ đối chiếu chữ kí trên hoá đơn với chữ kí điện tử để so sánh.
Băng chữ này được làm bằng chất liệu đặc biệt để chống tấy xoá sửa đổi
trên bề mặt của thẻ và được ép chặt trên nền thẻ.
Các chi tiết khác: như số điện thoại của tổng đài chăm sóc khách hàng giải
quyết những thắc mắc trong việc sử dụng thẻ của khách hàng.
1.1.3 Phân loại thẻ
* Theo chủ thẻ phát hành:
Thẻ do ngân hàng phát hành: thẻ được ngân hàng phát hành cho khách
hàng để sử dụng tài khoản của mình hoặc tài khoản do ngân hàng cấp để thanh
toán hoặc sử dụng các dịch vụ ngân hàng.
Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Thẻ được các tổ chức phi ngân
hàng phát hành với quy trình và phạm vi thanh toán tương tự như thẻ do ngân
hàng phát hành như Amex, JCB.
* Theo hạn mức tín dụng:
Thẻ vàng (Gold Card): là loại thẻ phát hành cho những khách hàng có nhu
cầu thanh toán những khoản tiền lớn thường là cho các thương nhân. Loại thẻ
này có đặc điểm khác nhau tuỳ thuộc vào từng vùng từng quốc gia để quy đinh
hạn mức rút và gửi tiền.
5
Thẻ thường (Standard Card): đây là loại thẻ căn bản nhất là loại thẻ mang
tính chất thông dụng nhất hiện nay. Theo thống kê có tới 160 triệu người trên
thế giới sử dụng mồi ngày. Hạn mức tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng quy định
thường thì 1000 USD.
* Theo công nghệ làm thẻ:

* Theo đối tượng chịu trách nhiệm thanh toán:
Thẻ cá nhân: Là thẻ phát hành cho các cá nhân có nhu cầu và đáp ứng đủ
điều kiện để mở thẻ tại ngân hàng. Chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán các
khoản chi tiêu trên thẻ bằng nguồn tiền của bản thân mình hoặc có thể phát hành
thêm thẻ phụ.
Thẻ của cá nhân do công ty uỷ quyền sử dụng: Thẻ phát hành cho cá nhân
tổ chức, công ty đứng tên xin phát hành thẻ uỷ quyền cho cá nhân đó sử dụng
thẻ và chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu trên thẻ bằng nguồn tiền
của tổ chức công ty đó.
1.1.4 Tiện ích của thẻ
Mặc dù ra đời sau các phương tiện thanh toán khác nhưng thẻ ngân hàng
ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế nhờ vào
những tính năng ưu việt của nó:
1.1.4.1 Đối với nền kinh tế xã hội
Nhờ những thành tựu vượt trội của ngành công nghệ thông tin trong những
năm gần đây, công dụng của thẻ thanh toán ngày càng phát triển và mở rộng.
Thẻ ngày càng thể hiện vai trò của mình trong sự phát triển kinh tế xã hội điều
này được thể hiện trong các mặt sau:
* Giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông:
Là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò đầu tiên của thẻ là
giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông. Ở những nước phát triển thanh toán
không dùng tiền mặt chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số các phương tiện thanh
toán.Nhờ vậy mà khối lượng cũng như áp lực tiền mặt trong lưu thông giảm
đáng kể.
* Tăng nhanh khối lượng chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế:
Hầu hết mọi giao dịch trong phạm vi nội địa hoặc quốc tế đều thanh toán
7
trực tuyến (ONLINE) vì vậy tốc độ chu chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều so
với các giao dịch qua các phương tiện thanh toán khác như: séc, uỷ nhiệm thu,
uỷ nhiệm chi… Thay vì thực hiện các giao dịch trên giấy tờ, với giao dịch thẻ

khi dự định ra nước ngoài thay vì phải chuẩn bị một lượng ngoại tệ hay séc du
lịch, chủ thẻ có thể mang thao thẻ thanh toán để thanht oán cho mọi chi tiêu của
mình.
