CHỢ VIỀNG PHỦ TRÊN QUÊ HƯƠNG VỤ BẢN, NAM ĐỊNH: TRUYỀN THỐNG VÀ LỊCH SỬ - Pdf 14

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tâm thức của mỗi người dân đất Việt, chợ không chỉ là trung tâm
buôn bán, trao đổi hàng hóa mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa mang đậm dấu
ấn của cả một cộng đồng dân cư. Đặc biệt có những phiên chợ, mỗi năm chỉ
họp một lần vào dịp giáp tết hay đúng vào ngày tết. Dẫu xa xôi, cách trở, bận
rộn mấy, người ta cũng đến để du xuân, cầu duyên, cầu tài lộc hay đơn giản
chỉ là dịp gặp gỡ, thăm hỏi, chúc tết lẫn nhau. Chợ một phiên họp khi tết đến
xuân về đã vượt ra ngoài ý nghĩa kinh tế thông thường để trở thành một thú
vui ngày xuân, một cách giao duyên đầu năm mới, một lễ hội truyền thống
của người Việt ta.
Trên mọi miền đất nước, ở nhiều địa phương đã xuất hiện hình thức
chợ một phiên độc đáo này với những màu sắc đặc trưng riêng cho từng vùng
quê khác nhau. Có thể kể ra như chợ Đồng ở Hà Nam họp ngày 24 tháng
chạp, chợ Cưới ở Vĩnh Phúc họp ngày 25 tháng chạp, chợ Gò Trường Úc ở
Bình Định họp ngày mồng 1 tết, chợ Gà ở Bắc Ninh họp đêm mồng 4 tết. Hay
ở cố đô Huế có chợ Gia Lạc vốn là một phiên chợ hoàng tộc do Định Viễn
Công Nguyễn Phước Bình, con thứ tư của vua Gia Long lập ra từ thời Minh
Mạng vào tết nguyên đán Bính Tuất năm 1826. Chợ xuân Gia Lạc họp đông
vui trong cả 3 ngày mồng 1, mồng 2, mồng 3 tết. Dù có tên gọi khác nhau
nhưng những phiên chợ một năm một lần vào dịp tết này có một điểm chung.
Đó không chỉ là nơi mua sắm mà còn là nơi hò hẹn, gặp gỡ tâm tình của
những đôi trai gái tìm duyên, là nơi sinh hoạt văn hóa dân gian, cầu chúc
những điều may mắn tốt lành đến trong năm mới.
Với vị trí trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, vùng đất Nam Định nay –
Thiên Trường xưa có một chiều dài lịch sử, một bề dày văn hóa đã góp phần
không nhỏ vào kho tàng văn hóa Việt Nam. Toàn tỉnh hiện có 1655 di tích
lịch sử văn hoá, hàng trăm vùng văn hoá dân gian cổ truyền, hàng trăm lễ hội
truyền thống, trong đó có lễ hội mang tính quốc gia hay vùng miền rộng lớn
như: lễ hội Đền Trần, lễ hội Phủ Dầy , nhiều làng nghề thủ công làm ra

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các
2
lễ hội truyền thống, trong đó có chợ Viềng Phủ ở Vụ Bản, Nam Định càng trở
nên rất cần thiết và đáng trân trọng.
Là một người con của quê hương Vụ Bản, tôi mong muốn được góp
chút sức nhỏ bé của mình để giới thiệu ngày hội truyền thống chợ Viềng tới
đông đảo du khách trong nước và cùng với chính quyền địa phương giữ gìn,
phát huy những nét đẹp của ngày hội rất đặc biệt này, đáp ứng nhu cầu văn
hóa tinh thần ngày càng cao của các tầng lớp nhân dân.
Bên cạnh đó, còn do lòng yêu thích của bản thân muốn tìm hiểu sâu
rộng hơn về vốn văn hóa cổ truyền của quê hương, tôi đã lựa chọn đề tài
“Chợ Viềng Phủ trên quê hương Vụ Bản, Nam Định: truyền thống và lịch sử”
cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chợ Viềng là một loại hình sinh hoạt văn hóa hết sức độc đáo và là
niềm tự hào của người dân Nam Định. Nam Định có tới 5 chợ Viềng song
được biết đến nhiều nhất là chợ Viềng Phủ ở Vụ Bản và chợ Viềng Chùa ở thị
trấn Nam Giang, Nam Trực, đặc biệt chợ Viềng Phủ. Tuy nhiên, cho đến nay
vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về nó. Đề tài chợ Viềng
Phủ có được một số tác giả quan tâm đề cập nhưng phần lớn mới dừng lại ở
những bài cảm nhận, bài viết nhỏ lẻ đăng tải trên các báo hay nằm trong công
trình nghiên cứu nào đó.
