LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ BẢN ĐỒ ỨNG DỤNG VIỄN THÁM VÀ GIS ĐÁNH GIÁ XÓI MÒN ĐẤT KHU VỰC YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA - Pdf 14

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐINH VĂN HÙNG
ỨNG DỤNG VIỄN THÁM VÀ GIS ĐÁNH GIÁ
XÓI MÒN ĐẤT KHU VỰC YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Bản đồ, Viễn thám và Hệ thông tin địa lý
Mã số: 60 44 76
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Hiệu
HÀ NỘI 2009
2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ, tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận
tình của Tiến sỹ Nguyễn Hiệu!
Xin chân thành cảm ơn những tình cảm và sự giúp đỡ quí báu của các thày
cô giáo trong Bộ môn Bản đồ - Viễn thám, các thày cô trong Khoa Địa lý và các
thày cô đang công tác tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà
Nội đã dành cho học viên trong quá trình học tập và nghiên cứu!
Tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp
đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu!
Tác giả cũng xin tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình đã
dành những tình cảm và sự giúp đỡ to lớn, tạo điều kiện về mọi mặt để có thể hoàn
thành luận văn này!
Đinh Văn Hùng
3
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU XÓI MÒN ĐẤT VÀ ỨNG
DỤNG VIỄN THÁM VÀ GIS TRONG ĐÁNH GIÁ XÓI MÒN ĐẤT 9
1.1. Tổng quan về nghiên cứu xói mòn 9
1.1.1 . Một số quan niệm về xói mòn 9

XÓI MÒN ĐẤT KHU VỰC YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA 38
3.1. Mô hình đánh giá xói mòn đất 38
3.2. Cơ sở dữ liệu và quy trình đánh giá xói mòn đất khu vực Yên Châu 41
3.2.1 . Cơ sở dữ liệu đánh giá xói mòn đất khu vực Yên Châu 41
3.2.2 . Quy trình đánh giá xói mòn đất khu vực Yên Châu 51
3.3. Phân tích, đánh giá xói mòn đất huyện Yên Châu tỉnh Sơn La 56
3.3.1 . Xây dựng bản đồ các chỉ số xói mòn đất 56
3.3.2 . Thành lập bản đồ xói mòn tiềm năng và xói mòn đất khu vực
Yên Châu 70
3.3.3 . Đề xuất một số giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài
nguyên đất 78
5
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1. Mô hình quá trình xói mòn đất do nước (Meyer và Wischmeier
1969) [13] 15
Hình 2. Quy trình xây dựng mô hình số độ cao từ ảnh hàng không 20
Hình 3. Mô hình tính toán lưu vực sử dụng công cụ phân tích không gian của
ArcGIS [12] 24
Hình 4. Mô hình tính toán phương trình MUSLE của N-SPECT [14] 25
Hình 5. Bản đồ địa chất khu vực Yên Châu tỉnh Sơn La ……………… 28
Hình 6. Thống kê độ dốc khu vực Yên Châu 30
Hình 7. Sơ đồ phân bố hệ thống sông suối khu vực Yên Châu 33
Hình 8. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất khu vực Yên Châu…………… … 36
Hình 9. Mô hình số địa hình khu vực Yên Châu 43
Hình 10. Sơ đồ ảnh vệ tinh SPOT 5 khu vực Yên Châu 47
Hình 11. Sơ đồ đất khu vực Yên Châu 49
Hình 12. Quy trình tính toán hệ số R [14] 53
Hình 13. Quy trình tính toán hệ số LS [14] 54
Hình 14. Quy trình đánh giá xói mòn đất N-SPECT [14] 55
Hình 15. Mô hình số độ cao (DEM) độ phân giải 10x10m khu vực Yên Châu

