Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế của các thương nhân việt nam - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ CỦA
CÁC THƯƠNG NHÂN VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Như Trang
Lớp : Anh 7

2.1. Tổng quan về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh
nghiệp Việt Nam - 26 -
2.2. Tình hình rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam . - 30 -
2.2.1. Nguy cơ rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam - 30 -
2.2.2. Một số rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
của Việt Nam - 35 -
2.3. Hoạt động quản trị rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế tại các doanh
nghiệp Việt Nam - 64 -
2.3.1. Nhận thức của các doanh nghiệp về rủi ro - 64 -
2.3.2. Thực trạng các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động mua bán
hàng hóa quốc tế tại Việt Nam. - 65 -
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ - 68 -
3.1. Tính chất và mức độ rủi ro trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - 68 -
3.2. Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế - 70 -
3.2.1. Giải pháp vĩ mô - 70 -
3.2.2. Giải pháp vi mô - 76 -
KẾT LUẬN - 81 -
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 83 - DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng mức lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn
2000 – 2007 - 27 -
Bảng 2.2 : Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu thời kỳ 2000 - 2007 - 28 -
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu sang một số thị trường chính thời kỳ 2000 – 2007 - 28 -
Bảng 2.4: Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu thời kỳ 2000-2007 - 29 -
Bảng 2.5: Kim ngạch nhập khẩu tại một số thị trường chính - 30 -
Bảng 2.6: Giá gạo thế giới giai đoạn 1990-2006 - 38 -

ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả kinh tế - xã hội của các doanh
nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thậm chí có thể dẫn đến sự

- 2 -
phá sản của một doanh nghiệp hoặc một ngành sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt
là trong một nền kinh tế mở, việc giao lưu, buôn bán với các đối tác nước
ngoài tiềm ẩn những rủi ro phức tạp trong khi Việt Nam lại chưa có nhiều
kinh nghiệm trong kinh doanh thương mại quốc tế thì những rủi ro này lại
càng đa dạng và khó lường hơn. Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa
quốc tế đã và đang làm cản trở hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam,
làm cho hoạt động này tăng trưởng chưa xứng đáng với tiềm năng phát triển
của nước ta. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể phòng ngừa và giảm thiểu
những rủi ro này nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động mua bán hàng hóa
quốc tế, góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Muốn vậy, chúng ta cần phân tích
và nghiên cứu những rủi ro có khả năng xảy ra đối với các doanh nghiệp tham
gia hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam, từ đó có các biện pháp
phòng ngừa và hạn chế rủi ro. Đây là một việc làm rất có ý nghĩa đối với hoạt
động mua bán hàng hóa quốc tế trong điều kiện chúng ta đang phải đối mặt
với nhiều nguy cơ rủi ro cao như hiện nay. Đây cũng chính là lý do tôi chọn
đề tài: “Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động mua bán hàng
hóa quốc tế của các thương nhân Việt Nam” là đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
Trong phạm vi khóa luận này, người viết đi sâu phân tích những rủi ro
các doanh nghiệp Việt Nam thường gặp phải khi tham gia hoạt động mua bán
hàng hóa quốc tế và qua đó, đề ra một số biện pháp cần thiết để phòng ngừa
và hạn chế những rủi ro này.
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
khóa luận có kết cấu như sau:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro trong hoạt động mua
bán hàng hóa quốc tế
- 4 -
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO
TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

1.1. Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.1. Khái niệm hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
Hoạt động mua bán hàng quốc tế là một bộ phận quan trọng trong hoạt
động thương mại quốc tế.
Theo khoản 8 điều 3 Luật Thương mại Việt Nam 2005:
Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, trong đó bên bán có nghĩa
vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh
toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và chuyển
quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
Vậy thế nào là mua bán hàng hóa quốc tế?
Theo Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, mua bán hàng
hóa quốc tế là hoạt động mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại
tại các quốc gia khác nhau. Và tại khoản 1 điều 27, Luật Thương mại Việt
Nam 2005 các hình thức mua bán hàng hóa quốc tế đã được liệt kê, bao gồm:
xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
Trong phạm vi khóa luận, người viết nghiên cứu về hoạt động mua bán
hàng hóa hữu hình. Xét về mặt đặc điểm, ngoài những đặc điểm cơ bản, hoạt
động mua bán hàng hóa quốc tế khác với hoạt động mua bán hàng hóa trong
nước ở những điểm sau đây:
- Hàng hóa được di chuyển qua biên giới quốc gia. Ngày nay biên giới
này được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là biên giới cứng mà còn bao gồm
biên giới mềm. Ví dụ như: hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra giữa một


