1
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Báo cáo Tổng hợp
ĐỀ TÀI NC KH CẤP BỘ KH-CN NĂM 2009
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CƠ SỞ HẠ TÂNG KỸ THUẬT
CHO KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
trg
Danh mục các Bảng, Biểu và Hộp………………
Danh mục các viết tắt
………………
LỜI MỞ ĐẦU
……………… ………………
7
Chương 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU
TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ Ở
VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, vai trò của cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công
nghệ. 8
1.2. Quan niệm, vai trò chính sách đầu tư và hiệu quả sử dụng cơ sở hạ
tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ.10
1.3.Lý do nghiên cứu vấn đề đầu tư và hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật khoa học và công nghệ ở Việt nam
……
12
21
2.2.2. Kinh nghiệm và bài học từ Balan.
21
2.2.3. Kinh nghiệm và bài học từ Thụy sỹ
22
2.2.4. Kinh nghiệm và bài học từ Hungary
23
2.2.5. Bài học và kinh nghiệm từ CH Séc
…………………… 23
3
2.2.6. Kinh nghiệm và bài học từ Australia 24
2.2.7. Kinh nghiệm và bài học từ Mỹ
………………………… 24
2.2.8. Kinh nghiệm và bài học từ CHLB Đức
…………………… 27
2.2.9. Kinh nghiệm và bài học từ Canađa
28
2.3. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt nam vế chính sách đầu tư
và khai thác cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ
…………
29Chương 3.
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ
Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
Chương 4
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TĂNG CƯỜNG
ĐẦU TƯ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CƠ SỞ HẠ TẦNG
KỸ THUẬT KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI
4.1. Quan điểm định hướng về chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả
sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ
ở nước ta hiện
4
nay
46
4.2. Giải pháp chính sách đầu tư và hoàn thiện chính sách đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ.
49
4.3. Giải pháp chính sách nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật khoa học và công nghệ nước ta trong thời gian
tới
…
50
4.3.1. Các giải pháp áp dụng chính sách vĩ mô
61
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC 64 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HỘP
34
Hộp 3 Một vài so sánh qua các năm về mức chi của Việt nam với của nước ngoài
35
Hộp 3 Tàu Lash Sông Gianh- Vinashin 45 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GDP -Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
KH &CN, KH-CN - Khoa học và Công nghệ
CNC - Công nghệ cao
TNTĐ - Thí nghiệm trọng điểm (Phòng)
FRST - Foundation for Research, Science and Technology-Quỹ nghiên cứu
KH-CN(New Zealand)
TBG - Chương trình Technology for Business Growth
TAP - Technical Assessement Projects Feasibility-Chương trình hỗ trợ đánh
giá kỹ thuật- nghiên cứu khả thi
GPSRD - Grant for Private Sector R &D –Tài trợ cho R &D khu vực tư nhân
TIF -Technology for Industry Fellowships- Họ
c bổng công nghiệp triển khai
công nghệ
VN Việt nam 7
LỜI MỞ ĐẦU
Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay luôn luôn coi KH &CN đóng vai trò vô
cùng quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghiã xã hội về
lâu dài và trước mắt là phát triển kinh tế xã hội và nâng cao đời sống người dân sau
nhiều năm chiến tranh cứu nước và giữ nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) về
định hướng chiến lược phát triển
KH&CN trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2010 đã
chỉ rõ: “…cùng với giáo dục và đào tạo, KH&CN là quốc sách hàng đầu, là động lực
TS Lê Doãn Khải (Trường Bồi dưỡng cán bộ, Bộ Tài chính) đã có nhiều đóng góp
quan trọng để hoàn thành Đề tài này. Đồng thời Chủ nhiệm Đề tài cũng bày tỏ sự
cảm ơn chân thành về việc tạo điều kiện chỉ đạo và giúp đỡ của Bộ KH-CN, Văn
Phòng Bộ, Vụ Kế hoạch-Tài chính, Viện Chiến lược và Chính sách KH-CN, Hộ
i
đồng Khoa học Viện, các đồng nghiệp trong Viện và cá nhân các nhà nghiên cứu và
các đơn vị các nơi mà chúng tôi đã đến khảo sát và phỏng vấn để thực hiện đề tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng thực hiện, sản phẩm đề tài cũng không tránh khỏi
những thiếu sót. Nhóm tác giả Đề tài xin được hoan nghênh và trân trọng cảm ơn,
sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp, nhận xét, bổ sung và giúp đỡ khác để hoàn
thiện Đề tài. 8
Chương 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CƠ
SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT KH-CN VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, vai trò của cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ
Mặc dù đã có nhiều văn bản và tác giả trình bày cũng như kiến giải sâu sắc bấy lâu
nay về các thuật ngữ “khoa học” và “công nghệ”, “
kỹ thuật”, đề tài này xin được nêu
lại các khái niệm ấy nhằm tạo mối liên kết trong quan niệm về đầu tư và xây dựng
cũng như sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa học và công nghệ của
nước ta.
Trước hết “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự
nhiên, xã hộ
i và tư duy” (Luật KH-CN, 2000).
