TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH: KINH DOANH QUỐC TẾ
===***===
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
KẾ TOÁN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG: KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Họ tên sinh viên : Nguyễn Thị Hòa
Lớp : Nhật 2 – QTKDB
Khóa : 45
Giáo viên hướng dẫn : TS. Trần Thị Kim Anh
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỒ THỊ
1. Sự cần thiết của đề tài
Ngày nay, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng đổi
mới và nâng cao trình độ quản lý. Trong tương lai không xa, doanh nghiệp có chỉ số
cạnh tranh cao nhất là doanh nghiệp đạt được các yêu cầu về phát triển kinh doanh
bền vững, nghĩa là đảm bảo cân bằng ba yếu tố: kinh tế, môi trường và trách nhiệm
xã hội.
Hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao đang đe dọa cuộc sống
của cộng đồng dân cư trên toàn cầu. Vì vậy, bảo vệ môi trường là trách nhiệm
không chỉ của chính phủ, mà mỗi cá nhân, doanh nghiệp đều phải có nghĩa vụ bảo
vệ môi trường. Chiến lược phát triển của Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến năm
2020 là phát triển kinh tế nhanh, bền vững, bảo vệ tốt môi trường và giải quyết hài
hòa các vấn đề kinh tế, môi trường và xã hội. Nhà nước quan tâm và ban hành ngày
càng nhiều các quy định pháp lý để hạn chế khai thác quá mức nguồn tài nguyên
phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội, hạn chế tới mức tối đa các hành vi vi phạm.
Các quy định về tài chính, các chuẩn mực và các chế độ kế toán hiện tại chưa đáp
ứng được những thông tin cần thiết về các chi phí liên quan đến môi trường như việc
phát hiện chi phí ẩn, phân bổ chi phí…cho việc ra quyết định và lập báo cáo tài
chính. Thực tế cho đến nay, chi phí môi trường trong các doanh nghiệp đang có xu
hướng ngày càng tăng, mà yếu tố chi phí môi trường và doanh thu môi trường
không nằm trong tài khoản hay tiểu khoản riêng rẽ nào của kế toán. Kế toán Quản lý
Môi trường giúp doanh nghiệp khắc phục tình trạng thiếu thông tin tạo điều kiện ra
quyết định tốt hơn trong doanh nghiệp.
Từ những nhận định trên cùng với sự giúp đỡ của TS. Trần Thị Kim Anh em
chọn đề tài: “Kế toán Quản lý Môi trường: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt
Nam” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45
Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45
3
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG
1. Tổng quan về Kế toán Quản lý Môi trƣờng (EMA)
1.1. Định nghĩa chi phí môi trƣờng và Kế toán Quản lý Môi trƣờng
(EMA)
Đa số các doanh nghiệp đều chỉ có thể nhận thấy các chi phí cho môi trường
là các chi phí xử lý cuối đường ống (như chôn lấp chất thải rắn, xử lý nước thải )
trong khi thực tế có nhiều chi phí môi trường đã không được nhìn thấy rõ ràng để
đưa vào hạch toán. Và Kế toán Quản lý Môi trường (Environmental Management
Accouting _ EMA) chính là công cụ giúp nhận dạng, phân tích tất cả các chi phí môi
trường trong quá trình quản lý và sản xuất của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp
tính ra được giá thực của một sản phẩm doanh nghiệp bán ra trên thị trường để xác
định được doanh thu cũng như lỗ lãi thực trong kinh doanh, từ đó có thể hỗ trợ
doanh nghiệp trong việc ra quyết định. Vậy Kế toán Quản lý Môi trường là gì? Và
chi phí môi trường là gì?
Theo quan niệm truyền thống, chi phí môi trường đồng nghĩa với chi phí bảo
vệ môi trường. Xét từ góc độ dòng vật chất và năng lượng, chi phí môi trường chính
là các chi phí liên quan đến dòng nguyên liệu và năng lượng gây nên những tác
động môi trường. Còn chi phí bảo vệ môi trường tương đương với các chi phí phải
tốn kém để giảm ô nhiễm môi trường (chi phí xử lý cuối đường ống).