- 6 -
về nguồn lực giữa các quốc gia cũng như sự khác nhau trong tỷ lệ các yếu tố
sản xuất được sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa. Khi các quốc gia tận dụng
được những lợi thế này, năng suất lao động của quốc gia sẽ cao hơn, giá thành
các sản phẩm cũng sẽ thấp hơn. Nhờ đó khi tham gia trao đổi mua bán với các
quốc gia khác - xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế, nhập khẩu những sản
phẩm kém lợi thế - họ sẽ có lợi.
Thứ hai, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế giúp mở rộng khả năng
sản xuất của mỗi quốc gia thông qua thị trường quốc tế rộng lớn. Nhờ có thị
trường tiêu thụ, các nhà sản xuất trong nước không ngừng đầu tư để phát triển
sản xuất, từ đó không những mở rộng quy mô sản xuất mà còn góp phần nâng
cao năng suất lao động cá biệt, hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Thứ ba, hoạt động này giúp tạo vốn và kỹ thuật từ bên ngoài. Việc tăng
cường xuất khẩu để tự cân đối ngoại tệ trong cán cân thương mại, tạo nguồn
cung cấp tài chính cho nhập khẩu kỹ thuật công nghệ, máy móc, thiết bị hiện
đại từ bên ngoài đã góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển. Đây là
điều kiện vật chất rất quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Thứ tư, hoạt động xuất khẩu có tác dụng kích thích đổi mới trang thiết
bị, công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, qua đó kích thích lực
lượng sản xuất phát triển. Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường thế giới về
quy cách, phẩm chất của sản phẩm, một mặt doanh nghiệp phải đổi mới trang
thiết bị công nghệ, mặt khác phải nâng cao trình độ tay nghề của người lao
động, học hỏi kinh nghiệm sản xuất và bản thân người quản lý phải không
ngừng học tập nâng cao sự hiểu biết và trình độ quản lý.
Thứ năm, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đã góp phần giải quyết
công ăn việc làm và nâng cao mức sống cho người lao động. Thông qua hoạt
động xuất khẩu, các quốc gia tăng cường đầu tư phát triển sản xuất, từ đó tạo
ra nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.


- 8 -
gắn liền với sự hiện diện ngẫu nhiên của sự vật, hiện tượng có thể đo lường
được bằng xác suất, có nghĩa là rủi ro là sự cố ngẫu nhiên không phụ thuộc
vào ý chí của con người.
Marilu Hurt MrCarthy thuộc viện khoa học kỹ thuật Georgia (Mỹ) lại
cho rằng: “Rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai
có thể xác định được”[4]. Theo đó, kinh nghiệm của một công ty có thể cung
cấp chứng cứ về tần số của các biến cố riêng biệt trong quá khứ, do đó cho
phép các nhà quản trị xác định phân bổ xác suất xuất hiện của các biến cố
tương lai. Tuy vậy, sự xuất hiện của các biến cố còn bị ảnh hưởng bởi những
yếu tố tác động hiện tại.
Theo Từ điển kinh tế học hiện đại, “Rủi ro là hoàn cảnh trong đó một sự
kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự
kiện đó có một phân phối xác suất”[4].
Còn trong tác phẩm: “Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro
trong kinh doanh”, tác giả Nguyễn Hữu Thân, có viết: “Rủi ro là sự bất trắc
gây ra mất mát, thiệt hại”[4]. Bất trắc chính là những điều không lường trước
được. Như vậy theo khái niệm này thì, rủi ro phải là bất trắc gây ra hậu quả
cho con người, còn những bất trắc không gây ra tổn thất không phải là rủi ro.
Như vậy, đa số các nhà kinh tế và học giả đều cho rằng: rủi ro là những
điều không chắc chắn về những gì xảy ra trong tương lai nhưng có thể đo
lường được, xác định được ở một mức độ nào đó. Điều này có nghĩa là con
người có thể lường trước được những rủi ro có khả năng xảy ra và phòng
ngừa, hạn chế được những rủi ro ở mức tối đa.
1.2.1.2. Đặc điểm của rủi ro
Từ các khái niệm trên, ta thấy rủi ro trong kinh doanh có những đặc
điểm sau:
- Tính khách quan: rủi ro tồn tại khách quan, rủi ro có thể xảy ra bất cứ
lúc nào và không phụ thuộc vào ý chí của con người.