7
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Dưới những tác động của các nhân tố tự nhiên và hoạt động khai thác tài
nguyên của con người, đất đai đang ngày càng bị thoái hóa và biến đổi một cách
nhanh chóng. Sự tác động tiêu cực của các nhân tố tự nhiên, sự biến đổi của khí hậu
toàn cầu đang hàng ngày làm cho lớp đất mặt bị biến đổi, giảm sút về chất lượng,
đặc biệt là tình trạng xói mòn, thoái hoá đất trên các vùng đất dốc. Yên Châu là một
huyện miền núi, biên giới của tỉnh Sơn La, nằm dọc trục quốc lộ 6, trung tâm huyện
lỵ cách thị xã Sơn La 64 km, có 47 km đường biên giới với nước CHDCND Lào.
Tổng diện tích tự nhiên 857,75 km
2
; dân số trung bình năm 2006 là 64,2 nghìn
người, mật độ dân số 74,8 người/km
2
. Điều kiện tự nhiên phong phú thuận lợi cho
việc phát triển sản xuất nông nghiệp đa dạng, cùng với đó là các hoạt động canh tác
trên nền đất dốc dẫn đến nguy cơ xói mòn và bạc màu đất rất cao. Là một huyện
đang có nhiều chuyển dịch về cơ cấu kinh tế xã hội do tiếp nhận dự án tái định cư
thủy điện Sơn La, điều đóđặt ra những vấn đề cấp thiết trong khai thác và bảo vệ tài
nguyên đất trong phát triển kinh tế xã hội.
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu phục vụ cho phát triển kinh
tế xã hội của huyện Yên Châu nói riêng và tỉnh Sơn La nói chung. Tuy nhiên, chưa
có đề tài nào tiến hành đánh giá xói mòn đất trên cơ sở sử dụng công nghệ Viễn
thám và GIS một cách chi tiết cho khu vực này.
Công nghệ viễn thám và GIS ngày càng được nâng cao trong khả năng thu
thập, xử lý và phân tích không gian. Trong đó, các bài toán hỗ trợ cho đánh giá xói
mòn đất như: xử lý ảnh số, mô hình hóa địa hình, chồng ghép phân tích dữ liệu,
v.v… được tiến hành một cách hiệu quả và khách quan. Trên thế giới, việc nghiên
cứu đánh giá xói mòn đất sử dụng công nghệ viễn thám và GIS được quan tâm tại

ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS, đề tài sử dụng các phương pháp khác như
là: điều tra khảo sát thực địa, tổng hợp và phân tích tài liệu; nhóm phương pháp
nghiên cứu trắc lượng hình thái và động lực địa mạo.
9
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU XÓI MÒN
ĐẤT VÀ ỨNG DỤNG VIỄN THÁM VÀ GIS TRONG
ĐÁNH GIÁ XÓI MÒN ĐẤT
1.1. Tổng quan về nghiên cứu xói mòn
1.1.1 .
Một số quan niệm về xói mòn
Theo từ điển bách khoa toàn thư về khoa học đất, xói mòn xuất phát từ tiếng
Latin là “erodere” chỉ sự ăn mòn dần. thuật ngữ xói mòn dùng để chỉ các quá trình
liên quan đến các lớp đất, đá tơi ra và bị mang đi bởi các tác nhân như gió, nước,
băng, tuyết tan hoặc hoạt động của sinh vật [13].
Có nhiều quan niệm về xói mòn khác nhau. Theo viện sĩ L.I. Paraxôlốp, xói
mòn đất là những hiện tượng phá hủy và cuốn trôi theo đất cũng như quặng xốp
bằng dòng nước và gió thể hiện dưới nhiều hình thức và rất phổ biến. Còn theo
Rattan Lal thì xói mòn đất còn được xem là sự chuyển dời vật lý của lớp đất do
nhiều tác nhân khác nhau như lực đập của giọt nước, gió, tuyết và bao gồm cả quá
trình sạt lở do trọng lực [9].
R.P.C Morgan cũng cho rằng, xói mòn đất là một quá trình gồm hai pha, bao
gồm sự tách rời của các phần tử nhỏ từ mặt đất sau đó vận chuyển chúng dưới các
tác nhân gây xói như nước chảy và gió. Khi năng lượng không còn đủ để vận
chuyển các phần tử này, pha tứ ba – quá trình bồi lắng – sẽ xảy ra [13].
Cũng dựa trên yếu tố trọng lực, có quan niệm cho rằng quá trình xói mòn,
trượt lở, bồi lấp thực chất là quá trình phân bố lại vật chất dưới ảnh hưởng của trọng
lực, xảy ra khắp nơi và bị chi phối bởi yếu tố địa hình [13].
Theo một trong những cách tiếp cận khác khi nghiên cứu về lớp phủ thực vật
thì xói mòn là một quá trình động lực phá hủy độ màu mỡ của đất, làm mất trạng
thái cân bằng của cả vùng bị xói mòn lẫn vùng bị bồi tụ (Nguyễn Quang Mỹ,