“Công nghệ”, Luật Chuyển giao công nghệ (2006) đã nêu rõ: “Công nghệ là giải
triển khai, cơ sở hạ tầng R&D,
Trong cách nói và phát biểu thành thói quen ở nhiều nơi, đôi khi Khoa học và
công nghệ vừa được hiểu là ngành quản lý khoa học và công nghệ cũng như các hoạt
động khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra ở nhiều cấp độ: trung ương, đị
a
phương, ngành, cơ sở, trường đại học, trạm trại nghiên cứu thí nghiệm, doanh nghiệp
9
các loại hình và kể cả cá nhân. Với cách nói đó (nói và phát biểu vắn tắt, rút gọn,…),
khoa học và công nghệ có khi được khái quát, không mang tính chất hàn lâm.
Theo The World Competitiveness Yearbook 2001, IMD: Cơ sở hạ tầng của
khoa học gồm 20 nhân tố: ví dụ như chi tiêu R &D, nhân lực R &D, năng lực nghiên
cứu cơ bản, patent, xuất bản khoa học và công nghệ, giảng dạy khoa học và công
nghệ trong trường học, giải thưởng Nobel và bảo hộ quyền sở hữu trí tu
ệ
Theo Tassy (1991) cơ sở hạ tầng khoa học và công nghệ (S & T infrastructure)
bao gồm: trợ cấp trực tiếp (direct subsidy), các viện nghiên cứu đươc Nhà nước tài
trợ (government funded research institutes – GRIs), dự án hợp tác nghiên cứu giữa
khu vực Nhà nước và tư nhân (cooperative research project by government and the
private sector), giáo dục (education), chuyển giao công nghệ và tư vấn công nghệ
(technology transfer and technology consultancy), tiêu chuẩn hóa (standardization),
và baỏ hộ sở hữu trí tuệ (intellectual property protection).
Kết cấu hạ
tầng công nghệ: Sự cung cấp các nhà khoa học và các kỹ sư, số
lượng và chất lượng của các tổ chức nghiên cứu
Năng lực đổi mới của quốc gia : phụ thuộc vào chất lượng của kết cấu hạ tầng
công nghệ, mức hỗ trợ của Chính phủ cho hoạt động nghiên cứu cơ bản, sự cộng tác
giữa các tổ chức nghiên c
ứu và trường đại học, sự phát triển của các nguồn vốn mạo
hiểm, cũng như chất lượng của môi trường kinh doanh (được phản ánh trong hệ
tiền mau h
ỏng … cần thiết cho quá trình thí nghiệm, nghiên cứu, kể cả sản xuất thử
nghiệm với kỳ vọng thu được kết quả như mục tiêu đã đặt ra. Cụ thể hơn nữa cơ
sở hạ tầng vật chất kỹ thuật của khoa học và công nghệ được thể hiện ở một trong 4
yếu tố của tiêm lực khoa học và công nghệ (nhân lực,
vật lực, tài lực và tin lực).
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của khoa học và công nghệ là khái niệm có thể mang ý
nghĩa phân tầng. Đối với cơ sở nghiên cứu thì đó là thứ vật chất cần thiết hiện diện
trong máy móc thiết bị, vật tư,…có vận hành hay được đưa vào quy trình nghiên cứu,
chế biến,…. và là điều kiện cần cho việc tiến hành các hoạt độ
ng khoa học và công
nghệ như đã nêu ở trên.
Đối với toàn bộ nền khoa học và công nghệ thì khái niệm Cơ sở hạ tầng kỹ
thuật (Technical infrastructure of Science and Technology) của khoa học và công
nghệ nằm trong cấu thành của khái niệm cơ sở hạ tầng khoa học và công nghệ (S&T
Infrastructure). Trong những điều kiện hiện đại việc đề cập đến phạm vi cơ sở hạ
tầng kỹ thuật cho phát triển khoa học công nghệ người ta còn nhắc đến các cấu phần
như mạng cao tốc dùng cho nghiên cứu và triển khai (R&D), chương trình hỗ trợ
nghiên cứu và triển khai dành cho các doanh nghiệp, phân tích thông tin và các dịch
vụ thông tin.
Trước hết đối với quá trình và các hoạt động nghiên cứu khoa học, cơ sở hạ tầng
kỹ thuật khoa học và công nghệ có vai trò rất lớn lao, vì nó là điều kiện cho việc tiế
n
hành các thí nghiệm, thử nghiệm hay kiểm định cần thiết hoặc khảo sát thực địa,
thăm dò, điều tra, phỏng vấn để ra được các kết luận cần thiết. Tiếp đến tốc độ và
kết quả nghiên cứu hay khả năng của nhà nghiên cứu phụ thuộc rất nhiều vào trang bị
và nói rộng ra là cả nền tảng vật chất hạ tầng kỹ thuật c
ủa nơi và địa điểm nghiên cứu
KH-CN ở mọi cấp độ, dù là cơ sở quốc gia hay cấp doanh nghiệp và trạm trại, phòng
công cộng để tác động đến nền kinh tế, đạt mục tiêu định trước. Ở phạm vi hẹp hơn
trong trường hợp xét đến
ở đây, đó là để tác động đến đối tượng quản lý: ngành và
đơn vị hoạt động KH-CN.
