tài liệu tham luận số 18 thị trường lao động nông thôn và vấn đề di cư - Pdf 14

Nâng cao Hiệu quả Thị trường cho người nghèo tài liệu tham luận

ADBSố 18

Thị trường lao động nông thôn
và Vấn đề di cư



vị thế khác của bất cứ vùng lãnh thổ no.

www.markets4poor.org
1
Mục lục

1. Tổng quan 2
2. Thị trường lao động nông thôn và di cư nông thôn ở Việt Nam 4
2.1. Thị trường lao động nông thôn Việt Nam 4
2.2. Tình hình di cư nông thôn Việt Nam 5
3. Tác động của di cư tới thị trường lao động nông thôn – phân tích ở mức hộ gia đình 6
3.1 Mô hình lý thuyết 6
3.2. Dạng hàm thực nghiệm 8
3.3 Kết quả hồi qui 9
3.3.1 Di cư và cầu lao động nông thôn 9
3.3.2 Phân bổ lao động của hộ ở khu vực nông thôn: 12
3.3.3 Năng suất lao động của h
ộ 13
4. Tác động của di cư tới thị trường lao động nông thôn – 8 trường hợp nghiên cứu về tác
động và nhận thức về tác động ở cấp độ xã 15
4.1. Các nguồn số liệu 15
4.2. Các đặc điểm di cư 16
4.3. Chi tiêu từ tiền gửi về và cầu lao động địa phương 18
4.4 Ảnh hưởng của di cư đối với các doanh nghiệp và trường học 19
4.5 Nhận thức về tác độ
ng của di cư đến cộng đồng, các hộ gia đình và người di cư 20
4.5.1 Tác động đối với cộng đồng 20
4.5.2. Tác động tới các hộ di cư 22
4.5.3 Tác động tới những người di cư 23
5. Kỳ vọng về di cư trong tương lai và đánh giá các lựa chọn chính sách 24

, chẳng hạn như Đặng N. A và Lê
B.D (2001) nghiên cứu sự di cư của phụ nữ và gắn kết với vùng đô thị. Trong khi đó Hà T.
P. T và Hà Q.N (2000) lại phân tích những vấn đề khác nhau của di cư tự do từ nông thôn
và thành thị của phụ nữ. Một số nghiên cứu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến di cư
và tác động của di cư chủ yếu tới các vùng đô thị như Đặng N. A và Lê (2001),
Đặng N. A
và các cộng sự (2006), Thân V. L (1997) và Nguyễn V.T (1998). Thực tế, có rất ít nghiên
cứu đề cập phần nào tới tác động của di cư đến các vùng xuất phát của di cư. Thân V. L
(1997) và Đỗ V. H (1999) có đề cập nhưng hai nghiên cứu trên phân tích các tác động này
ở một mức độ khá khiêm tốn.
Tuy nhiên, tác động của di cư bao gồm cả tác động tích cực và tiêu cực tới vùng xuất phát
di cư không nên bị bỏ qua. Các lợi ích tiềm năng đối v
ới các vùng xuất phát di cư có thể kể
đến: i) Làm giảm nhẹ tình trạng dư thừa lao động nông thôn; ii) Kiều hối; iii) Kỹ năng và
iv) Đầu tư ((iii) và (iv) do lao di cư trở về địa phương tạo nên) và các tác động tiêu cực có
thể bao gồm chẳng hạn như “chảy máu chất xám” của những người di cư có trình độ cao
một cách tương đối, sự khan hiếm lao động nông nghiệp, các vấn đề xã hội v.v… Cần l
ưu
ý rằng mối quan hệ giữa di cư và thị trường lao động nông thôn hay phát triển nông thôn là
một “dòng chảy”, tức là chúng tương tác lẫn nhau. Vì vậy, ít nhất các tác động “hai vòng”
sẽ được xem xét trong nghiên cứu này.
Do sự thiếu vắng các nghiên cứu về tác động của di cư đến các vùng xuất phát di cư, một
điều lô-gic và cũng là một thực tế là cho đến nay có rất ít các nghiên cứu về tiềm năng của
việc tạ
o lập các chính sách nhằm tối đa hoá lợi ích do di cư đem lại đối với các vùng nông
thôn xuất phát di cư. Thân Văn Liên (1997) đưa ra một số giải pháp mang tính chất gợi ý
cho vùng nông thôn xuất phát di cư chỉ với mục tiêu ngăn cản các dòng di cư tự do lớn từ
nông thôn ra thành thị ở Việt Nam chẳng hạn như giúp đỡ nông dân trong việc mở rộng
sản xuất nông nghiệp, củng cố cơ sở hạ
tầng v.v… Tuy nhiên, các chính sách này mặc dù