Các bài viết, công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến đề tài chợ
Viềng Phủ:
Trước hết phải kể đến các cuốn địa chí Nam Định qua các thời kỳ như
“Nam Định tỉnh địa dư chí” của Nguyễn Như, tự Ôn Ngọc, hiệu Nhuệ Khê
soạn vào năm Thành Thái thứ 5 (1893), “Nam Định tỉnh địa dư chí lược tân
biên” của một học giả, nhà giáo, nhà văn hóa nổi tiếng người Nam Định, Tiến
sĩ Tam giáp Khiếu Năng Tĩnh viết năm 1915. Các tác phẩm trên đều có đề
cập đến địa danh Thiên Bản – Vụ Bản và chợ Viềng Phủ nhưng với tư cách là

Viềng, giới thiệu sơ lược những mặt hàng được bày bán, trò chơi dân gian
4
mang ý nghĩa phồn thực độc đáo đồng thời nhấn mạnh tính chất cầu may của
phiên chợ này.
Năm 2010, tác giả Hồ Đức Thọ sưu tầm, biên soạn cuốn “Huyền tích
Thánh mẫu Liễu Hạnh và di sản văn hóa lễ hội Phủ Giầy”. Hội chợ Viềng được
đề cập là một sinh hoạt văn hóa dân gian trữ tình đáng trân trọng, có mối liên hệ
đặc biệt với quần thể di tích Phủ Giầy và hội Phủ Giầy. Tuy nhiên, đây chỉ một
nội dung nhỏ trong cuốn sách nên tác giả chỉ đưa ra giả thuyết về nguồn gốc sự
ra đời chợ Viềng Phủ đồng thời khái quát một số nét về địa điểm họp chợ, các
mặt hàng được bày bán cũng như phong tục của người đi chợ.
Tác giả Bùi Văn Tam – một nhà nghiên cứu của quê hương Vụ Bản
năm 2010 đã xuất bản cuốn “Văn hóa làng trên đất Thiên Bản vùng đồng
bằng sông Hồng”. Như tên sách được đặt, trong tập khảo cứu này, tác giả đi
sâu vào văn hóa làng ở một miền quê có lịch sử lâu đời ở phía nam đồng bằng
sông Hồng. Hội chợ Viềng được tác giả giới thiệu là hội lớn nằm trong hội
làng ngày xuân của làng Kẻ Dầy (nay là làng Tiên Hương và Vân Cát, xã Kim
Thái, huyện Vụ Bản). Chợ chính thức mở vào ngày mồng 8 tháng giêng, là tín
hiệu mở đầu một mùa sản xuất mới của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng
Bắc Bộ.
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết khác trên các trang báo giấy hay báo mạng
cũng giới thiệu về chợ Viềng mỗi dịp phiên chợ này diễn ra. Tiêu biểu như:
“Chợ Viềng xuân, nét đẹp văn hóa vùng Thiên Bản xưa” của tác giả Đức Linh
đăng trên báo Nam Hà số xuân Bính Tý (1996); “Chợ Viềng xuân Vụ Bản nhìn
từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế” của tác giả Phạm Văn Đại trên báo Nam Định số
số 725 (2003); “Thú chơi chợ Viềng ở Vụ Bản và hội chợ Viềng” của tác giả
Bùi Văn Tam trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 2 (2006)…
Trong nguồn tài liệu mà tác giả đã tìm hiểu và thu thập được thì trên
đây là đều là những bài viết hay và có giá trị. Tuy nhiên, phần viết liên quan
đến đề tài chợ Viềng Phủ chỉ chiếm một dung lượng khiêm tốn và nội dung

Cộng Sản Việt Nam về các vấn đề văn hóa, đặc biệt là sự nghiệp bảo tồn, phát
huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.