* Khoản tín dụng tự động tức thời:
Khả năng mua hàng không bị gò bó chính là tiện ích rất lớn của thẻ thanh
toán. Dù việc mua bán có được dự tính trước hay không thì thẻ thanh toán cũng
là một nguồn tín dụng tự động giúp cho các chủ thẻ khỏi phải đến ngân hàng xin
vay. Do tâm lí e ngại đến làm thủ tục vay vốn của ngân hàng khi có nhu cầu tiêu
dùng cho bản thân. Hơn thế nữa, chủ thẻ chỉ phải thanh toán một phần nhỏ (hiện
theo quy định là 20%) khi đến hạn thanh toán (thường là một tháng) còn lại chủ
thẻ có thể trả sau và chịu lãi suất tín dụng tiêu dùng hiện hành.
* Bảo vệ người tiêu dùng:
Nếu hàng đã mua không đủ tiêu chuẩn chất lượng thì chủ thẻ có quyền yêu
cầu ngân hàng phát hành thẻ bảo vệ, thậm chí có thể bồi thường. Một số các
ngân hàng còn có chế độ bảo hiểm kèm theo: có hàng hoá thay thế hàng bị mất
cắp, hư hỏng hay thất lạc. Hơn nữa một số ngân hàng cũng có chính sách cho
chủ thẻ khi sử dụng các dịch vụ về sức khoẻ ,các trung tâm mua sắm, vui chơi
giải trí khi thanh toán bằng thẻ các chủ thẻ được giảm tiền hoặc tích điểm để
được chiết khấu mua sắm cho những đợt sau.
* Rút tiền mặt:
Chủ thẻ có thể rút tiền mặt một cách nhanh chóng và ở bất cứ nơi đâu, bất
cứ lúc nào tại ngân hàng hoặc qua các máy rút tiền tự động (ATM) và sử dụng
một số dịch vụ khác do máy ATM cung cấp như: trả nợ vay, chuyển khoản, xem
số dư trong tài khoản.
* Kiểm soát được chi tiêu:
Với sao kê hàng tháng do ngân hàng gửi đến cho chủ thẻ hoàn toàn có thể
kiểm soát được chi tiêu của mình trong tháng, đồng thời tính toán được phí và
lãi nếu trả cho mỗi khoản giao dịch.
9
1.1.4.3 Đối với cơ sở chấp nhận thẻ

Thanh toán bằng thẻ thanh toán giúp CSCNT giảm đáng kể thời gian và chi
phí cho việc bảo quản tiền, quản lí tài chính nhờ vậy cũng giảm được chi phí bán
hàng.
Tuy nhiên CSCNT và ngân hàng cũng có điểm ràng buộc đó là khoản chi
phí mà CSCNT phải trả cho ngân hàng. Dù các thiết bị máy móc thanh toán thẻ
được các ngân hàng bảo quản và cung cấp miễn phí nhưng tuỳ theo quy định của
ngân hàng mà các CSCNT vẫn phải chịu một khoản phí nhất định trên giá trị
giao dịch: 1.6% giá trị giao dịch đối với các thẻ phát hành ở UK, 3 – 4% đối với
thẻ Amex (tại bất cứ nước nào)
1.1.4.4 Đối với ngân hàng
Ngân hàng là đơn vị phát hành thẻ cho các khách hàng, hơn ai hết chính
ngân hàng sẽ tạo ra giá trị cho chính bản thân mình nó được thể hiện qua các
mặt sau:
* Tăng lợi nhuận:
Lợi ích lớn nhất mà ngân hàng có được từ việc phát hành thẻ chính là yếu
tố lợi nhuận. Các khoản thu nhập mà ngân hàng có được từ các khoản thu: từ phí
sử dụng thẻ (phí thường niên) ở các ngân hàng Việt Nam phí thường niên để duy
trì tài khoản thẻ là 50.000 VND/năm, lãi suất được hưởng từ việc khách hàng
kéo dài thời gian giao dịch, phí từ các CSCNT.