Những quan niệm về chi phí môi trường trên hiện nay không hoàn toàn phù
hợp. Chi phí môi trường bao gồm những chi phí bên trong công ty và chi phí bên
ngoài liên quan đến những thiệt hại và bảo vệ môi trường. Chi phí bảo vệ môi
trường bao gồm các chi phí cho công tác phòng chống, xử lý, lập kế hoạch, kiểm
soát, thực hiện và khắc phục thiệt hại có thể xảy ra tại các công ty, chính phủ hoặc
cá nhân (Association of German Engineers, 2001). [14]
bao gồm sự suy thoái môi trường do sự lan truyền các chất ô nhiễm. Và giá cả sản
phẩm không được coi là giá ấn định hiện thời. Chi phí đó có thể được coi như một
yếu tố để đánh giá hiệu quả đầu tư. Chính phủ áp dụng các công cụ chẳng hạn như
thuế sinh thái, các quy định kiểm soát khí thải, phạt tiền gây ô nhiễm…tất cả các yếu
tố đó ảnh hưởng đến chi phí bên ngoài của công ty.
Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45
5
Các biện pháp bảo vệ môi trường bao gồm tất cả các hoạt động thực hiện
đúng pháp luật, phù hợp với các cam kết hoặc tự nguyện của công ty, hiệu quả về
phòng, chống và giảm tác động môi trường (Association of German Engineers,
2001).
Chi phí bảo vệ môi trường bao gồm tất cả chi phí cho các biện pháp bảo vệ
môi trường của một công ty để ngăn ngừa, giảm thiểu, kiểm soát và tài liệu khía
cạnh môi trường, tác động và nguy hiểm, cũng như xử lý, vệ sinh và chi dọn sạch.
Số tiền chi tiêu cho bảo vệ môi trường không trực tiếp liên quan đến việc thực hiện
môi trường (Association of German Engineers, 2001).
Tổng số chi tiêu bảo vệ môi trường của doanh nghiệp = Chi cho Bảo vệ môi
trường (rác thải và xử lý khí thải, quản lý môi trường và phòng chống ô nhiễm) +
Chi phí vật liệu lãng phí + Chi phí vốn và lao động lãng phí
Chi phí môi trường trong EMA không chỉ bao gồm chi tiêu bảo vệ môi
trường mà còn cung cấp thông tin tiền tệ quan trọng để quản lý hiệu quả chi phí và
nâng cao hiệu suất môi trường. Trong một số dự án, các chi phí xử lý chất thải thông
thường chiếm 1-10% tổng chi phí môi trường, trong khi chi phí mua nguyên vật liệu
lãng phí khoảng 40-70% chi phí môi trường (tùy vào doanh nghiệp).
Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) định nghĩa: “Kế toán Quản lý Môi
trường” là quản lý hoạt động kinh tế và môi trường thông qua việc triển khai và thực
hiện các hệ thống hạch toán và các hoạt động thực tiễn phù hợp liên quan đến vấn đề
môi trường”
1
PEMA được trình bày ở bảng 9-16. Công cụ PEMA được hiểu là tác động sinh thái
của công ty lên môi trường tự nhiên. PEMA sử dụng đại lượng vật lý phục vụ cho
các quyết định quản lý nội bộ. MEMA nhằm nghiên cứu riêng những tác động tài
chính của hoạt động môi trường. Nó cho phép nhà quản lý đánh giá tốt hơn những
tác động tiền tệ của sản phẩm và dự án mỗi khi đưa ra quyết định kinh doanh.
Nhược điểm của kế toán quản lý thông thường đó là bỏ qua phần lớn sự tách
biệt về cách xác định, phân loại, đo lường và báo cáo của những thông tin về môi
trường, đặc biệt là những chi phí môi trường, khi cung cấp những thông tin có liên
quan đối với công tác quản lý để đưa ra quyết định, đưa ra kế hoạch và nắm được sự
chủ động.