hiện tượng trượt đất và lũ bùn (Sharpe, 1938; Schaetzl and Follmer,
1990).
11
 Xói mòn do băng tuyết tan: hiện tượng này chỉ xảy ra tại các vùng có
băng tuyết một mùa. Khi băng tuyết tan, chúng di chuyển xuống sườn
dốc tao thành dòng chảy và gây xói mòn đất.
 Xói mòn sinh học là quá trình xói mòn gây ra do sinh vật. Vi khuẩn
với số lượng lớn đóng vai trò quan trọng trong việc phân hủy xác sinh
vật và các khoáng chất. Hiện tượng này diễn ra đặc biệt mạnh tại
những vùng có khí hậu ẩm ướt thích hợp cho vi sinh vật phát triển.
 Xói mòn do con người: đây là dạng xói mòn dễ thấy nhất và gây ra
các hậu quả nghiêm trọng về kinh tế do những hoạt động của con
người. Những hoạt động như canh tác trên vùng đất dốc, phá rừng,
khai thác lớp phủ không bền vững, v.v… là các nhân tố góp phần đẩy
nhanh tốc độ xói mòn đất của các dạng xói mòn khác.
1.2. Tổng quan nghiên cứu xói mòn đất trên thế giới và tại Việt
Nam
1.2.1 .
Nghiên cứu xói mòn đất trên thế giới
Quản lý và kiểm soát xói mòn đã trở thành một thách thức kể từ khi ngành
nông nghiệp định cư (settled agriculture) ra đời. Với cố gắng kiểm soát xói mòn
trên những vùng đất dốc đã dẫn đến sự ra đời của kiểu canh tác trên ruộng bậc
thang. Ruộng bậc thang đã trở thành nét truyền thống trong các cộng đồng cư dân
cổ trên toàn thế giới bao gồm Trung Đông (Phoenicians), Trung và Đông Nam Á,
Tây Á (Yêmen), và Trung – Nam Mỹ. Người dân Inca đã thiết kế hệ thống ruộng
bậc thang với tường đá phức tạp ở Peru (Wiliam L.S, 1987) [4,15].
Những nghiên cứu hiện đại về xói mòn đất và các kỹ thuật kiểm soát xói
mòn bắt đầu tại Mỹ từ những năm 1930. Từ giai đoạn này, các khía cạnh cả về cơ
bản lẫn ứng dụng trong nghiên cứu xói mòn được phát triển ở khắp nơi trên toàn thế
giới (R. Lal, 2001). Một số tổ chức nghiên cứu xói mòn và bảo tồn đất điển hình là:

thế là Hội các khoa học thủy văn quốc tế (IAHS) và Tổ chức nghiên cứu đất trồng
13
trọt quốc tế (ISTRO). Hiệp hội các khoa học đất quốc tế (IUSS) được lập ra để giải
quyết các nhiệm vụ liên quan đến xói mòn và bảo tồn đất.
Các tổ chức nghiên cứu quốc gia: xói mòn và kiểm soát xói mòn là các vấn
đề ưu tiên hàng đầu với hầu hết các tổ chức nghiên cứu quốc gia trong các lĩnh vực
tài nguyên đất, nông học, thủy văn và kỹ thuật nông nghiệp. Mỗi quốc gia đều có
các tổ chức được lập ra hoặc có chức năng nghiên cứu xói mòn và các biện pháp
hạn chế xói mòn đất trong phạm vi lãnh thổ cũng như qui mô quốc tế.
Nghiên cứu xói mòn đất đã đi được một chặng đường dài và đạt được nhiều
kết quả. Trọng tâm của các nghiên cứu trong thế kỷ 20 là đo đạc và dự báo tốc độ
xói mòn và các tác động trực tiếp đến sản lượng nông nghiệp. Một số ảnh hưởng
của xói mòn tới chất lượng nước, ô nhiễm, tai biến thiên nhiên, v.v… cũng đã được
đề cập đến. Xói mòn đất sẽ tiếp tục là thách thức với việc quản lý bền vững tài
nguyên đất và nước trong thế kỷ 21. Vẫn cần phải nghiên cứu các mối quan hệ giữa
các tác nhân gây ra xói mòn cả về lý thuyết và thực tế. Sử dụng các công cụ viễn
thám và GIS trong nghiên cứu xói mòn nhằm tăng độ chính xác trong đánh giá cũng
là một trong các vấn đề đang được quan tâm hàng đầu.
1.2.2 .
Nghiên cứu xói mòn đất tại Việt Nam
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa, khí hậu và địa hình phân hóa phức
tạp do đó hiện tượng xói mòn diễn ra rộng khắp và đa dạng, công tác nghiên cứu xói
mòn đất cũng vì thế đã được quan tâm từ rất sớm. Tuy nhiên, các nghiên cứu xói
mòn đất và các biện pháp chống xói mòn trong giai đoạn trước những năm 1960
hầu như chưa đem lại kết quả gì đáng kể và chỉ dựa chủ yếu vào kinh nghiệm thực
tiễn.
Từ những năm của thập niên 60 thế kỷ 20, cùng với sự phát triển kinh tế của
Miền Bắc gắn với nền nông nghiệp tập trung là sự xuất hiện một loạt các công trình
nghiên cứu xói mòn và chống xói mòn đất. Đáng chú ý nhất trong thời kỳ này là các
tác giả: Tạ Quang Bửu, Trần Ích Châm, Hồ Sỹ Chúc, Tôn Gia Huyên, Nguyễn

= k
1
AI
2
D
F
= k
2
AS
2/3
Q
w
2/3
T
F
= k
4
S
5/3
Q
w
5/3
Trong đó: A là diện tích
I là cường độ mưa
S là độ dốc (sin θ)
Q
w
làdòng chảy mặt
15
Đất trên cao

dốc và đồng ruộng của Zingg (1940), ông đã gắn xói mòn với các nhân tố độ dốc và
chiều dài sườn dốc. Các nghiên cứu sau này bổ sung thêm các yếu tố khí hậu dựa
trên tổng lượng mưa của các trận mưa kéo dài trên 30 phút trong thời gian hai năm
16
(Musgrave 1947), tiếp đến là nhân tố mùa màng trong tính toán hiệu quả bảo vệ đất
của các cây trồng khác nhau (Smith 1958), nhân tố bảo vệ và độ kháng xói của đất.
Wischmeier và Smith đã thay nhân tố khí hậu thành chỉ số xói mòn do mưa (R) cuối
cùng cho ra mô hình mất đất tổng quát (USLE) [13]. Phương trình này có dạng
[16] :
E = R x K x L x S x C x P
Trong đó : E : lượng mất đất trung bình năm (kg/m
2
.năm)
R: là hệ số xói mòn do mưa (KJ.mm/m
2
.h.năm)
K: Hệ số kháng xói của đất (Kg.h/KJ.mm)
L: Hệ số chiều dài sườn dốc
S: Hệ số độ dốc
C: Hệ số lớp phủ
P: Hệ số canh tác bảo vệ đất
Đây được xem như mô hình phổ biến nhất được sử dụng để xây dựng các
công cụ đánh giá xói mòn đất dựa trên các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình
và lớp phủ thực vật. Tuy nhiên, việc sử dụng phương trình này để đánh giá xói mòn
xảy ra trong thời gian ngắn hơn sẽ không chính xác và khi áp dụng cho các quy mô
nghiên cứu khác nhau cũng cần thận trọng. Trong thực tế, việc tách quá trình xói
mòn thành các nhân tố là các biến độc lập cũng đem lại nhiều khả năng tùy biến
trong tính toán đánh giá xói mòn đất bằng việc thay đổi chúng phù hợp hơn với các
điều kiện về khí hậu, đất, địa hình và canh tác khác nhau.
Đã có một số mô hình đánh giá xói mòn sử dụng USLE hoặc USLE biến đổi