phân bổ lực lượng lao động nông nghiệp, phi nông nghiệp và lao động làm công ăn lương
của hộ gia đình ?; ii) Di cư ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọ
n ngành nghề trong lĩnh
vực nông nghiệp và phi nông nghiệp; và iii) Di cư ảnh hưởng như thế nào đến năng suất
lao động trong các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp?.
Ở cấp độ xã, phân tích cũng được thực hiện nhằm nghiên cứu tác động của di cư
đến thị trường lao động cũng như về khía cạnh chi tiêu. Các giả thuyết chính được kiểm
nghiệm trong phân tích là: i) Những người sử dụng lao động ở
những vùng có di cư tương
đối cao phải đối mặt với các vấn đề về thay thế lao động, có lợi nhuận ít hơn và thị trường
nhỏ hơn do tác động của di cư; ii) Di cư không chỉ tốt cho bản thân người di cư mà còn tốt
cho cả gia đình của họ và địa phương (xã); và iii) Cấu trúc chi tiêu từ tiền người di cư gửi
về của các hộ có người di cư thay đổi và có tác độ
ng tích cực tới sự phát triển của địa
phương.
Nguồn thông tin quan trọng được sử dụng để phân tích “tác động tại cấp xã” là kết
quả khảo sát của nhóm nghiên cứu tại các vùng nông thôn trong cả nước. Cuộc khảo sát
này được thiết kế phục vụ cho mục đích riêng của nghiên cứu này và được tiến hành tại 8
xã (thuộc 5 tỉnh) nơi mà gần đây có tỷ lệ di cư đi cao (kể
từ năm 1993) và cũng là nơi đã
được khảo sát bởi tất cả các cuộc Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam. Để đảm bảo
tính đại diện trên toàn quốc và sự cân đối giữa các vùng, 4 xã ở miền Bắc (thuộc 3 tỉnh) và
4 xã khác (thuộc 2 tỉnh) ở miền Nam đã được chọn. Đại diện các Uỷ ban Nhân dân Xã, các
hộ gia đình có người di cư, các hộ gia đình không có ngườ
i di cư, các doanh nghiệp và
trường học đã được phỏng vấn để có thể thu được các thông tin và nhận thức khác nhau về
tình hình di cư ở địa phương. Cùng với các nguồn dữ liệu thứ cấp khác, nghiên cứu này có
sử dụng một phần số liệu từ các cuộc Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam và tập
trung khai thác bộ số liệu VHLSS2004. Những số liệu này được s
ử dụng để lượng hoá tác