Chính sách tài chính còn có thể hiểu là các biện pháp cụ thể của nhà nước
nhằm tạo lập được nguồn, quản lý và sử dụng nguồn tài chính. Ví dụ, chính sách tài
chính công (phân bố, sử dụng nguồn ngân sách nhà nước), chính sách thuế, chính
sách tiền tệ và tín dụng, chính sách chi tiêu cho mua sắm Chính phủ (goverment
procurement). Khoán là biện pháp chính sách cụ thể để sử d
ụng hợp lý nguồn vốn,
đảm bảo tính “thị trường” của nghiên cứu khoa học. Mặc dù không phải kết quả nào
của khoa học và công nghệ cũng có thể thị trường hoá được ngay.
Trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động KH-CN đã được ghi rõ trong
Luật KH-CN, ban hành năm 2000 như sau:
Đầu tư cho KH-CN là đầu tư phát triển. Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho
việc bố trí ngân sách KH-CN, bảo đảm tỷ l
ệ NSNN chi cho KH-CN so với tổng số
chi NSNN tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp KH-CN.
Cơ quan tài chính có trách nhiệm cấp phát kinh phí KH-CN đầy đủ, kịp thời,
phù hợp với tiến độ kế hoạch KH-CN. Cơ quan quản lý nhà nước về KH-CN có trách
nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả phần NSNN đầu tư cho KH-CN.
NSNN đầu tư cho KH-CN được sử dụng vào các mục đích sau:
a) Thực hiện các nhiệm vụ
KH-CN ưu tiên, trọng điểm, nhiệm vụ KH-CN
phục vụ lợi ích chung của xã hội;
b) Thực hiện nghiên cứu cơ bản có định hướng trong các lĩnh vực khoa học;
c) Duy trì và phát triển tiềm lực KH-CN;
d) Cấp cho các Quỹ phát triển KH-CN của Nhà nước theo quy định tại Điều 39
và Điều 40 của Luật KH-CN; Xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các tổ chức
R &D của Nhà n
hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ thì nhiệm vụ đặt ra cũng sẽ
khó mà giải quyết toàn diện được”.
Đề tài rất đồ
ng tình với Joseph Bordogna (Chủ tịch NFS của Mỹ, 2004) khi ông
đã nói rằng: "Trong thời đại của công nghệ cao, sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh
tế sẽ không thể bền vững nếu thiếu các đột phá về công nghệ". Mà muốn đột phá về
công nghệ phải đầu tư mạnh mẽ và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN
để tạo nên đột phá đó.
Mặt khác theo Báo cáo "Tầm nhìn 2020" của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường (năm 2001), trình độ và năng lực KH-CN của Việt Nam đứng ở vị trí rất thấp
so với các nước trên thế giới và khu vực.
Đặc biệt, năng lực về công nghệ Việt Nam thua kém khá xa so với nhiều nước
cùng khu vực. Kết quả điều tra và tính toán của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF)
cho biết: Năm 2000, chỉ số
công nghệ của Việt Nam là -0,51. Trong khi đó, chỉ số
công nghệ của Trung Quốc là -0,35; Thái Lan là -0,07; Indonesia là -0,66;
Philippines là 0,54; Malaysia là 1,08, Singapore là 1,95.
Hay một lý do khác từ trường hợp cụ thể, có thể là điển hình của PGS TS
Phương Ngọc Thạch, ông đã nêu rằng: “Bản thân tôi làm nghiên cứu khoa học trên
30 năm, học vị học hàm đều đủ cả. Vậy mà cho đến nay, tôi không có nổi một phòng
thí nghiệm để làm việc, không có cả một chỗ ngồi dành riêng để làm việc. Trong
khi đó, được mời đi thỉnh giảng một số nước trong khu vự
c Đông Nam Á, tôi càng
thấy rằng ở các nước người ta rất coi trọng người làm khoa học và tạo mọi điều
kiện để nhà khoa học có thể dốc sức nghiên cứu. Các giáo sư đều có phòng thí
nghiệm để nghiên cứu và xây dựng ê-kíp làm việc của mình. Trong thư viện, họ có
ngăn đọc riêng được cập nhật tài liệu và sách chuyên ngành mà họ nghiên cứu. Các
nhà khoa học có thể nhận đề tài nghiên cứu trực tiếp mà không cầ
n thông qua xét
14
Chương 2
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VÀ KHAI THÁC CƠ
SỞ HẠ TÀNG KỸ THUẬT KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ BÀI HỌC CHO
VIỆT NAM
2.1. Kinh nghiệm và bài học từ các nước Châu Á
2.1.1. Kinh nghiệm và bài học từ Hàn quốc
Nổi bật nhất là gần đây Chính phủ Hàn quốc đã thành lập Bộ Giáo dục, KH&CN
(MEST), sau đó đưa Bộ trưởng Bộ này lên chức Phó Thủ tướng Chính phủ Hàn quốc
để có quyền hành và hiệu lực hơn trong điều hành phân bổ và sử dụng các nguồn lực
cho phát triển KH-CN quốc gia, tất nhiên trong đó có phần quan trọng là đầu tư tài
chính để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho KH-CN.