Cũng có thể kể đến sự có được chính là sự gắn kết giữa ngân hàng và các
chủ thẻ. Một khi khách hàng đã có tài khoản thẻ trong ngân hàng thì hiếm khi họ
muốn chuyển sang sử dụng dịch vụ của ngân hàng khác. Biết được tâm lí này
ngân hàng có thể tăng lãi suất với các khoản tín dụng thanh toán thẻ để tăng lợi
nhuận cho ngân hàng mà không sợ mất khách hàng đồng loạt.
Ngoài ra kinh doanh thẻ còn tạo ra sự hỗ trợ chéo rất có hiệu quả cho ngân
hàng. Tỷ lệ lợi nhuận tương đối cao từ kinh doanh thẻ có thể bù đắp đựoc những
hoạt động kém sinh lời hơn của ngân hàng như kinh doanh trên tài khoản vãng
lai (thường lãi suất thấp).
* Dịch vụ toàn cầu:
Một ngân hàng có thể coi là nhỏ trên thế giới cũng có thể cung cấp cho

* Tăng số vốn cho ngân hàng:
Ngày nay khi mạng lưới các cơ sở chấp nhận thẻ và các máy ATM càng
nhiều đã tạo điều kiện cho người dân sử dụng thẻ của ngân hàng nhiều hơn đồng
nghĩa với việc lượng tiền trong trong tài khoản của ngân hàng sẽ gia tăng cũng
12
có thể coi là một nguồn sinh lời của ngân hàng.
1.2 Nghiệp vụ kinh doanh thẻ tại ngân hàng thương mại
1.2.1 Hoạt động chính của dịch vụ thẻ ngân hàng
1.2.1.1 Hoạt động phát hành
Hoạt động phát hành thẻ của ngân hàng phải dựa trên những cơ sở pháp lí
của nhà nước sở tại, đồng thời phải tuân thủ theo những quy ước chung của tổ
chức thẻ quốc tế. Bên cạnh đó những quy tắc mà ban giám đốc ngân hàng đưa ra
cũng đóng vai trò quan trọng.
Hoạt động phát hành của ngân hàng bao gồm quản lí và triển khai toàn bộ
quá trình phát hành thẻ, sử dụng thẻ và thu nợ khách hàng. Cả ba quá trình này
đều rất quan trọng và không được coi nhẹ. Mỗi một phần đều liên quan chặt chẽ
đến việc phục vụ khách hàng và quản lý rủi ro cho ngân hàng. Các tổ chức tài
chính, ngân hàng phát hành thẻ phải xây dựng các quy định về việc sử dụng thẻ
và thu nợ: Số tiền thanh toán tối thiểu, ngày sao kê, ngày đến hạn, các loại phí
và lãi, hạn mức tín dụng tối đa và các chính sách ưu đãi.
Việc phát hành thẻ ở các ngân hàng có rất nhiều hình thức khác nhau
nhưng nhìn chung đều có 2 loại là phát hành thẻ mới và phát hành thẻ lại. Cả 2
loại này đều thực hiện theo quy trình sau:
Sơ đồ 1: Quy trình phát hành thẻ
Về cơ bản hoạt động phát hành thẻ tiến hành theo quy trình:
Chủ thẻ Chi nhánh
phát hành
Trung tâm thẻ
13
 Tổ chức các hoạt động tiếp thị để đưa sản phẩm vào thị trường, tiếp cận

Ngân hàng thanh toán sẽ tổng hợp toàn bộ các giao dịch phát sinh từ thẻ và
truyền dữ liệu về tổ chức thẻ quốc tế (trong trường hợp thẻ quốc tế) Quy trình
thực hiện các bước sau
 Tổ chức thẻ quốc tế ghi Có cho ngân hàng thanh toán
 Tổ chức thẻ quốc tế có trách nhiệm báo Nợ cho ngân hàng phát hành
 Ngân hàng phát hành thanh toán Nợ cho tổ chức thẻ quốc tế
 Ngân hàng phát hành gửi sao kê cho chủ thẻ
Chủ thẻ thanh toán Nợ cho ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng phát hành
sẽ ghi Nợ vào tài khoản của chủ thẻ trong trường hợp chủ thẻ có tài khoản tại
ngân hàng phát hành.