Do vậy, EMA phục vụ các nhà quản lý kinh doanh trong những quyết định
về đầu tư vốn, xác định chi phí, quyết định thiết kế quá trình/ sản phẩm, đánh giá
hoạt động và đưa ra một số quyết định kinh doanh trong tương lai. Vì vậy, EMA còn
có chức năng và trọng tâm trong nội bộ công ty, trái ngược với việc được coi là một
công cụ sử dụng trong báo cáo về chi phí môi trường cho các cổ đông bên ngoài. Nó 2
Nguồn: UNDSD, 2001
Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45
7
không bị giới hạn bởi những điều luật nghiêm ngặt như trong kế toán tài chính và
cho phép xem xét các điều kiện đặc biệt và nhu cầu của những công ty liên quan.
1.2. Sử dụng EMA [14]
Kế toán Quản lý Môi trường là phương pháp kết hợp giữa kế toán tài chính và
kế toán chi phí để tăng hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu, giảm thiểu tác động môi
trường và rủi ro, giảm chi phí bảo vệ môi trường. EMA nhằm khắc phục tình trạng
thiếu thông tin cho việc ra quyết định quản lý môi trường do hệ thống kế toán truyền
thống chỉ thừa nhận một số chi phí mà chưa phát hiện ra như:
- Tính chi phí, tiết kiệm và lợi ích của các dự án môi trường và các dự án
để tăng cường vật liệu, hiệu quả năng lượng;
- Thiết kế và thực hiện hệ thống quản lý môi trường;
- Thực hiện đánh giá môi trường và các chỉ số, tiêu chuẩn;
- Sản xuất sạch hơn, phòng ngừa ô nhiễm, quản lý chuỗi cung ứng và
thiết kế các dự án môi trường;
- Công bố chi phí môi trường, đầu tư và trả nợ;
- Công bố tính bền vững môi trường ra bên ngoài hoặc báo cáo giám sát;
- Giám sát và báo cáo lượng khí thải nhà kính;
- Báo cáo dữ liệu môi trường cho các cơ quan thống kê, chính quyền địa
phương.
Nâng cao và hài hòa chất lượng dữ liệu EMA là điều cần thiết cho doanh
nghiệp để tổng hợp phân tích thống kê, vì chúng cung cấp các thông tin cần thiết cho
một số quyết định lựa chọn đầu tư các dự án, dữ liệu EMA có thể được thu thập,
phân tích và sử dụng tại các hệ thống khác nhau như: toàn bộ tổ chức; một nhóm
doanh nghiệp cụ thể; một sản phẩm cụ thể hoặc dòng sản phẩm; một chi phí trọng
tâm cụ thể; một dòng thiết bị hoặc quy trình cụ thể….
Do đó, EMA sẽ có một danh sách các tài khoản kế toán cung cấp thông tin
chi phí cho tổ chức. Sử dụng danh sách tài khoản cho phép đánh giá trên diện rộng
các chi phí hàng năm liên quan đến môi trường. Nhiệm vụ quan trọng nhất của
EMA là đảm bảo rằng các chi phí có liên quan đến môi trường đều được xem xét
khi đưa ra các quyết định kinh doanh. Kế toán Quản lý Môi trường không chỉ đơn
giản là làm tốt hơn, kế toán quản lý toàn diện mà nó phải tìm ra được các chi phí ẩn,
chi phí bị che giấu đi.
1.3. Chức năng của EMA
Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45
9
Trong giai đoạn mà nhận thức môi trường của cộng đồng, chính phủ và
doanh nghiệp ngày càng gia tăng. Tìm một phương pháp để vừa có thể nâng cao
10
Ảnh hưởng của các vấn đề môi trường trong các chi phí sản xuất thường
không được tính đến hoặc chưa được tính toán đầy đủ. Các chi phí môi trường có
thể nhìn thấy được (hữu hình) là các chi phí xử lý cuối đường ống (xử lý nước thải,
chôn lấp chất thải rắn ) chỉ là phần nổi của tảng băng, chúng chỉ chiếm một tỷ lệ rất
nhỏ so với các chi phí môi trường ẩn là các chi phí không tạo ra sản phẩm (nguyên
vật liệu, năng lượng, máy móc, nhân công đóng góp vào việc tạo ra chất thải).