6
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện thông qua việc tổng hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu của bộ môn như: phương pháp lịch sử, phương pháp logic,
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu các nguồn tư liệu…
Trong đó, phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu.
Dùng phương pháp lịch sử khi nghiên cứu về chợ Viềng Phủ, tác giả
đặt đối tượng trong mối quan hệ với thời gian và không gian diễn ra hội chợ.
Dùng phương pháp logic để thấy được hội chợ Viềng phát triển theo
quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
Ngoài ra, tác giả còn đi điền dã, khảo sát, nghiên cứu và tham dự để
hiểu được những nét độc đáo của chợ Viềng Phủ.
5.3. Nguồn tài liệu
Đề tài được hoàn thành trên cơ sở tác giả đã thu thập, tìm hiểu, phân
tích nhiều nguồn tài liệu khác nhau như:
Tài liệu thành văn: Các cuốn địa chí Nam Định qua các thời kỳ; các
công trình nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài; các bài viết đăng tải trên
các báo, tạp chí.
Tư liệu vật chất: các đền, chùa, lăng, phủ và một số văn bia tại địa
phương.
Tư liệu truyền miệng qua việc tiếp xúc với một số cán bộ văn hóa và
người dân địa phương.
Các trang web liên quan.
6. Đóng góp của khóa luận
- Thông qua việc tìm hiểu về cơ sở hình thành, sự ra đời, tên gọi, các
hoạt động của người tham gia chợ Viềng Phủ thuộc địa phận huyện Vụ Bản,
tỉnh Nam Định, đề tài làm sáng tỏ nét đẹp độc đáo của phiên chợ truyền thống
ở miền quê văn hiến này. Đồng thời khẳng định đi chợ Viềng mỗi dịp tết đến

xuyên Việt đi qua Vụ Bản, người dân có thể lên tàu ở ga Nam Định hoặc ga
Gôi. Đường bộ càng thuận tiện hơn khi đường 12 (nay được nâng cấp là quốc
lộ 38b), đường 10 nối liền Nam Định với Ninh Bình, đường 56 là con đường
dịch mã xưa nay đã được nâng cấp thành quốc lộ 37b tạo nên sự giao lưu
thuận tiện với các vùng trong tỉnh và với tỉnh bạn. Từ trung tâm huyện lỵ Vụ
Bản (thị trấn Gôi) ra thành phố Nam Định là 15 km, sang thành phố Ninh
Bình là 13 km.
Nằm gọn ở khu vực trung tâm phía nam đồng bằng sông Hồng nhưng
địa hình Vụ Bản không hoàn toàn bằng phẳng. Dọc phía nam đường 12 và
đường 10 là hai dải đất cao, tạo thành những cánh đồng màu và đồng chiêm
trũng xen kẽ. Phía tây huyện lại đột ngột nổi lên 6 ngọn núi đất lẫn đá chạy
dài theo hướng bắc nam là núi Ngăm, núi An Thái (còn gọi là núi Tiên
Hương), núi Báng, núi Lê, núi Gôi và núi Hổ. Điều kỳ thú hơn nữa là Vụ Bản
đã có núi lại có sông uốn khúc, tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình. Các sông
Đào, sông Cốc, sông Vĩnh Giang, sông Ba Sát… là nơi cung cấp nguồn nước
phục vụ phát triển nông nghiệp đồng thời là đường thủy quan trọng của huyện
Vụ Bản.
9
Vụ Bản mang đặc trưng chung của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với
hai mùa rõ rệt. Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, khí hậu biến đổi mạnh. Mùa
đông lạnh, nửa đầu thời tiết tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt. Nhiệt độ
trung bình năm là 23,7°C, độ ẩm không khí trung bình khá cao, trên 80%.
Lượng mưa trung bình 1757 mm/năm, tập trung vào mùa hạ. Hàng năm nơi
đây chịu ảnh hưởng của hai luồng gió chính là gió mùa đông nam vào mùa hè,
và gió mùa đông bắc thổi vào mùa đông.
Theo hệ thống phân loại đất Việt Nam thì đất Vụ Bản có độ phì trung
bình trên hai loại địa hình đồng chiêm trũng và vùng đất cao, có thể bố trí
được nhiều loại cây thuộc nhóm cây lương thực, cây công nghiệp.