Việc thanh toán thẻ không chỉ dừng lại ở việc báo Có cho các đơn vị chấp
nhận thẻ đúng cam kết. Mà hơn thế nữa bởi lợi nhuận thu được từ các hoạt động
thanh toán không nhỏ so với tỷ suất lợi nhuận kinh doanh bình quân nên tình
trạng cạnh tranh diễn ra gay gắt khiến cho các ngân hàng thanh toán luôn phải
có những biện pháp về marketing và dịch vụ khách hàng hợp lý, đồng thời cung
cấp cho đơn vị chấp nhận thẻ những dịch vụ đi kèm miễn phí, tiện ích nhằm
nâng cao sức cạnh tranh của mình.
1.2.2 Rủi ro và cách phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh thẻ
1.2.2.1 Các rủi ro thường gặp trong kinh doanh thẻ
Mặc dù ra đời với rất nhiều tiện ích nhưng việc sử dụng thẻ thanh toán phải
đối mặt với rất nhiều rủi ro khác nhau như: các tổ chức cá nhân cố ý sử dụng thẻ
một cách không hợp pháp bằng việc cung cấp các thông tin giả mạo hoặc không
đầy đủ trong đơn xin phát hành thẻ của khách hàng các cơ sở chấp nhận thẻ
không tuân theo các quy trình đã hướng dẫn, khi thẩm định nếu ngân hàng
không phát hiện ra sẽ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng khi chủ thẻ sử dụng thẻ mà
không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán.
Một số các rủi ro mà các ngân hàng phải đối mặt hiện nay như:
 Rủi ro trong nghiệp vụ phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ:
Thẻ giả: Lợi dụng những thông tin trên các thẻ bị mất cắp hoặc các chứng
từ có được trong giao dịch thẻ là yếu tố để cho các hành vi làm giả thẻ xuất hiện.

động kinh doanh thẻ do hệ thống văn bản pháp luật còn chưa hoàn chỉnh. Hơn
16
nữa, văn bản pháp luật của quốc gia sở tại chưa thống nhất với văn bản luật quốc
tế. Những quy định cũng chưa có chuẩn mực nhất định để các ngân hàng áp
dụng và rủi ro là khó tránh khỏi.
 Rủi ro về chính trị:
Các hệ thống chính trị khác nhau ở mỗi quốc gia có tác động rất lớn tới
việc kinh doanh thẻ tại quốc gia đó và quốc tế, đặc biệt là mối quan hệ với nước
ngoài và các tổ chức quốc tế. bất cứ một lệnh cấm nào có hiệu lực đối với nước
liên quan đều ảnh hưởng và có thể gây rủi ro.
 Rủi ro về mặt xã hội:
Đây là rủi ro rất khó khắc phục bởi nó là vấn đề trình độ dân trí về khả
năng nhận thức của người dân như vấn đề bảo mật về thông tin thẻ, bảo quản
thiết bị giao dịch tự động tại nơi công cộng. Đặc biệt là phía nhân viên ngân
hàng do chưa nhận thức hết được trách nhiệm quyền hạn cũng như trình độ xử
lý nghiệp vụ kém thì việc dẫn đến sai sót, vi pham cố tình hay vô ý là khó tránh
khỏi.