Biện pháp gián tiếp khác để tăng đầu tư và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ
thuật khoa học và công nghệ là thay đổi cơ cấ
u đầu tư từ ngân sách nhà nước. Theo
đó nếu giai đoạn đầu của quá trình phát triển khoa học và công nghệ dù là cấp cơ sở
hay ngành khoa học và công nghệ thì nếu đã đầu tư mạnh mẽ rồi thì giai đoạn sau
giảm dần vì đã đầu tư tới mức ngưỡng đủ cho quá trình hoạt động ở các cơ sở nghiên
cứu và triển khai. Vấn đề tiếp theo là phải đầu tư
cho con người hay đầu tư tạo điều
kiện sử dụng cơ sở hạ tầng chứ không phải lại đầu tư mở rộng thiếu cân đối với nhu
cầu sử dụng chúng. Thật vậy, tỷ lệ cả chi tiêu máy móc và đất xây dựng và phần
mềm máy tính đã lần lượt như sau: giảm dần từ 22,6% (năm 1998) xuống còn 12,7%
(năm 2005). Điều đó c
ần được nhấn mạnh lại là nếu gia tăng mạnh chi tiêu đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở giai đoạn đầu thì giai đoạn sau có thể giảm dần và
Quá trình đầu tư cho hệ thống các cơ quan thực hiện hoạt động R&D ở Trung
quốc bao gồm đầu tư vào:
• + Viện Hàn lâm Khoa học Trung quốc (CAS)
• + Các Viện R&D trực thuộc các Bộ, cơ quan hành chính khác nhau
•
+ Các doanh nghiệp công nghiệp
• + Các trường Đại học và Cao đẳng
• + Các Viện R &D địa phương
• + Các Viện R&D quốc phòng
Trung quốc cũng đã tăng cường thu hút FDI cho hoạt động R&D (riêng từ các
MNCs Mỹ là 7 triệu USD năm 1994 lên 52 triệu USD năm 1998 và 646 triệu USD
vào năm 2002);
Bên cạnh đó tỷ trọng chi tiêu cho mua công nghệ nước ngoài so với chi tiêu cho
R&D giảm dần hàng năm (từ 1/0,88 năm 1999 xuống còn 1/0,79 năm 2000 và 1/0,74
năm 2002);
Tiếp
đến chính phủ Trung quốc cũng đã chú trọng đến nghiên cứu cơ bản thông
qua “Kế hoạch phát triển khoa học cơ bản then chốt của Nhà nước”, “Quỹ khoa học
tự nhiên của Nhà nước” với mục tiêu chính là hỗ trợ cho nghiên cứu ứng dụng.
Trung quốc còn có một kinh nghiệm hay là thực hiện tốt mối liên kết giữa Viện
CAS với khu vực doanh nghiệp. CAS luôn duy trì mối quan hệ hợp tác tích cự
c với
khu vực công nghiệp. Đến cuối năm 2003, CAS đã đầu tư vào 336 hãng, 158 trong
số đó thuộc toàn quyền kiểm soát của CAS, tức là CAS chiếm hơn 50% cổ phần của
các hãng. Điển hình là có lẽ một trong những hãng vệ tinh nổi tiếng nhất phát triển từ
CAS là Hãng Lenovo Group (tên cũ là Legend Group). Hãng Legend bắt đầu hoạt
động năm 1984 với vốn do CAS đầu tư là 200.000 NDT và đã phát triển thành một
lực lượng chủ
chốt của ngành công nghiệp máy tính Trung quốc hiện nay. Ngày nay
Lenovo đã trở thành thương hiệu máy tính nổi tiếng trên toàn cầu. Mối quan hệ hợp
nâng cấp và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ, từ đó có điều
kiện tốt nhất cho sự kết hợp các kỹ năng của các nhà khoa học với khả nă
ng và tiềm
năng cơ sở vật chất và con người, làm gia tăng hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật đó của nền khoa học và công nghệ quốc gia, đưa Đài loan chiếm lĩnh các đỉnh
cao về thị phần cung cấp linh kiện điện tử cho thế giới tin học,…
2.1.3. Kinh nghiệm và bài học từ Singapore:
Trước hết Chính phủ tiế
n hành tối ưu hóa việc sử dụng các phương tiện R &D ở
các Viện Nghiên cứu và Trường Đại học. Theo đó các Viện Nghiên cứu của quốc
gia cũng sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện đắt tiền và
hiếm khi dùng đến. Tiếp theo Singapore đang thực hiện mũi chiến lược xây dựng kết
cấu hạ tầng công nghệ thông tin truyề
n thông (CNTT-TT) tốc độ siêu cao, quy mô
rộng, thông minh và tin cậy, có sức cạnh tranh trên toàn cầu: sẽ cung cấp băng
thông rộng cho bất cứ ai, bất cứ ở đâu và bất cứ thời điểm nào. Hiện nay ngành
CNTT-TT của Singapore đang được chi 6,2% GDP hàng năm.