EMA sẽ cho phép nhận dạng, phân tích và tính toán các chi phí ẩn này để từ đó đề
xuất các cơ hội giảm thiểu. Chẳng hạn, việc giảm thiểu chất thải rắn không chỉ giảm
chi phí tiêu hủy nó mà còn giảm được chi phí mua nguyên vật liệu đầu vào, chi phí
vận hành (sử dụng ít nguyên liệu hơn), giảm được chi phí nhân công, chi phí hành
chính trong việc tồn trữ nguyên vật liệu và chất thải Không những thế EMA còn
cho phép đánh giá chính xác chi phí ô nhiễm và chất thải.
1.4.2. Hỗ trợ quá trình ra quyết định
Các quyết định mang đến lợi nhuận thường dựa trên các thông tin đầy đủ và
chính xác. EMA cung cấp cho những người ra quyết định các thông tin đầy đủ và
chính xác về các chi phí liên quan đến môi trường. EMA nhận diện các chi phí liên
quan đến môi trường trong từng sản phẩm và từng quy trình sản xuất mà thông
thường được phân bổ hoặc ẩn chứa trong các chi phí chung.
1.4.3. Cải thiện hiệu quả hoạt động kinh tế và môi trƣờng
Có rất nhiều cơ hội để cải thiện hiệu quả hoạt động môi trường của doanh
nghiệp, như đầu tư vào các công nghệ sạch hơn, thực hiện các chương trình ngăn
ngừa ô nhiễm, giảm thiểu chất thải, lắp đặt các hệ thống xử lý ô nhiễm Vấn đề là
những cơ hội nào, giải pháp nào có thể tạo ra lợi nhuận, thu được những khoản tiết
kiệm? Bằng cách đánh giá hiệu quả của những cơ hội này, lựa chọn những giải pháp
làm gia tăng lợi ích cho doanh nghiệp và giảm thiểu các tác động môi trường của
các sản phẩm và các quy trình sản xuất, EMA đã tạo ra những tình huống đôi bên
cùng có lợi. Vì thế EMA cho phép xác định được mức độ ưu tiên và tiềm năng giảm
chi phí sản xuất và là cơ sở cho nhiều quyết định kinh doanh khác đồng thời nâng
cao chiến lược cạnh tranh dài hạn. Rõ ràng, doanh nghiệp sẽ không chỉ được cải
khả năng tách riêng phần chi phí đó khỏi chi phí tổng của sản xuất, giá của sản phẩm
sẽ không phản ánh đúng chi phí thực sự của sản xuất. Những sản phẩm ô nhiễm sẽ có
lợi nhuận cao hơn giá trị thực sự của chúng bởi vì một vài chi phí sản xuất đã bị ẩn đi
Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45
12
và không được tính vào trong giá bán. Những sản phẩm ứng dụng công nghệ sạch
hơn mà phải chịu những chi phí môi trường nhiều hơn mà giá thành lại cao hơn. Điều
này bởi vì giá của sản phẩm ảnh hưởng đến nhu cầu, mức giá thấp hơn của sản phẩm
ô nhiễm sẽ duy trì nhu cầu và khuyến khích các công ty tiếp tục sản xuất, thậm chí có
lẽ nhiều hơn cả mức của sản phẩm ít ô nhiễm hơn.
Cuối cùng, việc áp dụng EMA sẽ làm tăng gấp bội lợi nhuận thu được từ
những công cụ quản lý môi trường khác. Bên cạnh công cụ đánh giá sản xuất sạch
hơn, EMA cũng rất hữu ích chẳng hạn trong việc đánh giá tầm quan trọng của các
yếu tố và các tác động của môi trường, và ưu tiên cho những kế hoạch hành động
tiềm năng trong giai đoạn thực hiện và hoạt động của hệ thống quản lý môi trường
EMA. EMA cũng dựa trên những thông tin môi trường thực tế. Do đó, cần có sự
hợp tác chặt chẽ hơn giữa các nhà quản lý môi trường và các nhà kế toán quản trị và
cũng cần ý thức thêm về nhiệm vụ và những mối quan tâm của các bên.
Là một công cụ, EMA có thể được sử dụng cho những sản phẩm, quá trình
đảm bảo an toàn cho môi trường hoặc trong việc quyết định đầu tư dự án. Vì vậy,
một hệ thống thông tin EMA sẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp đánh giá tốt hơn
những tác động kinh tế của các hoạt động môi trường trong kinh doanh.