đất tổng quát, mô hình không thể dự báo xói mòn cho một cơn bão bất kỹ hoặc xói
mòn khe rãnh. Hạn chế của mô hình này là chỉ có thể áp dụng cho một lưu vực nhỏ
bằng cách phân chia lưu vực thành các đơn vị đất với cùng thông số về loại đất, độ
dốc và kiểu lớp phủ.
1.3.5 .
Mô hình N-SPECT
N-SPECT là mô công cụ đánh giá xói mòn đất và ô nhiễm nước cũng như
lập các kịch bản biến đổi sử dụng đất cho các khu vực khác nhau. Bộ công cụ này
được phát triển dựa trên mô hình mất đất tổng quát và chạy trên môi trường GIS.
Các chức năng chính của N-SPECT là tính toán ước lượng dòng chảy mặt, lượng
tích lũy trầm tích, tổng lượng mất đất, v.v
18
Đặc biệt, công cụ N-SPECT có thể chạy trên môi trường ArcGIS với các
phiên bản mới nhất và luôn được cập nhật. Đây là một lợi thế bởi nó có thể sử dụng
các công cụ phân tích không gian của ArcGIS – một trong các hệ GIS được đánh
giá là mạnh nhất hiện nay – để giải quyết bài toán đánh giá xói mòn đất.
1.4. Phương pháp ứng dụng viễn thám và GIS trong đánh giá xói
mòn đất
Với sự phát triển mạnh mẽ, công nghệ viễn thám và GIS ngày càng giải
quyết được nhiều vấn đề trong mô hình hóa không gian địa lý nói chung và mô hình
hóa xói mòn nói riêng. Với các bài toán mô hình hóa đa nhân tố như đánh giá xói
mòn đất, công nghệ viễn thám và GIS có khả năng cung cấp các tư liệu và công cụ
sau [4]:
 Xây dựng các dữ liệu đầu vào cho tính toán mô hình xói mòn đất
 Sử dụng các công cụ phân tích không gian và các công cụ xây dựng
mô hình tính toán tự động các tham số tham gia vào mô hình xói mòn
 Xây dựng các mô hình, giải quyết các kịch bản đánh giá xói mòn đất,
biến đổi sử dụng đất liên quan đến xói mòn, đánh giá ô nhiễm nguồn
nước do xói mòn,….
1.4.1 .

Xây dựng mô hình số độ cao từ phương pháp trắc địa ảnh
Quy trình xây dựng mô hình số độ cao cơ bản bằng phương pháp trắc địa ảnh
được thể hiện trong hình 2 dưới đây.
Trước tiên, người ta tiến hành bay chụp khu vực nghiên cứu với một tỷ lệ
ảnh nhất định. Sử dụng các máy quét phim chuyên dụng (photogrammetric scanner)
để chuyển ảnh từ dạng tương tự sang dạng số với độ phân giải rất cao (thông thường
khoảng 16µm - 32µm). Các điểm khống chế mặt đất (GCP) cũng được đo đạc bằng
thiết bị GPS với độ chính xác đến centimét.
20
Hình 2. Quy trình xây dựng mô hình số độ cao từ ảnh hàng không
Ảnh hàng không dạng số được đưa vào các chương trình trắc địa ảnh để tính
toán, quá trình đo ảnh thông thường được thực hiện theo quy trình sau:
 Lập khối ảnh
 Định hướng trong, định hướng tương đối
 Đo điểm khống chế mặt đất (GCP) trên ảnh
 Đo điểm nối ảnh hoặc khớp ảnh tự động
 Bình sai khối tam giác ảnh không gian
Với khả năng liên kết chặt chẽ, quá trình đo ảnh đảm bảo cho ra khối ảnh có
sai số khoảng cách rất nhỏ (1/3 kích thước pixel). Đổi với độ cao, sai số tại các
điểm khống chế nhỏ hơn 1/1000 độ cao bay chụp (H).
Sau đó, các mô hình lập thể tạo ra từ khối tam giác ảnh không gian được đo
đạc các yếu tố sau:
Phim ảnh hàng không
Chuyển đổi sang dạng số
Tính toán, bình sai khối tam
giác ảnh không gian
Đo khống chế mặt đất
(GCP) bằng GPS
Tạo mô hình số độ cao
tự động