2.1.4. Kinh nghiệm và bài học từ Malaysia:
Từ năm 1986 đến nay, Malaysia đã thực hiện 2 Chiến lược KH&CN quốc gia.
Trong vòng 16 năm, chính sách khoa học công nghệ lần thứ 1 (NSTP I, 1986) đã
phát triể
n KH&CN thành một hệ thống vững chắc, lồng ghép được vào kế hoạch phát
triển cả nước, tạo nền móng và củng cố kết cấu hạ tầng KH&CN cho giai đoạn sau.
Trong giai đoạn này, Malaysia đã đầu tư đáng kể vào xây dựng hạ tầng và đào tạo
nguồn nhân lực hướng vào đảm bảo các nguồn lực còn tương đối hạn chế được sử
dụng có hi
ệu quả để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mà thị trường cần.
Biện pháp gián tiếp khác mà chính phủ Malaysia áp dụng là nâng cao nhận thức,
đẩy nhanh nhịp độ công nghiệp hoá đất nước.
Năm 1870 Chính phủ Nhật bản thành lập Bộ Kỹ thuật. Năm 1873 Bộ Nội vụ
cũng đã được thành lập với nhiệm vụ hướng vào
đổi mới, mở rộng công nghệ truyền
thống và thực thi chính sách kỹ thuật nhằm tăng năng suất lao động. Bộ này đã áp
dụng công nghệ mới vào nền kinh tế nội địa thông qua nhập khẩu công cụ máy móc,
mời chuyên gia nước ngoài vào phổ biến công nghệ cho khu vực tư nhân.
Khắc phục những khó khăn về tài chính để đưa công nghệ mới vào sản xuất,
các nhà máy do Bộ Kỹ thuật và N
ội vụ trực tiếp quản lý được chuyển giao dần sang
khu vực tư nhân.
Từ khi Nhật bản chuyển sang tự chủ về công nghệ, Chính phủ đã đưa ra đạo
luật cấm cạnh tranh mua bán đấu giá bản quyền kỹ thuật công nghệ và mọi việc mua
bán kỹ thuật với nước ngoài đều do Bộ ngoại thương và công nghiệp đảm nhận, do
có đội ngũ cán bộ k
ỹ thuật giỏi và có công nghệ thông tin hiện đại.
Chính phủ xây dựng cơ chế hợp tác hai chiều giữa các công ty và Trung tâm
nghiên cứu khoa học, có cơ chế buộc các doanh nghiệp trích 1% quỹ lương chuyển
vào ngân sách để tạo nguồn tài chính cho đào tạo lao động ở những ngành sản xuất
mới, cho phép khấu hao nhanh để đổi mới công nghệ, bảo hiểm tín dụng cho nghiên
cứu khoa học và công nghệ, ưu đãi về thuế cho các c
ơ sở áp dụng công nghệ mới.
Tháng 7-2003 Nhật bản đã ban hành Luật Công ty Đại học Quốc gia, làm tăng
cường mức độ tự trị về ngân sách, tổ chức, cán bộ, bãi bỏ chế độ về hưu của hàng
ngũ giáo sư, đồng thời thành lập các Trung tâm Nghiên cứu xuất sắc từ năm tài khoá
2006. Tiếp đến Nhật bản lập Quỹ Nghiên cứu và Giaó dục đặc biệt, tiế
n hành cấp
kinh phí theo nguyên tắc cạnh tranh.
Từ năm 2005 Nhật bản ưu tiên chi Ngân sách dành cho nghiên cứu và phát triển
ở các tổ chức công lập (Đại học và Viện Nghiên cứu). Ngân sách được phân bổ dựa
Biện pháp 1: Phát triển các Trung tâm xuất sắc (COE- Centre of Excelence).
“Phát triển các phòng TN nghiên cứu ở các trường Đại học và các Viện nghiên cứu
thành các Trung tâm xuất sắc theo tiêu chuẩn quốc tế, có năng lực công nghệ hiện đại
hoặc có trình độ sắc sảo. Hơn nữa, những trung tâm xuất sắc này cần những nhóm
nghiên cứu là những người có khả năng tạ
o ra tri thức thông qua R&D, phản ánh
theo những chỉ số đánh giá thành tích quan trọng khác nhau như số lượng bằng sáng
chế, xuất bản phẩm trên các tạp chí quốc tế, lời mời thuyết trình hoặc là người phát
ngôn chính tại các hội nghị quan trọng. Hơn nữa, những trung tâm xuất sắc phải tạo
ra sự liên kết với các khu công nghiệp và phục vụ những khu công nghiệp hoặc mang
lại lợi ích cho công chúng”.
Phương thức th
ực hiện: Hỗ trợ xây dựng năng lực của các Phòng thí nghiệm
nghiên cứu.
“Hỗ trợ xây dựng năng lực cho các Phòng thí nghiệm nghiên cứu, cả nghiên cứu cơ
bản và nghiên cứu ứng dụng trong các Viện nghiên cứu và các trường Đại học, mở
đường để trở thành các Trung tâm xuất sắc với các công nghệ then chốt”.
Biện pháp 2: Phát triển các Công viên khoa học.