- 10 -
doanh trở nên khắc nghiệt, khó khăn hơn. Sự tác động của môi trường tự
nhiên bất lợi làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đầy bất định và
chứa nhiều rủi ro hơn.
- Môi trường chính trị: Sự ổn định chính trị là điều kiện vô cùng quan
trọng đảm bảo cho một quốc gia phát triển và thịnh vượng. Kinh doanh trong
một môi trường chính trị ổn định là điều kiện cần cho sự thành công của các
doanh nghiệp. Với một môi trường chính trị bất định, doanh nghiệp sẽ thường
xuyên gặp phải những rủi ro không lường trước được. Hậu quả của những
loại rủi ro này sẽ rất nghiêm trọng đối với doanh nghiệp bởi vì rủi ro chính trị
thường là nguyên nhân của nhiều rủi ro khác và tạo ra chuỗi rủi ro.
- Môi trường kỹ thuật: Kỹ thuật là nhân tố nền tảng quyết định sản xuất,
quyết định phát triển năng suất lao động trong mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh. Xét về phương diện nào đó, phát triển khoa học kỹ thuật cũng tạo ra
những rủi ro trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh. Mặt khác, trong
kinh doanh, khi khoa học mới ra đời và nhanh chóng được áp dụng sẽ là nguy
cơ rủi ro trong đầu tư cho nhiều doanh nghiệp đang áp dụng kỹ thuật cũ. Để
phòng chống rủi ro loại này, nhiều doanh nghiệp phải mua quyền sử dụng các
phát minh, sáng chế nhằm tiếp cận kỹ thuật mới trong quá trình hoạt động
kinh doanh của mình.
- Môi trường xã hội: Trong kinh doanh không thể không đề cập đến môi
trường xã hội. Nếu có những hiểu biết sâu sắc về xã hội, doanh nghiệp sẽ tạo
dựng cho mình một nền tảng vững chắc trong kinh doanh. Nếu kinh doanh mà
thiếu tri thức về xã hội sẽ gặp phải nhiều rủi ro và bất trắc. Môi trường xã hội
có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thông qua một số nhân tố thuộc
quan hệ xã hội, tôn giáo, văn hóa, đạo đức, tập quán,… Sự khác biệt về tôn
giáo, văn hóa, phạm trù đạo đức, tập quán luôn làm gia tăng tính bất định
trong quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp.


- 12 -
hưởng xấu đến môi trường kinh doanh, làm cho hoạt động kinh doanh không
có hiệu quả, làm tăng mức độ rủi ro trong đầu tư, khi doanh nghiệp bỏ một
lượng vốn rất lớn nhưng sau một thời gian kinh doanh không thu hồi được
vốn tính theo giá trị cũ. Nếu lạm phát quá nhanh, mọi người sẽ đầu cơ nhiều
hàng hóa, từ đó hạn chế lưu thông , trao đổi hàng hóa, đương nhiên sản xuất
cũng không thể phát triển.
- Cung cầu và giá cả hàng hóa: Sự biến đổi của giá cả hàng hóa là do tác
động giữa cung và cầu trên thị trường, là một trong những nhân tố thường
nằm ngoài tầm kiểm soát của các cá nhân và tổ chức. Nằm ngoài ý chí của
con người, giá cả có thể làm cho các cá nhân, tổ chức này gặp may mắn
nhưng cũng có thể làm cho các cá nhân, tổ chức khác gặp rủi ro.
- Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là sự thể hiện một đơn vị tiền tệ này
đổi được bao nhiêu đơn vị tiền tệ khác. Sự biến đổi tỷ giá hối đoái ảnh hưởng
rất lớn đến lợi nhuận của các doanh nghiệp. Khi xuất khẩu nếu tỷ giá giảm
hoặc khi nhập khẩu nếu tỷ giá tăng thì sẽ làm giảm lợi nhuận trong kinh
doanh.
- Thiếu thông tin về kinh tế, xã hội: Khi doanh nghiệp không tiếp cận
được nguồn thông tin hoặc sai lệch thông tin dẫn đến những sai lầm trong
công tác xây dựng chiến lược đầu tư, lựa chọn thị trường, ngành hàng… khi
ra quyết định kinh doanh. Tuy đây không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra
rủi ro nhưng nó có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của các doanh nghiệp
cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự ảnh hưởng này còn phụ thuộc vào
quy mô hoạt động kinh doanh, từ đó quyết định đến mức độ nghiêm trọng của
rủi ro.
- Khách hàng hoặc người thứ ba gây ra rủi ro: Trong hoạt động sản xuất,
kinh doanh, cá nhân và tổ chức phải quan hệ với rất nhiều người và tổ chức
khác nhau. Chính từ mối quan hệ này đã phát sinh các nhân tố có thể gây ra
rủi ro, tổn thất cho cá nhân hoặc tổ chức.