Như vậy, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ở Vụ Bản khá thuận lợi cho
phát triển kinh tế, đặc biệt kinh tế nông nghiệp và phù hợp với cuộc sống của

Xuyên Hạ, Trình Xuyên Thượng, Vân Côi với 95 xã, thôn. Hầu hết các tổng,
xã, thôn trên nay đều thuộc huyện Vụ Bản (trừ tổng Thiên Bản sau bị cắt sang
huyện Bình Lục và huyện Mỹ Lộc).
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời, Quốc hội và Chính phủ xóa bỏ cấp phủ và tổng, mở rộng cấp xã, nhỏ
hơn tổng nhưng lớn hơn xã trước kia. Thời kỳ này huyện Vụ Bản thành lập 28
xã trên cơ sở sáp nhập nhiều xã, làng cũ và đặt tên mới. Đó là các xã Quang
Trung, Trung Thành, Đồng Tâm, Nhất Trí, Liên Minh, Liên Hòa, Cốc Thành,
Tân Thành, Khánh Lão, Đồng Minh, Thụy Hòa, Kim Thái, Đại An, Liên
Phương, Tân Dân, Cộng Hòa, Thuận Thành, Duy Tân, Lục Hợp, Minh Tân,
Hưng Đạo, Bảo Xuyên, Trùng Khánh, Thanh Lôi, Vĩnh Hào, Hùng Vương,
Tam Hòa, Lê Lợi.
Trong thời kỳ cải cách ruộng đất, đổi tên các xã trên theo nguyên tắc
hoặc có chữ “Vụ” đầu hoặc có chữ “Bản” đầu. Đến ngày 2 – 7 – 1957, Uỷ
ban hành chính Liên khu III ra quyết định đổi tên tất cả các xã thuộc huyện
Vụ Bản trở lại tên gọi trong thời kỳ đầu sau cách mạng tháng Tám. Sau này,
tiếp tục có sự điều chỉnh địa giới hành chính và tên gọi các xã trong những
thập niên cuối thế kỷ XX. “Tên gọi các xã hiện nay về cơ bản theo tên gọi
11
thời kỳ đầu sau cách mạng tháng Tám (trừ một số xã mới sáp nhập). Hiện
nay, Vụ Bản là huyện duy nhất trong các huyện của Nam Định mà tên gọi các
xã không có chữ đầu tên huyện” [21; 73].
Lỵ sở huyện Thiên Bản trước kia đặt tại địa phận hai xã Thái La (tổng
Bảo Ngũ) và Châu Bạc (tổng Đồng Đội). Vốn là lỵ sở của phủ Nghĩa Hưng,
đến năm Tự Đức thứ 5 (1852) đổi làm lỵ sở của huyện Vụ Bản. Huyện lỵ của
huyện Vụ Bản sau này cũng đặt tại đây. Ngày 1 – 4 – 1986, Hội đồng bộ
trưởng ra quyết định số 34 – HĐBT thành tập thị trấn Gôi (huyện lỵ của
huyện Vụ Bản) với 485,5 ha diện tích tự nhiên của xã Tam Thanh, dân số
5.832 người.
Hiện nay, huyện Vụ Bản có 18 đơn vị hành chính gồm thị trấn Gôi và

được xác định là cây xuất khẩu chủ lực của huyện nên các cấp ủy đảng đã chỉ
đạo tập trung thâm canh mở rộng diện tích cây lạc. Bên cạnh đó, chăn nuôi
tồn tại song song với trồng trọt nhưng đây không phải là thế mạnh của huyện.