“Phát triển và tăng số lượng các Công viên khoa học thành nhữ
ng Trung tâm phát
triển năng lực công nghệ trong mọi vùng của đất nước. Các công ty nằm trong các
Công viên khoa học có đủ tư cách để có thể được Ban Đầu tư (BOI) đỡ đầu”. Theo
đó Chính phủ đã xây dựng các Công viên khoa học ở ít nhất 3 miền: Bắc, Nam và
Đông Nam và tăng số lượng Các công viên khoa học tại một số khu vực trung tâm”.
19
Một trong những đặc điểm đáng chú ý của Công viên khoa học là năng lực liên kết
các khu vực học thuật (đặc biệt là các Viện nghiên cứu và các trường Đại học) với
các khu công nghiệp. Vì vậy, các Viện nghiên cứu có tiềm năng lớn cần thành lập
các Công viên khoa học (như Cơ quan Phát triển KH&CN Quốc gia, Viện Nghiên
R&D từ những năm trước”.
Thứ ba là, thúc đẩy các dự án đầu tư vào phát triển kỹ năng, công nghệ và
đổi mới, triển khai những chương trình thúc đẩy công nghệ: “Thúc đẩy dự án
đầu tư
nhiều hơn vào phát triển kỹ năng, công nghệ và đổi mới hơn là đầu tư vào sản
xuất bằng cách đưa ra nhiều ưu đãi hơn, tùy theo những biện pháp xúc tiến đầu tư
mới”.
Thứ tư là thúc đẩy chính sách và quản lý sở hữu trí tuệ: “Xem xét lại những
hướng dẫn chính sách sở hữu trí tuệ nhằm khuyến khích các nhà nghiên cứu và các tổ
20
chức nghiên cứu nhiều hơn để tạo ra những đổi mới, bằng cách chỉ ra cho các nhà
nghiên cứu một số lợi ích từ việc sở hữu trí tuệ”.
Thái lan cũng có nhiều kinh nghiệm về phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ
thông tin và truyền thông. Theo đó chính phủ phát triển nhanh những dịch vụ cơ sở
hạ tầng cơ bản, đặc biệt là những công nghệ t
ương lai như mạng không dây (Wi-fi)
bằng sự đầu tư xứng đáng. Mạng Wi-fi là một mạng Internet có thể hỗ trợ phát và
nhận dữ liệu với tốc độ lớn hơn gấp 5-20 lần so với sự kết nối quay số vào mạng điện
thoại cố định. Gần đây nó đã trở nên phổ biến do có thể nhanh chóng tăng băng
thông mạng với chi phí thấp, đ
áp ứng những nhu cầu của nhiều máy tính đầu cuối.
Ngoài ra, công nghệ này rất thuận lợi bởi vì nó hỗ trợ giải quyết hiệu quả những vấn
đề và những hạn chế của mạng điện thoại cố định.
2.1.7. Kinh nghiệm và bài học từ Ấn độ
Từ năm 1998 Ấn độ đã chi 2,3 tỷ USD cho các hoạt động R &D (tương đương
0,67% GDP, đứng thứ
24 trên thế giới) và chú trọng vào phát triển công nghệ thông
tin và công nghệ sinh học, coi đó là mũi nhọn, gắn nghiên cứu khoa học với phát
triển kinh tế, chú trọng chuyển từ nghiên cứu cơ bản sang nghiên cứu ứng dụng,
Phòng TN cây thuốc và Trung tâm nghiên cứu về biển, Qua đây chúng ta rút ra
21
được nhiều kinh nghiệm hay đó là xác định ít hướng chủ đạo và hành động quyết liệt
với chủ trương tăng mạnh tiền đầu tư. Cho nên Ấn độ đã thành công về Cách mạng
xanh và CNTT (nhất là các phần việc outsourcing trong cạnh tranh với Trung quốc).
2.2. Kinh nghiệm và bài học từ các nước Châu Âu và khác:
2.2.1. Kinh nghiệm và bài học từ Liên bang Nga:
Sau khi Liên Xô tan rã (năm 1990), nền kinh tế của nước Nga chuyển sang cơ chế
thị trường. M
ọi hoạt động kinh tế-xã hội, trong đó có hoạt động KH&CN đã thay đổi
theo. Chính phủ Liên bang Nga đã sớm quyết định thành lập các Quỹ khoa học để tài
trợ cho việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN. Đó là
• Quỹ nghiên cứu cơ bản, 1992
• Quỹ khoa học nhân văn, 1994
• Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
• Quỹ phát triển công nghệ (ngoài ngân sách nhà nước, không có tư
cách pháp
nhân), được thành lập tại Bộ khoa học, giáo dục và chính sách kỹ thuật Liên
bang Nga. Năm 2000 đổi thành Bộ công nghiệp, KH&CN Liên bang Nga).
Cho đến nay Nga có 3 hình thức tài trợ cho KH-CN:
(i) Đầu tư theo tổ chức - đầu tư để phát triển khoảng 60 viện trọng điểm quốc gia;
(ii) Đầu tư để thực hiện các chương trình KH&CN trọng điểm quốc gia;
(iii). Đầu tư để thực hiện các đề tài KH&CN thông qua các quỹ
KH&CN.