 Số hóa các yếu tố địa hình, gán thuộc tính
 Tạo mô hình TIN
 Thành lập DEM
22
Tuy nhiên, các đặc trưng của địa hình thường không được thể hiện đầy đủ
trên dữ liệu bản đồ địa hình do quá trình tổng quát hóa. Các loại bản đồ thường ở tỷ
lệ vừa và nhỏ nên khoảng cao đều lớn, độ khái quát hóa cao. Do đó, việc chiết tách
các thông tin địa hình thường không đảm bảo cho các phân tích đánh giá chi tiết cho
các vùng nhỏ.
Các công cụ phân tích ba chiều của GIS cung cấp các công cụ mạnh cho xử
lý mô hình số độ cao. Bao gồm:
 Thành lập và biên tập mô hình TIN
 Chuyển đổi mô hình TIN sang dạng raster
 Các phân tích thống kê lân cận (Neiboughood Statistics)
 V.v….
Sản phẩm của quá trình xây dựng mô hình số độ cao và xử lý ba chiều cho
đánh giá xói mòn bao gồm:
 Dữ liệu phân chia các lưu vực phụ
 Dữ liệu tính toán tích tụ dòng chảy (Flow Accumulation)
 Dữ liệu chiều dài sườn
 Dữ liệu độ dốc
 Dữ liệu hệ số LS
Ngoài ra,các công cụ GIS và ảnh số ngày càng được phát triển không ngừng
tăng khả năng xử lý DEM với khối lượng lớn hơn cho khu vực rộng hơn và chi tiết
hơn. Các dữ liệu ngày càng tương thích với nhiều hệ phần mềm mô hình hóa không
gian trong đó xói mòn đất.
1.4.3 .
Ứng dụng viễn thám trong phân loại lớp phủ thực vật
Một trong các ứng dụng quan trọng của viễn thám đối với nghiên cứu xói
mòn đất là chiết xuất ra các thông tin liên quan đến lớp phủ mặt đất. Các tư liệu ảnh

Công thức này có dạng:
TNDVI= Sqrt(NDVI+0,5)
24
Cũng như phương pháp phân loại lớp phủ mặt đất từ ảnh viễn thám, phương
pháp tính toán hệ số lớp phủ thực vật chỉ phản ảnh được hiện trạng lớp phủ thực vật
tại thời điểm thu nhận ảnh.
1.4.4 .
Xây dựng mô hình hóa tự động cho đánh giá xói mòn
Các mô hình đánh giá xói mòn thường là các bài toán phân tích đa nhân tố
phức tạp, có sự tham gia của nhiều biến (R, LS, K, C, P). Ngoài ra, trong quá trình
áp dụng, người ta còn sử dụng các biến đổi nhằm tăng độ tin cậy cho mô hình.
Hệ thông tin địa lý cung cấp các công cụ phân tích không gian cho phép tính
toán, chồng ghép dữ liệu và giải quyết bài toán đánh giá xói mòn một cách tự động.
Tùy vào từng bài toán, GIS cho phép xây dựng các mô hình tự động và đưa ra kết
quả là các hệ số cho tính toán xói mòn. Dưới đây là ví dụ về mô hình tính toán cho
phân tích lưu vực (Water Delineation) bằng GIS:
Hình 3. Mô hình tính toán lưu vực sử dụng công cụ phân tích không
gian của ArcGIS [12]
25
Hình 4 là một ví dụ về quy trình tính toán xói mòn đất theo mô hình MUSLE
của N-SPECT. Mô hình này thường được áp dụng cho tính toán xói mòn đất gây ra
do mưa tại một thời điểm (VD: bão).
Hình 4. Mô hình tính toán phương trình MUSLE của N-SPECT [14]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status