 Rủi ro về kỹ thuật công nghệ:
Rủi ro này ngày càng xảy ra phức tạp cùng với sự phát triển nhanh chóng
của ngành công nghệ thông tin. Chỉ cần một sai sót nhỏ trong nghiệp vụ thanh
toán thẻ cũng dẫn tới khả năng đổ vỡ cả một hệ thống thanh toán của chính tổ
chức đó theo hiệu ứng Đôminô và đặc biệt hơn nữa là khi các hệ thống ngân
hàng kết nối với các ngân hàng quốc tế thì những rủi ro cần hết sức chú ý.
Mục tiêu hoạt động của các ngân hàng thương mại là lợi nhuận, mặt khác
chính lợi nhuận đó luôn tồn tại song song với rủi ro trong thanh toán thẻ. Vì vậy
để gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng tránh được những rủi ro không cần thiết các
ngân hàng cần chú ý việc quản lý rủi ro thật tốt. Sau đây sẽ là một số các biện
pháp quản lý rủi ro.
1.2.2.1 Quản lý và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh thẻ
Bộ phận quản lý rủi ro tại các ngân hàng có kinh doanh thẻ được coi là bộ

lương qua tài khoản cho nhân viên làm việc cho tổ chức đó.
Ngược lại đối với những nền kinh tế suy thoái, kém ổn định, lạm phát cao,
thu nhập của người dân thấp, nhu cầu về tài chính ít sẽ khó có điều kiện để thanh
18
toán và tích lũy qua thẻ của ngân hàng.
1.3.3 Điều kiện pháp lý
Các hoạt động kinh doanh của một tổ chức hoặc cá nhân trong một quốc
gia đều chịu sự quản lý của pháp luật nước sở tại. Để có một môi trường kinh
doanh thuận lợi các tổ chức cũng cần có những văn bản quy định chặt chẽ, đầy
đủ để cho hoạt động kinh doanh phát triển. Với hoạt động kinh doanh thẻ của
ngân hàng cũng vậy khi hệ thống văn bản pháp luật chưa đầy đủ thì sẽ gây khó
khăn cho hoạt động kinh doanh thẻ.
1.3.4 Yếu tố tâm lý xã hội
Trình độ dân trí, tâm lý, thói quen, các yếu tố về đặc trưng văn hóa cũng
ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh thẻ. Một xã hội phát triển, người dân có
trình độ nhận thức và văn hóa cao ưa thích sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại,
chắc chắn hoạt động kinh doanh thẻ trong xã hội đó rất phát triển. Ngược lại với
một xã hội có nền kinh tế kém phát triển, nhận thức của người dân còn hạn chế
thì việc đưa thói quen sử dụng và thanh toán thẻ sẽ gặp nhiều hạn chế
1.3.5 Yếu tố công nghệ
Do đặc điểm thẻ thanh toán của ngân hàng cần sử dụng trang thiết bị, máy
móc đi kèm rất hiện đại, kỹ thuật cao. Vì vậy nếu công nghệ càng tiên tiến hiện
đại thì hoạt động kinh doanh thẻ càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ. tuy nhiên
việc sử dụng các thiết bị hiện đại phục vụ cho việc thanh toán tại các ngân hàng
phải diễn ra một cách đồng bộ có hệ thống.
1.4 Thực trạng kinh doanh thẻ của các nước trên thế giới và bài học
đối với Việt Nam
1.4.1 Thị trường thẻ thế giới
Hiện nay trên thế giới dịch vụ thẻ đã trở thành một phần hết sức quan trọng
của dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói riêng. Các chỉ

Trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương tập trung rất nhiều quốc gia phát
triển một môi trường thuận lợi cho thị trường thẻ diễn ra một cách sôi động.