2.1. Quyết định liên quan đến sản phẩm/ quy trình
Tính toán chính xác chi phí của sản phẩm là tiền đề cho quyết định kinh
doanh an toàn. Việc tính toán chính xác giá cả của sản phẩm là cần thiết cho những
quyết định mang tính chiến lược liên quan đến khối lượng và sự lựa chọn sản phẩm
để sản xuất. EMA chuyển đổi nhiều loại chi phí tổng liên quan đến môi trường
thành chi phí trực tiếp và phân bổ chúng vào trong sản phẩm thành giá thành bên
trong.
dự án kéo dài phải được gộp vào trong bản đánh giá dự án.
Những phân tích chung mang lại lợi nhuận cần được thực hiện bằng cách sử
dụng các thời gian biểu và chỉ số mà không phân biệt tách rời các khoản tiền dự
phòng và lợi ích dài hạn. Giá trị ròng tức thời cùng tỷ lệ giữa lợi nhuận và chi phí
được coi là những tiêu chí đầu tư tốt hơn những khoản thu lợi nhuận đơn giản hoặc
tỷ lệ nội hoàn lợi nhuận để phản ánh các lợi nhuận và chi phí thực. Cần thực hiện
những phân tích chính xác nhạy cảm trong đầu tư đối với các chi phí môi trường và
cần phải xem xét tới tác động của những thay đổi về giá đầu vào và thay đổi trong
Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45
14
tương lai của cách thức quản lý (lệ phí, các loại án phạt). Cũng cần phải kiểm tra các
khả năng khác, đánh giá những khả năng ngẫu nhiên cùng các chi phí môi trường
bên ngoài.
Vì vậy, EMA là một công cụ quan trọng trong việc tích hợp những tính toán
cân nhắc về môi trường vào trong các bản đánh giá tài chính và việc đưa ra quyết
định đầu tư mới: những quyết định đầu tư thân thiện với môi trường sẽ cho thấy sự
gia tăng của lợi nhuận trong tương lai dài hạn nếu tất cả các nhân tố này đều được
bao gồm trong một mô hình.
3. Nội dung của phƣơng pháp luận EMA
Phương pháp EMA dựa trên cơ sở các đơn vị tiền tệ và vật lý. Về cơ bản, hai
cơ sở này không thống nhất với nhau. Nhưng khi thực hiện hạch toán thì có mối liên
hệ mật thiết. Kế toán vật lý cung cấp thông tin dữ liệu về dòng nguyên vật liệu cần
thiết để cải tiến tiềm năng trong công tác phòng chống lãng phí và sản xuất sạch
hơn….Trong kế toán vật lý, tính toán lượng đầu vào và đầu ra của dòng nguyên vật
liệu, lãng phí là điều cần thiết và quan trọng. Các thông tin đó là điều kiện tiên quyết
cho việc tính toán chi phí liên quan đến môi trường. Kế toán tiền tệ bao gồm các
hoạt động như là kế toán chi phí, thống kê (định hướng), lập ngân sách (định hướng
tương lai), đầu tư thẩm định (định hướng tương lai) để giúp cho các nhà hoạch định
tính toán giá cả sản phẩm chính xác, cung cấp thông tin ra bên ngoài….
3.Chi phí mua nguyên liệu của
đầu ra phi sản phẩm
4.Chi phí xử lý đầu ra phi sản
phẩm
3.1. Hạng mục 1: Chi phí xử lý chất thải.
Hạng mục này gồm nhiều chi phí theo truyền thống gọi là “chi phí cuối
đường ống”. UNDSD đề xuất rằng sự hợp nhất và phân bố của các chi phí nằm
trong 7 mục sau [34]:
Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45
16
- Khấu hao thiết bị: Bao gồm các thiết bị xử lý cuối đường ống để giảm
thiểu tác động môi trường của chất thải và khí thải. Các thiết bị xử lý như là: các
container chứa rác, các nhà máy xử lý nước thải và các phế thải trong công nghệ sử
dụng đường ống, thiết bị xử lý chất thải (tách chất thải rắn, vận chuyển và thiết bị
nén), thiết bị xử lý rác tại chỗ, thiết bị xử lý chất thải và khí thải (hệ thống xử lý
nước thải, khử lưu huỳnh, loại bỏ NOx, thiết bị giảm tiếng ồn). Khi tính khấu hao
thiết bị này cần phải xem xét xem thiết bị có kết hợp chặt chẽ với thiết bị sản xuất
không. Nếu thiết bị này riêng biệt thì việc tính khấu hao dựa trên chi phí đầu tư ban
đầu, nếu tích hợp với thiết bị sản xuất thì cần phải tính toán tỷ lệ phần trăm chi phí
đầu tư có liên quan đến thiết bị bảo vệ môi trường.