Vụ Bản có nhiều nghề thủ công truyền thống với lịch sử lâu đời, đến
nay vẫn duy trì và phát triển. Làng rèn Bảo Ngũ (Quang Trung) là một trong
hai làng rèn nổi tiếng nhất ở Nam Định (còn lại là làng Vân Chàng, Nam
Giang, Nam Trực). Đây là nơi đã từng rèn đúc vũ khí cho nghĩa binh của Đào
Thị Qúy trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và các nghĩa sĩ Cần Vương
chống Pháp của Đàm Trí Trạch cuối thế kỷ XIX. Nghề làm sơn then, sơn mài
của làng Hổ Sơn (Liên Minh) nổi tiếng trong cả nước có từ thời Trần. Thời
Nguyễn, làng phải tuyển lính tất tượng vào làm trong các quan xưởng của nhà
vua. Nhiều làng làm nghề dệt vải, dệt tơ tằm nổi tiếng như các làng Vân Cát,
Qủa Linh, Bảo Ngũ. “Nghề dệt ở Qủa Linh - Thành Lợi đã trở thành trung
tâm của tiểu khu kéo sợi dệt của ba xã liền nhau là Kim Thái, Thành Lợi,
Trung Thành. Tiểu khu dệt sợi này là một trong những tiểu vùng dệt vải, kéo
sợi lớn nhất của nông thôn Nam Định” [21; 432]. Nghề gò đồng thau có
truyền thống xa xưa ở làng Bàn Kết (Tân Khánh). Nghề chạm đá ở làng Thái
La (Trung Thành) còn để lại nhiều công trình đồ sộ ở các văn chỉ, các đền
miếu trong huyện. Làng Tiên Hào (Vĩnh Hào) có nghề làm gối mây nay đang
phát triển các mặt hàng mây tre đan phong phú. Làng Hào Kiệt (Liên Minh)
13
giỏi nghề thêu, nghề làm lọng, có nhiều nghệ nhân tài giỏi thêu kim tuyến chỉ
màu cung cấp sản phẩm mỹ nghệ cho các thành phố lớn…
Trên cơ sở sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp, nền kinh tế
hàng hóa nơi đây sớm phát triển, chợ ra đời nhằm phục vụ nhu cầu trao đổi
buôn bán của cư dân trong huyện. Có thể kể ra các chợ lớn như: chợ Sại, chợ
Hầu, chợ Dần, chợ Gạo, chợ Si… Lại còn có nhiều chợ khác chỉ họp chớp
nhoáng vào sớm mai hay chiều tối ở đầu làng, ở bến bãi để trao đổi sản phẩm
tiêu dùng hằng ngày. Một hiện tượng đáng chú ý ở vùng đất Thiên Bản – Vụ
Bản là sự “xuất hiện nhiều làng buôn, tiêu biểu là Cao Phương (Liên Bảo)

ngưỡng thờ Đức Thánh Mẫu, là một nữ thần trong hệ thống tứ bất tử tồn tại
lâu bền trong thần điện Việt Nam. Ở đây có bộ ba kiến trúc liên quan chặt chẽ
tới Mẫu Liễu Hạnh là phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng Chúa Liễu đã
được công nhận là “di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo quyết định số
09/VHQĐ ngày 21/2/1975” [6; 15].
Về đời sống tinh thần và tâm linh, ở Vụ Bản còn lưu giữ được nhiều
phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng nguyên sơ. Nhiều làng còn
lưu giữ tục thờ các lực lượng siêu nhiên có tác động đến đời sống cư dân nông
nghiệp trồng lúa nước. Nhưng phần lớn cộng đồng cư dân ở đây thường thờ
những người có công với nước, giúp dân gây dựng hương ấp, dẫn dắt sản
xuất, mở mang văn hóa; các vị thần bảo vệ dân trước thiên tai, địch họa,
chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập quê hương. Các làng Cố Bản (Đại
Thắng), Mỹ Trung (Thành Lợi) thờ các thần Bắc Nhạc, Đông Hải, Tây Hải là
ba trong số 50 người con của mẹ Âu Cơ theo cha Lạc Long Quân xuống biển.
Nhiều làng thờ Long Vương, Thủy Tề, thần Độc Cước, thần giếng nước, các
thần trông coi mùa màng như Thần Nông, Hậu Tắc, Câu Mang… Tục thờ nữ
thần, thờ Mẫu rất đậm nét, tiêu biểu là thờ Mẫu Liễu Hạnh ở quần thể Phủ
Dầy và nhiều làng trong huyện.
Tục thờ cúng tổ tiên, dòng họ là tín ngưỡng phổ biến nhất trong dân
gian, là tập tục cổ truyền có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, phát huy truyền thống
gia đình, dòng họ, tăng cường tình đoàn kết, thương yêu nhau. Hàng năm các
15
họ tổ chức lễ họ để con cháu đến bái yết tổ đường, vui chung gặp mặt nhận họ
hàng thứ bậc.