- 14 -
1.2.1.4. Phân loại rủi ro:
Trên thực tế tồn tại rất nhiều loại rủi ro. Ở mỗi lĩnh vực khác nhau,
ngoài những rủi ro chung còn gặp phải những rủi ro riêng. Trong hoạt động
kinh doanh cũng như trong đời sống kinh tế xã hội, việc phân loại rủi ro là hết
sức cần thiết để hiểu và nắm bắt được rủi ro, từ đó có thể đưa ra những
phương pháp quản trị rủi ro tốt nhất. Có nhiều tiêu thức để phân loại rủi ro.
Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu:
a) Căn cứ vào tính chất của rủi ro
Theo căn cứ này, có hai loại rủi ro: rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán.
- Rủi ro thuần túy: là rủi ro chỉ mang lại những thiệt hại, mất mát, nguy
hiểm như: mất cắp, hỏa hoạn, tai nạn giao thông,… làm phát sinh một khoản
chi phí để bù đắp thiệt hại nên cần phải phòng tránh hoặc hạn chế.
- Rủi ro suy đoán: là rủi ro mà trong đó những cơ hội tạo ra thuận lợi
gắn liền với những nguy cơ gây ra tổn thất. Loại rủi ro này là động lực thúc
đẩy hoạt động kinh doanh và có tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.
b) Căn cứ vào khả năng bảo hiểm
Trên góc độ của người kinh doanh bảo hiểm, rủi ro được chia thành rủi
ro được bảo hiểm, rủi ro không được bảo hiểm và rủi ro phải bảo hiểm riêng.
- Rủi ro được bảo hiểm: là những rủi ro có tính bất ngờ, ngẫu nhiên, xảy
ra ngoài ý muốn của người được bảo hiểm.
- Rủi ro không được bảo hiểm: là những rủi ro không được người bảo
hiểm nhận bảo hiểm hoặc không được người bảo hiểm bồi thường trong mọi
trường hợp. Đó là rủi ro đương nhiên xảy ra, chắc chắn xảy ra, hoặc các thiệt
hại do nội tỳ, bản chất của hàng hóa, do lỗi của người được bảo hiểm, thiệt
hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm trễ, những rủi ro có tính chất thảm họa
mà con người không lường trước được quy mô, mức độ và hậu quả.
- Rủi ro phải bảo hiểm riêng: là những rủi ro mà muốn được bảo hiểm
thì phải thỏa thuận thêm, thỏa thuận riêng.


- 16 -
nghiệp, tuyển dụng, đãi ngộ nhân viên, tâm lý của người lãnh đạo…hay bên
ngoài doanh nghiệp như quan hệ với khách hàng (cả nhà cung cấp đầu vào lẫn
người tiêu thụ đầu ra), đối thủ cạnh tranh…
1.2.2. Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
1.2.2.1. Đặc điểm riêng của rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
Ngoài những đặc điểm chung đã nêu ở trên, rủi ro trong hoạt động mua
bán hàng hóa quốc tế còn có những điểm khác biệt cơ bản sau đây:
- Tần suất rủi ro: Trong quá trình kinh doanh mua bán hàng hóa quốc tế,
mỗi doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ rủi ro ở tất cả các lĩnh
vực khác nhau thuộc môi trường kinh doanh trong và ngoài nước, tức là bao
gồm rất nhiều nhân tố ảnh hưởng thuộc nguyên nhân khách quan, chủ quan
tác động làm gia tăng rủi ro. Qua đó cho thấy rằng rủi ro trong hoạt động mua
bán hàng hóa quốc tế thường xảy ra với tần suất lớn hơn.
- Mức độ nghiêm trọng của rủi ro: Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
thường được thực hiện giữa các đối tác có khoảng cách địa lý xa, với những
thương vụ có giá trị lớn nên khi xảy ra rủi ro thường rất nghiêm trọng, khó có
thể nhanh chóng hạn chế tổn thất và gây thiệt hại lớn về tài sản cho các cá
nhân và tổ chức. Mặt khác trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp
thường gặp phải những hiểm họa, nguy cơ nghiêm trọng như: hiểm họa tự
nhiên, sự cầm giữ của chính quyền, chiếm đoạt của các thế lực chính trị,
khủng hoảng kinh tế, sụt giá, cạnh tranh kinh tế… cũng làm gia tăng mức độ
nghiêm trọng của rủi ro.
- Tính đa dạng, phức tạp của rủi ro: hoạt động mua bán hàng hóa quốc
tế là hoạt động rất phức tạp liên quan đến các yếu tố như: chủ thể kinh doanh,
ngôn ngữ, luật áp dụng, tạp quán thương mại quốc tế, sự di chuyển hàng hóa
và chứng từ, tiền tệ và thanh toán quốc tế… nên rủi ro xảy ra trong quá trình
mua bán hàng hóa quốc tế diễn ra hết sức đa dạng, phức tạp. Thực tế cho thấy
hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thường xảy ra những rủi ro mang tính