- Bảo trì và vận hành các tài nguyên và dịch vụ: Những vật liệu này được
xác định sau khi chỉ rõ được những phương tiện xử lý môi trường liên quan đến
khấu hao thiết bị. Chi phí hàng năm cho những vật liệu vận hành bảo dưỡng kiểm
tra và các chi phí khác để vận hành thiết bị xử lý được đưa vào tài khỏan này.
- Chi phí liên quan đến nhân lực: Tiểu khoản này bao gồm tất cả các chi
phí nhân công cho thời gian xử lý rác thải và khí thải bằng tay trong các hoạt động
đầu tư, bảo dưỡng (bảo trì nhà máy xử lý nước thải), xử lý chất thải (phân biệt chất
thải, thu thập, kiểm tra, vận chuyển nội bộ), xử lý chất thải và khí thải ( hoạt động
của nhà máy xử lý nước thải và lò đốt), quản lý bãi chôn lấp tại chỗ, việc tuân thủ
quy định (theo dõi, ghi lưu giữ, kiểm tra, thông báo và đào tạo). Chi phí này được trả
cho toàn bộ các công nhân làm cả ngày để thu nhặt và xử lý rác thải giải quyết một
cách trực tiếp, lương của bộ phận quản lý, giám sát các hoạt động xử lý rác thải công
việc cũng như được bao gồm trong tiểu khoản này, căn cứ vào ước tính.
ra con số 17.1 tỉ yên chi phí môi trường trong năm 2003 và 23 tỉ yên tiết kiệm [38],
5.9 tỉ yên chênh lệch là bằng chứng cho hiệu quả tích cực về kinh tế và môi trường.
Mục khó khăn nhất trong hạng mục này là bảo hiểm rủi ro môi trường, mục mà sẽ
đảm bảo cho việc đầu tư trong tương lai.
3.2. Hạng mục 2: ngăn ngừa và quản lý môi trƣờng
Hạng mục chi phí này bao hàm việc ngăn chặn các tác động môi trường và
quản lý các chương trình môi trường. Loại chi phí này gồm:
- Các dịch vụ thuê ngoài để quản lý môi trường: Chi phí này bao gồm
việc chi trả cho các dịch vụ tư vấn môi trường, đào tạo, kiểm tra, kiểm toán và
truyền thông tin.
Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45
18
- Nhân sự cho các hoạt động quản lý môi trường nói chung: Chi bồi
dưỡng cho người lao động làm việc trong các chương trình môi trường như các hoạt
động đào tạo, kiểm toán, thực hiện và tuyên truyền.
- Nghiên cứu và phát triển: Cả các hợp đồng thuê ngoài và trả thù lao
nhân công trong công ty tham gia vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển liên
quan đến môi trường được tính toán tách bạch. Các hoạt động nghiên cứu và phát
triển được tăng cường nếu có sự cải thiện về môi trường và sẽ được ghi nhận vào
các báo cáo tại khoản mục này.
- Chi phí bổ sung cho công nghệ làm sạch: Là các khoản đầu tư bổ sung
để lắp đặt công nghệ làm sạch cho phép quá trình sản xuất hiệu quả hơn, làm giảm
hoặc là ngăn ngừa khí thải vào môi trường. Bao gồm cả chi phí khấu hao thiết bị liên
quan đến môi trường, vật liệu hoạt động, nước và năng lượng liên quan đến công
nghệ làm sạch mới.