Vụ Bản là vùng đất của các lễ hội. Lễ hội làng thường được tổ chức
vào mùa xuân và mùa thu. “Các trò đấu vật, đấu võ, chơi cờ, chơi đu… hầu
như làng nào cũng có. Ngoài ra mỗi làng còn có trò chơi riêng như: thi nấu
cơm ở Thượng Linh, Bối La, Thái La, Bối Hạ… Làng Xứng có hội kết rơm
thành kiệu, cổng chào, tứ linh… Hội Hoa Trượng kéo chữ bằng gậy ở Phủ
Dầy (Kim Thái). Làng Qủa Linh ba năm một lần vào đám (các năm Dần,

trí đánh bại cả thiên lôi, thủy thần nhà trời. Đó là Liễu Hạnh công chúa, người
làng Kẻ Dầy, ba lần sinh hóa, giữ trọn niềm hiếu nghĩa, thủy chung, nhân ái,
được coi là “Mẫu nghi thiên hạ” (bà mẹ mẫu mực trong thiên hạ). Một người
phụ nữ tài ba nữa là bà Trịnh Thái phi Trần Thị Ngọc Đài ở làng Thông Khê
– vợ chúa Trịnh Tráng, mẹ của chúa Trịnh Tạc, hát hay múa giỏi, có nhiều
công lao giúp dân làm ăn, đã dựng nên hội “hoa trượng” (kéo gậy hoa) đặc
sắc ở Phủ Dầy. Đó còn là Hòa quận công Ngô Đình Điền người làng Bảo Ngũ
đã dùng phép lạ chống thủy quái, đắp đê ngăn lũ cho dân, bảo vệ mùa màng.
Sự kỳ lạ thứ sáu hiện đang có sự tranh cãi. Một số người cho rằng đó là
thần Lữ gia, thừa tướng Nam Việt “đánh nhau với quân Hán bị chém mất
đầu nhưng còn chạy về được tới núi Gôi mới ngã ngựa chết, thường hiển rõ
linh ứng nên dân lập đền thờ” [10; 44]. Nhiều người lại khẳng định sự kỳ lạ
thứ sáu là “trạng nguyên Lương Thế Vinh, thần đồng làng Cao Phương, học
rộng tài cao, thông minh hơn người, đem hết trí lực phò vua giúp nước” [2;
20].
Không thể nêu hết tiềm năng văn hóa vật thể và phi vật thể của vùng
đất cổ xưa này nhưng điều chúng ta đều thấy được chủ nhân của tài sản văn
hóa đó chính là con người Vụ Bản từ xưa tới nay. Các nguồn sử liệu và ký tức
dân gian đã cho biết đây “là mảnh đất văn vật của miền Sơn Nam có truyền
thống hiếu học, thời nào cũng có người đỗ đạt cao, có danh vọng lớn” [24;
94]. Tác giả Nguyễn Ôn Ngọc trong cuốn “Nam Định tỉnh địa dư chí” (1893),
phần “phong tục” đất này đã ghi nhận: “Thứ nhất nghề nông, thứ hai nghề
học. Từ thời Đinh, Lý, Trần, Lê đến nay các bậc Trạng nguyên, Bảng nhãn,
17
Thám hoa, Tiến sĩ, Cử nhân cứ nối tiếp nhau. Đến bản triều ta (tức triều
Nguyễn) văn học hạt này tuy không bằng các triều trước nhưng nhân dân vẫn
ham chuộng nghề thi cử, nên khoa nào cũng có người thi đậu” [10; 42].