Ngoài ra có có Quỹ phát triển công nghệ, gồm: Tỷ lệ trích lại hàng quý trên cơ sở
hợp đồng giữa các cơ quan chính quyền và các tổ chức thương mại với tỷ lệ trích
25% kinh phí nộp vào các quỹ ngoài ngân sách; từ sự tự nguyện của các tổ chức
thuộc phạm vi quản lý của Bộ công nghiệp, KH&CN Liên bang Nga; kinh phí được
• Đạo luật 8-10-2004 về Các nguyên tắc tài chính cho Khoa học, quy định tiêu
chí và thủ tục phân bổ, kiểm toán cho các Quỹ Khoa học.
• Đạo lu
ật 29-7-2005 về một số hình thức hỗ trợ hoạt động đổi mới.
• Theo Đạo luật 2004 tăng cường vai trò của Bộ trưởng Khoa học trong điều
phối và thực hiện chính sách Khoa học, giao phó quyền hạn theo Luật pháp,
quyền được ra quyết định trong phân phối và phân bổ Ngân sách Khoa học.
Các chương trình khung quốc gia do Bộ Khoa học đưa ra là công cụ quan trọng
để thực hiện chính sách KH-CN, liên quan đến quyền tự
chủ trong nghiên cứu và các
nhu cầu về kinh tế xã hội của đất nước.
+ Thành lập Hội đồng Khoa học – tổ chức đại diện chính thức cho giới nghiên
cứu có vai trò tư vấn quan trọng, có quyền đưa ra các ý kiến độc lập với Bộ trưởng,
gồm tối đa 70 thành viên do H.Đ.KH và Bộ trưởng bổ nhiệm.
+ Tháng 1-2005 H.Đ phát triển KH-CN được lập ra, làm tư vấn cho HĐBT, Thủ
t
ướng về Chiến lược Phát triển KH-CN và các công nghệ mới. Balan bảo đảm quyền
bình đẳng trong tiếp cận nguồn tài trợ từ ngân sách khoa học và đặc biệt là các tài trợ
cho các hoạt động và đầu tư theo luật định, cho các đơn vị tổ chức thực hiện R &D,
không phụ thuộc vào loại hình sở hữu chúng.
Các trường Đại học không thuộc công lập cũng được nhận tài trợ cho nghiên
cứu khoa học và công ngh
ệ của mình. Mặt khác Balan cũng đã thu hút được tài trợ từ
nước ngoài, thường trong khoảng 2% trong tổng kinh phí (năm 1999 đạt 1,7%).
Ngoài ra giai đoạn 1995-1999 Chính phủ đã chú trọng chi vào phát triển các ngành
khoa học kỹ thuật và y học, giảm bớt chi tiêu vào các ngành khoa học tự nhiên và
nông nghiệp.
Balan còn bảo đảm tính linh hoạt trong việc tạo nguồn và cấp kinh phí khoa
học cũng được thực hiện theo kiểu chuyển giao chỉ định để tài trợ hoặ
c đồng tài trợ
Quỹ này tiến hành tài trợ cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học trên
đất nước Thụy Sỹ: (i) Tài trợ cho các đề tài/dự án và cho các cá nhân, hỗ trợ các hội
nghị khoa học và xuất bản ấn phẩm cũng như các hợ
p tác nghiên cứu khoa học quốc
tế; (ii) Hỗ trợ cho việc xây dựng hạ tầng cơ sở nghiên cứu, hỗ trợ các giải pháp ứng
dụng kết quả nghiên cứu và các hoạt động điều hoà nghiên cứu; (iii) Tổ chức thực
hiện các chương trình nghiên cứu định hướng của Liên bang theo sự uỷ thác và theo
thông lệ bằng các nguồn tài chính đặc biệt của Liên bang, đó là các chương trình
nghiên cứu quốc gia, các chươ
ng trình trọng điểm của quốc gia.
2.2.4. Kinh nghiệm và bài học từ Hungary:
Bên cạnh việc tăng tổng chi phí cho công tác R & D, Nhà nước đã định hướng
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các ngành công nghệ cao và máy tính hóa nền
kinh tế. Trong khoảng từ năm 1990 đến 1996 mức chi phí cho R &D tính trên GDP
đã giảm từ 1,6% xuống còn 0,7% và giữ ở mức thấp trong suốt nửa sau của thập kỷ
90. Năm 1996, tổng chi phí R & D là 0,67%, mức thấp nhất trong nhữ
ng năm 90.
Chính phủ đã đặt mục tiêu tổng chi phí cho R &D phải đạt được mức kinh phí trung
bình của Liên minh Châu Âu (EU) vào năm 2006.
Có hơn 50% tổng chi phí cho R &D là do ngân sách Nhà nước cấp và việc sử
dụng những nguồn kinh phí này bị phân tán. Tỷ lệ tham gia hiện thời của khu vực tư
nhân là 38% sẽ phải bảo đảm tăng lên tới mức 50% trong tương lai. Hungary có 2
hình thức tài trợ chính của Nhà nước cho các hoạt động R &D và đổi mới của khu
v
ực tư nhân là khuyến khích về thuế và trực tiếp hỗ trợ không hoàn lại của Nhà nước.