- Các chi phí quản lý môi trường khác: Các chi phí khác liên quan đến
quản lý môi trường được ghi nhận ở đây bao gồm: chi phí cho các hoạt động môi
trường như phối hợp tài trợ cho hoạt động môi trường và phát hành các báo cáo về
môi trường, đóng góp sáng kiến môi trường hoặc bảo tồn thiên nhiên trong chính
- Nguyên vật liệu phụ: Các nguyên vật liệu phụ là một phần của sản
phẩm nhưng lại không phải là thành phần chính. Loại chi phí này đề cập đến các
nguyên vật liệu phụ được thải ra trong quá trình sản xuất.
- Nguyên liệu hoạt động: Loại chi phí này bao gồm tất cả các vật liệu sử
dụng trong hoạt động của công ty (rác thải văn phòng) nhưng không phải là thành
phần của sản phẩm. Ví dụ như hóa học, dung môi, chất tẩy rửa và các loại khác đi
cùng với phế thải.
- Năng lượng: Bao gồm tỷ lệ của quá trình chuyển đổi năng lượng không
có ích trong hoạt động sản xuất.
- Nước: Loại chi phí này tổng hợp tất cả các nguyên vật liệu khác,
chuyển đến thiết bị xử lý nước thải bao gồm chi phí mua nguồn nước tại đó.
Nghiên cứu của EPA [38] thấy rằng kết quả của chi phí vật liệu lãng phí
trong việc mạ điện (vật liệu phủ, chất xúc tác, chất phụ gia, chất làm sạch và nước)
là các chi phí ẩn của chất thải vật liệu có thể chia thành 2 nguồn – chênh lệch giữa
lượng vật liệu phủ thu mua và lượng kim loại tiêu tốn, và sự chênh lệch giữa lượng
kim loại tiêu tốn và lượng thực tế cần để mạ sản phẩm [37]
Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45
20
3.4. Hạng mục 4: chi phí xử lý phế thải
Hạng mục này chỉ có ở những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất và khai
thác tài nguyên. Gồm các tiểu khoản:
Sản phẩm và sản phẩm phụ: sản phẩm bao gồm tất cả các sản phẩm vật lý và
bao bì. Sản phẩm phụ là sản phẩm ngẫu nhiên được sản xuất trong khi sản xuất các
sản phẩm chính.
Đầu ra phi sản phẩm bao gồm: chất thải, nước thải, khí thải….Bất kỳ đầu ra
đó không phải là sản phẩm được gọi là đầu ra phi sản phẩm (NPO). Các chất thải ra
ở dạng rắn, nước hoặc khí.
Chi phí này bao gồm cả chi phí lao động lãng phí, khấu hao và các nguyên
vật liệu hoạt động tiêu hao trong số lượng nguyên vật liệu có dùng trong sản xuất
23.859$ từ kế hoạch, lợi nhuận chỉ là 2.4% của số tiền tiết kiệm được, phần lớn của
số tiền tiết kiệm đó là từ việc giảm thiểu chi phí xử lý chất thải (hạng mục 1). Kết
quả này có thể gợi ra suy nghĩ rằng tái chế thường dẫn tới tiết kiệm chi phí hơn là
sinh lợi. Trong khi tiết kiệm chi phí có vẻ giống với lợi nhuận, trọng tâm của hạng
mục doanh thu môi trường là ở các nguồn lợi nhuận ngoài. Ví dụ cho doanh thu môi
trường là việc tiêu thụ các sản phẩm phụ. Theo Deegan quy trình carbon hóa len tạo
ra len chất lượng kém ở Michell dẫn tới một lượng lớn các phụ phẩm như là len dính
dầu và các sợi dọc bị đứt. Michell có thể xử lý các phụ phẩm này như chất thải và trả
tiền để chôn chúng hoặc họ có thể bán các phụ phẩm này đi. Len dính dầu bán được
khoảng 2$Úc/kg và có nhiều công dụng. Sợi len dọc bị đứt được bán như sản phẩm
len ở mức độ thấp hơn cho nhiều quy trình và các sản phẩm khác.
4. Tích hợp Kế toán Quản lý Môi trƣờng với hiệu quả sinh thái
Nhìn chung hiệu quả đánh giá mối liên hệ giữa các yếu tố đầu ra và đầu vào
đối với một quy trình. Với đầu vào cho sẵn, đầu ra càng cao, đầu vào càng thấp, thì
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp đó càng hoạt động hiệu quả.