Trong lịch sử nền giáo dục Nho học nước nhà, huyện có 13 tiến sĩ và 3
phó bảng, là một trong những huyện khoa bảng của đất Nam Định. Có bốn
làng học tiêu biểu là làng Cao Phương, làng Cựu Hào, làng Lương Kiệt và

khác nhau. Đó là chợ Viềng Vụ Bản gần quần thể di tích Phủ Dầy (còn gọi là
chợ Viềng Phủ); chợ Viềng Nam Giang, Nam Trực gần chùa Đại Bi thờ thiền
sư Từ Đạo Hạnh thời Lý (còn gọi là chợ Viềng Chùa). Ngoài ra còn có chợ
Viềng Nghĩa Thịnh, Nghĩa Hưng nằm trong khu vực đền thờ Triệu Quang
Phục; chợ Viềng Mỹ Trung, Mỹ Lộc gần khu đền Trần – chùa Tháp song hiện
nay chợ này chỉ tồn tại về mặt địa danh còn hoạt động thì mai một. Mấy năm
gần đây xuất hiện thêm chợ Viềng ở Yên Thắng, Ý Yên. Mỗi chợ đều có nét
độc đáo riêng nhưng được nhiều người biết đến và đông vui hơn cả thì phải
nói đến chợ Viềng Phủ.
Chợ Viềng Phủ ra đời trên một miền đất cổ mà nhiều địa danh có từ
thuở vua Hùng dựng nước. Với vị trí nằm ở phía nam đồng bằng châu thổ
sông Hồng, địa hình khá bằng phẳng, đất đai tương đối màu mỡ, giao thông
thuận tiện nên nơi đây đã có con người về sinh tụ từ bốn ngàn năm trước. Trải
qua thời gian, họ khai phá vùng sình lầy ven biển thành những trang ấp, làng
xóm trù phú, cư dân đông đúc. Ngay cái tên huyện Thiên Bản cũng nói lên ý
nghĩa sâu xa là đất này giỏi về nông nghiệp. Không những thế, nơi đây còn có
nhiều nghề thủ công cổ truyền với nhiều làng nghề nổi tiếng: làng rèn Bảo
Ngũ (Quang Trung), sơn mài Hổ Sơn (Liên Minh), dệt vải Qủa Linh (Thành
Lợi), đục chạm đá Thái La (Trung Thành), mây tre đan (Vĩnh Hào)… Sự phát
triển của sức sản xuất đã tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát
triển, nhiều chợ lớn trong vùng xuất hiện nhằm phục vụ nhu cầu trao đổi buôn
bán của cư dân trong huyện như chợ Dần, chợ Gạo, chợ Gôi…
Sự hình thành chợ Viềng Phủ còn trên cơ sở mối liên hệ mật thiết với
các yếu tố văn hóa địa phương, đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu và khu di tích
19
Phủ Dầy. Chợ ra đời trên mảnh đất “Thiên Bản lục kỳ” từ lâu đã nức tiếng là
địa linh nhân kiệt, đất văn vật của xứ Sơn Nam xưa. Nơi đây còn lưu truyền
huyền tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh “là một người con gái tài sắc vẹn toàn, thể
hiện lòng hiếu nghĩa, tình yêu chung thủy và sự thiện tâm cứu thế, được nhân
dân đương thời và người đời sau sùng mộ, được vua chúa thời Lê – Trịnh và

Mẫu đầu xuân hay mua sắm sản vật còn là để cầu may, cầu phúc, cầu lộc, cầu
tài, cầu cho mưa thuận gió hòa, trong ấm ngoài êm, mọi sự sinh sôi, nảy nở.
1.2.2. Thời gian ra đời
Ca dao cổ miền Thiên Bản xưa còn ghi:
“Mồng một chơi cửa chơi nhà
Mồng hai chơi điếm, mồng ba chơi đình
Mồng bốn chơi chợ Quả Linh
Mồng năm chợ Trình, mồng sáu chợ Gôi
Bỏ qua mồng bảy ra thôi
Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng
Ngày xuân lễ thánh mua hàng
Dắt nhau vui vẻ có nàng có anh” [22; 152].
Bài ca dao không nói rõ chợ Viềng ở miền quê nào, nhưng qua những
địa danh mà bài ca dao nói tới như chợ Quả Linh (tức chợ Gạo), chợ Trình,
chợ Gôi thì ai cũng có thể nhận biết được đây là chợ Viềng Phủ. Bởi lẽ đây
đều là những chợ lớn nằm ở các thị tứ đông vui trên đất Thiên Bản cũ, nay là
huyện Vụ Bản.
Người ta không xác định được thời điểm ra đời của bài ca dao, chỉ biết
rằng nó được lưu truyền từ xa xưa. Còn chợ Viềng có từ bao giờ? Có lẽ cũng
đã có từ rất lâu rồi nhưng về thời điểm chính xác thì chưa ai khẳng định.