Tính từ tháng 1 năm 2001 các Công ty có thể lý giải kinh phí R &D của họ đến
200%.
2.2.5. Bài học và kinh nghiệm từ CH Séc
Phạm vi hỗ trợ Nhà nước về khoa học công nghệ được quy định trong Luật số
2.2.6. Kinh nghiệm và bài học từ Australia:
Ở thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chính sách khoa học và công nghệ của Australia
theo đuổi một trong 3 mục tiêu chính là duy trì chất lượng cao đối với kết cấu hạ tầng
nghiên cứu của khu vực chính phủ, đẩy mạnh tối đa việc ứng dụng thực tiễn của cơ
sở khoa học vào ngành công nghiệp và khuyến khích ngành kinh doanh tăng cường
đổi mới.
Tháng 1-2001 Thủ tướng Australia đã công bố kế hoạch chiến lược về khoa học
và giao dục: “Tăng cường năng lực của Australia” (Backing Australia Ability), theo
đó sẽ tăng kinh phí nghiên cứu khoa học gấp đôi trong 5 năm tớ
i, cải thiện kết cấu hạ
tầng nghiên cứu, lập các Trung tâm tài năng (Centre of Excellence) tầm cỡ thế giới
về các công nghệ then chốt, nâng mức khấu trừ thuế đối với khoa học và công nghệ,
tăng cường các trung tâm hợp tác nghiên cứu và đề ra những sáng kiến mới về giáo
dục.
Australia nổi bật ở quá trình tự chủ hóa của các cơ quan nghiên cứu khoa học.
Đây là yếu tố sẽ gây tác
động sâu sắc tới sự phát triển KH&CN, cụ thể là mục đích
và cung cách quản lý đầu tư. Một số ý kiến cho rằng không nên, hoặc chưa nên cổ
phần hóa các cơ quan nghiên cứu, vì thị trường sẽ chỉ chạy theo lợi ích cục bộ trước
mắt mà bỏ rơi những lợi ích có tính công cộng. Do tự chủ hóa như vậy, việc đầu tư
mua sắm và sử dụng cơ sở
hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ đều được họ cân
nhắc và không bị ảnh hưởng bởi các quyết định hành chính dội từ trên xuống theo
kiểu phân bổ.
Chính phủ đã tiến hành Chương trình vườn ươm CNTT-TT từ năm 2000 đến
2008, cung cấp đầu tư tài chính ban đầu và tư vấn kinh doanh cho các Công ty mới
khởi sự trong lĩnh vực CNTT-TT trên toàn quốc (cả gói 122 tr.đô la Australia).
2.2.7. Kinh nghiệm và bài học t
ụ từ năm 1990 đến 1993
cả chi chính phủ và khối doanh nghiệp đạt lần lượt là 150, 151,6; 161,9 và 184,9 tỷ
USD), Chính phủ vẫn có những hỗ trợ rất mạnh mẽ để các doanh nghiệp đẩy mạnh
hoạt động khoa học và công nghệ tại chính các doanh nghiệp. Các bộ phận nghiên
cứu và thử nghiệm đều được hưởng chế độ giảm thuế, ví dụ đã tiến hành giảm 4 lần
vào các nă
m 1986, 1988, 1989 và 1990. Ngoài việc tăng cường giảm thuế, còn có thể
cắt giảm thêm mức thuế đánh vào lợi nhuận của toàn bộ các công ty công nghiệp và
điều này đôi khi làm cho tổng số thuế nói chung giảm tới 50%. Việc đầu tư và sử
dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho phát triển khoa học công nghệ tại Mỹ còn thể hiện
lồng ghép ở Chương trình tài trợ cho R &D của doanh nghiệp nhỏ
(SBIR): Chương
trình SBIR (Small Business Innovation Research Program) là một hệ thống tài trợ
theo 3 giai đoạn có tính cạnh tranh cao nhằm cung cấp cho doanh nghiệp nhỏ cơ hội
đề xuất các ý tưởng sáng tạo đạt các nhu cầu về R&D của Liên bang đề ra.
Tiêu chí là:
(i) Doanh nghiệp phải là của Mỹ và hoạt động độc lập
(ii) Hoạt động vì lợi nhuận
(iii) Có nhân lực chuyên làm nghiên cứu
(iv) Quy mô dưới 500 người.
Việc tài trợ
cho doanh nghiệp thực hiện R &D theo 3giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 thường gắn với giai đoạn khởi nghiệp, mức tài trợ có thể lên đến
100.000 USD cho khoảng 6 tháng để hỗ trợ việc khai thác các giá trị công nghệ
hoặc tính khả thi của một ý tưởng hoặc công nghệ
+ Pha II có thể tài trợ lên đến 750.000 USD trong 2 năm để mở rộng Pha I. Trong
giai đoạn này, hoạt động R &D được thực hiện và đánh giá tiề
m năng thương mại
hoá kết quả nghiên cứu. Chỉ những người được đánh giá có kết quả tốt của Pha I
mới được thực hiện triển khai sang Pha II.