Nhìn lại cách đây 10 năm khi cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực diễn ra trầm
trọng thu nhập của người dân giảm sút, đồng thời một số chính phủ thắt chặt quy
định thẻ tín dụng điều đó dẫn tới trong lịch sử doanh số thanh toán và phát hành
20
thẻ trong khu vực có tốc độ tăng trưởng âm vào cuối năm 1998. Trong cuộc
khủng hoảng đó các quốc gia nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã
có những chiến lược chính sách đầu tư đúng đắn vào cơ sở hạ tầng, các dự án
thương mại. Thêm vào đó, chính phủ cũng khuyến khích các ngân hàng cho vay
các công ty để kinh doanh, các dự án đầu tư, bỏ mặc dịch vụ bán lẻ. Nhờ đó mà
doanh số phát hành thẻ tăng liên tục từ 1999 đến 2008 theo thống kê chưa đầy
đủ của Visa International năm 2008 số thẻ Visa phát hành năm 1999 là 127 triệu
thẻ cho đến 2008 con số này đã tăng lên hơn 400 triệu thẻ. MasterCard năm
1999 là 70 triệu thẻ đến 2008 con số này là hơn 200 triệu thẻ.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường thẻ thế giới
nhất là những thị trường có truyền thống như Mỹ và châu Âu, các tổ chức thẻ
quốc tế gần đây đã chuyển hướng tập trung sang thị trường châu Á – Thái Bình
Dương đa dạng hóa các sản phẩm về thẻ. Hơn nữa thị trường thẻ tại châu Âu và
châu Mỹ đang gặp nhiều khó khăn do những suy thoái và biến động của thị
trường tài chính.
Ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương chiếm 2/3 dân số thế giới và phần
lớn dân số dưới 30 tuổi đây là một thị trường đầy tiềm năng đối với các công
nghệ thanh toán mới. Hiện nay ngoài thẻ tín dụng truyền thống (dùng công nghệ
băng từ) một số các sản phẩm thẻ của ngân hàng khác đã vươn lên và trở thành
xu thế phát triển của ngành kinh doanh thẻ trong khu vực: Như thẻ ghi Nợ
(DebitCard) thẻ liên kết (Co-branded Card) thẻ thông minh (SmartCard).
1.4.3 Kinh nghiệm hoạt động kinh doanh thẻ ở một số nước trong khu
vực và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.4.3.1 Ở Hồng Kông

danh sách là Bank of South East of Asia với tổng nợ phải xóa lên tới 600 triệu
đô la Hồng Kông. Con số này tương đương với việc 19% chủ thẻ của ngân hàng
này đã không trả được nợ.
Một trong những đặc điểm của thị trường thẻ Hồng Kông là sự tồn tại của
một hệ thống thanh toán thẻ ghi nợ nội địa gọi là EPS (Easy Pay System).EPS là
một hệ thống thanh toán bán lẻ là nhiệm vụ thanh toán điện tử từ tài khoản của
ngân hàng phát hành vào tài khoản của ngân hàng khác trực tiếp tại điểm bán
22
(Point of sale) Hệ thống EPS là một hệ thống thanh toán nội địa với sự tham gia
của 50 ngân hàng thành viên. Do không phải qua trung gian các tổ chức thẻ
quốc tế, chi phí được cắt giảm, đồng thời thẻ ghi nợ của các ngân hàng có thể sử
dụng trên cả mạng lưới cơ sớ chấp nhận thẻ và ATM của các ngân hàng khác.
Hiện tại mạng lưới của các cơ sở chấp nhận thẻ tham gia EPS chiếm khoảng 36%
số lượng cơ sở chấp nhận thẻ trên thị trường. Hoạt động của hệ thống này đã đẩy
mạnh sự phát triển của thẻ ghi nợ của Hồng Kông đồng thời đem lại không ít
những thuận lợi cho ngân hàng tham gia.