Theo các cụ phụ lão, “tương truyền chợ Viềng gắn liền với việc thờ
ông Khổng Lồ đời Lý, là ông tổ nghề đúc đồng nước ta” [13; 62]. Ông Khổng
Lồ là nhân vật do dân gian sáng tạo ra vì sự nhầm lẫn, đồng nhất về sự tích
của hai thiền sư Dương Không Lộ (1016 – 1094) và Nguyễn Minh Không
(1066 – 1141), tuy sống cách nhau nửa thế kỷ nhưng đều đi tu, đều giỏi chữa
bệnh và đều được triều Lý phong Quốc sư. Sách “Nam Định địa chí” cho
21
rằng: “Cả hai người đều bị nhập vào truyền thuyết dân gian về ông Khổng Lồ
đúc chuông gọi là Khổng Minh Không” [21; 830]. Sự tích “Sư Khổng Lồ đúc
chuông” có kể việc ông lên phương Bắc, chữa khỏi bệnh cho thái tử, không

đánh vỡ chén ngọc trong hội đào tiên nên bị giáng xuống trần gian, năm 1434
hạ trần vào nhà họ Phạm ở làng Nấp tức Quảng Nạp, nay thuộc xã Yên Đồng,
huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Mẫu là người có nhan sắc nhưng khước từ
nhân duyên, ở vậy phụng dưỡng cha mẹ, giúp đỡ dân nghèo, làm nhiều việc
phúc, đến năm 40 tuổi thì mất.
Khoảng năm 1557, Người giáng sinh lần hai vào gia đình họ Lê ở Vân
Cát, Kẻ Dầy, đất Thiên Bản (nay là xã Kim Thái, huyện Vụ Bản). Khi ra đời
được cha mẹ đặt tên là Lê Thị Thắng, năm 18 tuổi lấy chồng là Trần Đào
Lang cùng xã. Ba năm sau thời gian chung sống hạnh phúc, Người bị gọi về
trời. Nhưng vì vẫn nặng tình thương cha mẹ, chồng con, vấn vương duyên
trần nên được Ngọc Hoàng cho phép, Người đi lại dưới hạ giới chăm sóc cha
mẹ, khuyên nhủ chồng con rồi du ngoạn đó đây, làm nhiều việc thiện.
Lần thứ ba vào năm 1609, Mẫu giáng sinh ở Tây Mỗ, Thanh Hóa (có
tài liệu ghi là ở Kẻ Sỏi, Nghệ An) đã tìm gặp và lấy chồng là Mai Sinh, là
kiếp sau của Đào Lang.
Chuyện đời Mẫu hư hư, thực thực nhưng lại hết sức hòa hợp với cuộc
sống. Mẫu ba lần sinh hóa mà vẫn giữ trọn niềm hiếu nghĩa, thủy chung, nhân
ái. Nhưng có thể nói lần đầu hạ trần năm 1434 là tiền duyên của Mẫu; lần thứ
ba năm 1609 là hậu thời. Hai giai đoạn này không có sự đậm đà cốt truyện,
hiển hách anh linh cũng như sự sùng bái tín ngưỡng bằng lần giáng sinh thứ
hai ở Vân Cát năm 1557. Dân làng Vân Cát mến mộ Người bởi đức độ cũng
như sự hiển linh nên đã “kính cẩn lập đền, mở phủ tôn thờ” [16; 10].
Theo các nguồn tài liệu, trong khu di tích Phủ Dầy, phủ Tiên Hương
được xây dựng sớm nhất, “vào cuối thế kỷ XVI, di tích chỉ được làm bằng
tranh tre” [21; 817]. Trải qua nhiều thế kỷ tu sửa, xây dựng, Phủ Dầy đã trở
thành một công trình kiến trúc tôn giáo phong phú, đa dạng với hơn 20 đền,
phủ, chùa, lăng…, xứng tầm một trung tâm thờ Mẫu lớn nhất nước ta.
23
Như vậy, chợ Viềng Vụ Bản có nguồn gốc từ rất xa xưa, có thể ra đời
vào thời Lý (thế kỷ XII, XIII) gắn liền với việc thờ ông tổ nghề đúc đồng. Rồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status