Hiệu quả là một khái niệm đa chiều. Các yếu tố đầu ra và đầu vào của đơn vị
được đánh giá sẽ có thể khác nhau. Nếu đầu ra và đầu vào được nhìn dưới góc độ
thuật ngữ tài chính, thì hiệu quả thường chỉ khả năng sinh lời hoặc hiệu suất tài
chính. Những tiêu chuẩn đánh giá khả năng sinh lời tiêu biểu bao gồm tỷ suất sinh
lời trên doanh thu, tỷ suất sinh lời của vốn cổ phần trên tài sản thuế…. Hiệu quả
kinh tế chỉ ra hoạt động xã hội trong dài hạn có thể bền vững hay không và trong
Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45
22
bao lâu. Về kỹ thuật, thường tập trung vào các tiêu chuẩn đánh giá hữu hình chẳng
hạn như kg….Tiêu chuẩn đánh giá năng suất gồm: sản lượng mỗi giờ, sản lượng
trên mỗi lao động. Chênh lệch giữa tỷ suất hiệu quả tốt nhất có thể và tỷ suất hiệu
quả thực tế đạt được là Hiệu suất-X. Khái niệm Hiệu suất X rất hữu ích. Nó cho thấy
trên thực tế các tổ chức tối thiểu hóa chi phí (sử dụng công nghệ mới nhất) hơn là
bắt chước đối thủ của họ trong việc đưa ra các chính sách khác nhau và tuân thủ các
Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45
23
- Thu nhập doanh nghiệp/ Tiêu dùng năng lượng ($/ KWh)
- Thu nhập phân xưởng/ nước thải ($/ m
3
)
Hai loại thước đo hiệu quả sinh thái gồm: hiệu quả sản phẩm sinh thái và
hiệu quả chức năng sinh thái. Nhận biết hoạt động quản lý hiệu quả sinh thái của
một công ty thông qua tỷ số giữa sản phẩm được bán, hoặc chức năng được công
nhận và tác động gia tăng của môi trường có liên quan.
Hiệu quả sản phẩm sinh thái là tiêu chuẩn đánh giá tỷ số giữa việc cung cấp
một đơn vị sản phẩm và tác động môi trường được tạo ra trên toàn bộ hoặc từng
phần của vòng đời sản phẩm. Những nhà quản lý có xu hướng chứng minh những
hoạt động cải thiện môi trường của mình bằng cách công bố tổng hiệu suất sản phẩm
hoặc một phần hiệu suất sản phẩm của họ (ví dụ như số xe ô tô được sản xuất trên
mỗi đơn vị năng lượng tiêu thụ). Tăng hiệu suất sản phẩm bằng cách phát triển công
nghệ phòng tránh ô nhiễm hoặc giới thiệu các thiết bị được sản xuất theo công nghệ
“cuối đường ống” và kiểm soát ô nhiễm, giảm sử dụng các yếu tố đầu vào trên mỗi
đơn vị hoặc thông qua hoạt động thay thế các nguồn lực.
Hiệu quả chức năng sinh thái đưa ra quan điểm rộng hơn bằng cách đánh giá
tác động môi trường có liên quan đến việc cung cấp chứng năng chuyên môn trong
mỗi giai đoạn như thế nào. Hiệu quả chức năng sinh thái được coi như tỷ suất giữa
việc cung cấp chức năng và tác động gia tăng môi trường.
Hiệu suất chức năng sinh thái có thể được cải thiện thông qua việc thay thế
các sản phẩm có hiệu suất sản phẩm thấp với sản phẩm có hiệu suất cao (ví dụ: xe
đạp thay thế xe ô tô), bằng cách giảm số tiền được sử dụng để thực hiện chức năng
đó (ví dụ: bãi để xe khiến giảm nhu cầu xe ô tô), tăng tuổi thọ sản phẩm (ví dụ: bảo
hành ăn mòn lâu hơn đối với ô tô), và tăng hiệu quả sản phẩm.
Cả hai tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sinh thái đều rất hữu ích, và sự tương