- 18 -
khá dài. Trong khoảng thời gian đó tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền tính giá hay
đồng tiền thanh toán trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế so với các
đồng tiền khác có thể bị thay đổi. Sự thay đổi này sẽ tạo ra rủi ro cho hoạt
động mua bán hàng hóa quốc tế.
- Rủi ro do giá cả thị trường thay đổi:
Rủi ro này rất dễ xảy ra đối với các mặt hàng nhạy cảm như hàng nông
lâm sản, hàng thủy hải sản chưa qua chế biến, hàng nguyên liệu… Từ khi
giao dịch ký kết hợp đồng cho đến khi giao hàng, giá cả hàng hóa đó trên thị
trường thế giới có thể thay đổi gây nên những tổn thất trực tiếp cho hợp đồng
đã ký kết. Hoặc do giá cả hàng hóa thay đổi làm cho đối tác có ý định trì hoãn
hoặc không muốn thực hiện hợp đồng, gây khó khăn cho doanh nghiệp làm
doanh nghiệp phải tăng chi phí dẫn đến giảm hiệu quả trong hoạt động kinh
doanh.
- Rủi ro do chính sách ngoại thương thay đổi:
Chính sách ngoại thương là hệ thống các nguyên tắc, các biện pháp kinh
tế, hành chính, luật pháp nhằm thực hiện điều tiết các hoạt động mua bán
hàng hóa quốc tế của một Nhà nước trong một giai đoạn nhất định. Trong
hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, do sự thay đổi của chính sách ngoại
thương, doanh nghiệp có thể gặp rất nhiều rủi ro khác nhau nhưng cơ bản nhất
vẫn là những rủi ro do các quy định về hạn ngạch, thủ tục hải quan, thuế xuất
nhập khẩu và một số các quy định hành chính khác.
Đây là loại rủi ro mà các nhà kinh doanh, nhất là các nhà xuất nhập
khẩu lo ngại nhất. Một biến động mạnh về chính trị, pháp lý xảy ra có thể làm
đảo lộn các kế hoạch của các doanh nghiệp, khiến cho các doanh nghiệp bị
động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
b) Rủi ro phát sinh từ quá trình thực hiện các nghiệp vụ mua bán hàng
hóa quốc tế

- 19 -

phương diện con người, tài chính, thương mại sao cho chúng trở nên ít gây
tổn thương nhất cho doanh nghiệp.
1.3.2. Vai trò của quản trị rủi ro với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
Rủi ro luôn tồn tại song hành và có mối quan hệ tương tác với hoạt động
mua bán hàng hóa quốc tế cũng như hoạt động kinh doanh thương mại quốc
tế. Tăng quy mô xuất nhập khẩu đồng thời sẽ làm gia tăng quy mô và xác suất
rủi ro. Ngược lại, rủi ro là nguyên nhân trực tiếp cũng như gián tiếp hạn chế
sự tăng trưởng của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế. Do vậy hạn chế rủi
ro có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
Hơn thế nữa, các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động mua bán hàng
hóa quốc tế đều nhằm đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo
được an toàn trong kinh doanh. Muốn vậy, doanh nghiệp chỉ có cách là phải
nghiên cứu những rủi ro mà mình có thể phải đối mặt và đưa ra phương
hướng giải quyết một cách chủ động nhất. Vì vậy, có thể nói quản trị rủi ro
trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế là vô cùng quan trọng và cần thiết
nhằm mang lại an toàn cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.
Quản trị rủi ro nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu
những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro có thể xảy ra. Nếu doanh nghiệp kinh
doanh trong một môi trường bất định mà không có những biện pháp quản trị
rủi ro tốt thì doanh nghiệp rất dễ thất bại. Quản trị rủi ro có vai trò to lớn với
doanh nghiệp, được thể hiện như sau:
- Quản trị rủi ro là chức năng được hình thành một cách khách quan,
xuất phát từ lợi ích mang lại cho doanh nghiệp.
- Quản trị rủi ro nhằm nhận dạng, dự báo và triệt tiêu những nguyên
nhân gây ra rủi ro, nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp có được môi trường kinh
doanh thuận lợi, ít bất trắc.

- 21 -
- Quản trị rủi ro là biện pháp nhanh chóng ứng biến, khắc phục, khoanh
vùng hậu quả rủi ro mỗi khi có tổn thất xảy ra, giúp doanh nghiệp nhanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status