Với những diến biến trên thị trường thẻ Hồng Kông trong những năm vừa
qua ta có thể thấy rằng bằng việc chính phủ thả lỏng thị trường thẻ ngân hàng sẽ
tạo điều kiện cho các ngân hàng phát triển dịch vụ thẻ và đề ra những chính sách
cạnh tranh thu hút khách hàng. Tuy vậy sự thiếu vắng điều tiết của nhà nước các
ngân hàng có thể dẫn tới tình trạng chạy theo lợi nhuận, mở rộng tín dụng quá
mức làm tăng rủi ro trong hoạt động của ngân hàng và là một yếu tố bất ổn kinh
tế tiềm ẩn. điều này cần đặc biệt lưu ý trong điều kiện hệ thống ngân hàng đang
phát triển nhưng vấn còn nhiều lỗ hổng và chưa chặt chẽ trong công tác quản lý
rủi ro tại thị trường thẻ Việt Nam.
1.4.3.2 Thị trường thẻ tại Trung Quốc
 Môi trường kinh tế
Kể từ khi Trung Quốc bắt đầu cải cách kinh tế cuối năm 1978, nền kinh tế
tăng trưởng liên tục với tốc độ tăng trưởng trung bình 12% trong những năm vừa
qua, và Trung Quốc trở thành một quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhanh nhất

khoảng cách giàu nghèo cho nên một đại bộ phận dân cư chưa thực sự quen với
tín dụng tiêu dùng nói riêng và các dịch vụ tài chính tiêu dùng nói chung. Tuy
nhiên trong giai đoạn hiện nay nhận biết được thị trường đầy tiềm năng các tổ
chức tín dụng quốc tế đã ồ ạt đầu tư vào thị trường thẻ tại Trung Quốc và trở
thành một cơ hội kinh doanh hấp dẫn mang lại những khoản lợi nhuận khổng lồ
cho các tổ chức tín dụng đó. Một cuộc điều tra nghiên cứu gần đây về thị trường
thẻ tín dụng của hãng McKinsey cho thấy thị trường thẻ của Trung Quốc bao
gồm thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, các khoản vay cá nhân sẽ đem lại khoảng 14%
tổng lợi nhuận cho toàn ngành ngân hàng. Thẻ tín dụng từ chỗ là một sản phẩm
24
mới mẻ sẽ trở thành sản phẩm quan trọng nhất trong lĩnh vực kinh doanh ngân
hàng, chiếm 22% tổng lợi nhuận thẻ tiêu dùng, tương đương 1,6 tỉ USD.
Vào năm 2003, Trung Quốc mới chỉ có khoảng 3 triệu thẻ tín dụng được
phát hành nhưng chưa đầy 2 năm sau đó con số này đã tăng gấp 4 lần lên 12
triệu thẻ. 90% chủ sở hữu thẻ tín dụng tại Trung Quốc có thu nhập hàng năm từ
4000 – 6500 USD hoặc trên 6500 USD. Ngoài ra 35% số lượng các chủ sở hữu
thẻ tín dụng hiện đang sinh sống tại các thành phố lớn như ven biển Thượng
Hải, Quảng Châu, Bắc Kinh, Thâm Quyến.
Một trong những lý do khác khiến thị trường thẻ Trung Quốc trở nên hấp
dẫn trong con mắt của các nhà phát hành thẻ nước ngoài là xu hướng sử dụng
thêm các thẻ mới của chủ sở hữu thẻ rồi sau đó chuyển dần các hoạt động chi
tiêu sang các thẻ mới này. Các chủ sở hữu thẻ tín dụng tại Trung Quốc dường
như ít trung thành với các thẻ cũ của họ và các nhà phát hành thẻ cũng không
muốn nỗ lực để thuyết phục khách hàng tiếp tục gắn bó với chiếc thẻ tín dụng
hiện tại của mình.
Tại Trung Quốc có tới 66% số lượng chủ sở hữu thẻ tín dụng ưa thích
thanh toán hóa đơn thẻ tín dụng bằng tiền mặt ngay tại các chi nhánh ngân hàng,
phương thức thanh toán hóa đơn phổ biến thứ hai là tại các máy thu ngân tự
động. Chính vì vậy ngân hàng nội địa với mạng lưới phân bố rộng khắp một lần
nữa có lợi thế so với các ngân hàng nước ngoài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status