đây, tỷ lệ lao động làm việc trong công nghiệp và dịch vụ đã tăng từ 10,88% năm 1996
lên 17,35% năm 2004. Cũng trong khoảng thời gian này, lực lượng lao động làm việc
trong nông nghiệp đã giảm xuống đáng kể (CIEM, 2006). Xu hướng việc làm như vậy ở
vùng nông thôn tiếp tục được khẳng định trong Bảng 2.1.
Bảng 2.1: Việc làm phi nông nghiệp theo vùng
Điều tra Mức sống Việt Nam
(giờ lao động)
Điều tra Lao động và Việc làm
1997 2001 2004 1997 2001 2004
Vùng núi phía Bắc 11,01 34,29 36,31
12,96 15,75 19,61
Đồng bằng Sông Hồng 19,35 52,12 56,58
26,31 33,54 43,56
Ven biển Bắc Trung bộ 20,49 40,85 45,70
24,15 31,58 34,44
Ven biển Nam Trung bộ 22,39 51,62 52,93
31,20 42,67 50,72
Tây nguyên 8,54 33,42 32,91
19,88 22,29 23,66
Đông Nam bộ 40,18 53,53 55,36
45,63 51,56 56,58
Đồng bằng sông Cửu long 28,95 48,33 48,02
33,71 37,88 39,25
Cả nước 21,69 45,46 47,15
27,69 33,61 38,26
Nguồn: Lê X.B. và các cộng sự (CIEM, 2006)
Tuy nhiên, hiện nay việc làm ở nông thôn Việt Nam vẫn đặc trưng bằng việc làm nông
nghiệp với hơn 60% lao động ở vùng nông thôn làm việc trong lĩnh vực này, và khoảng
52% tổng thời gian làm việc của lao động ở các vùng nông thôn được dành cho công việc
nông nghiệp

c
ư lớn nhất trong thời kỳ này là di cư từ đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu
Long đến Tây nguyên. Một số dòng di cư đi đến các khu vực miền núi phía bắc và số khác
đến các vùng biên giới. Có thể nói rằng mặc dù di cư theo kế hoạch đã đạt được một số
thành tựu, song nó đã không huy động được tính tự chủ và và sự tham gia của những người
trực tiếp chịu s
ự ảnh hưởng của chính sách.
Di cư trong nền kinh tế thị trường: Một loại di cư đa dạng hơn bắt đầu từ thời kỳ
đổi mới. Loại di cư này chủ yếu do các động lực về kinh tế thúc đẩy, do vậy được xem là
di cư trong nền kinh tế thị trường. Do đó, nơi đến của dòng di cư thị trường này là các tỉnh
có mức độ công nghiệp hóa cao hơn, trong đó, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình
Dương, Quảng Ninh và Đà Nẵng là 5 nơi đến quan trọng nhất. Đồng thời, những nơi đi chủ
yếu bao gồm Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình, Hà Tây và Quảng Nam. Trong số 5 tỉnh
có nhiều người đến nhất trong giai đoạn 2002-2004, các dòng di cư có tính tập trung cao và
chủ yếu đến Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Bình Dương. Trong khi các dòng di cư đi
lại phân bố đều hơn theo 5 nơi đ
i chủ yếu. Khi xem xét kỹ hơn, chúng ta thấy các dòng di
cư di chuyển từ tỉnh có GDP trên đầu người thấp, chỉ số Phát triển Con người thấp và tỷ lệ
thất nghiệp cao đến các tỉnh có GDP trên đầu người cao, chỉ số phát triển con người cao và
tỷ lệ thất nghiệp thấp.
Trong năm 2004, tỷ lệ những người rời khỏi gia đình ở vùng ven biển Nam bộ là
3,38%, đây là tỷ lệ
cao nhất khi so sánh theo vùng. Tỷ lệ này ở vùng đồng bằng Sông
Hồng, ven biển Bắc Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long là xấp xỉ 1%. Khi đề cập đến
nơi đến, vùng Đông Nam bộ có tỷ lệ người di cư cao nhất so với 8 vùng trong cả nước với
4,16% trong tổng lực lượng lao động, vùng này nhận được 67% tổng số người di cư trong
cả nước và tiếp đó là vùng Đông Bắc bộ,
đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ tương ứng là 11%
www.markets4poor.org
6

của hộ gia đình? ii) Di cư ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn ngành nghề trong từng
lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp? và iii) Di cư ảnh hưởng như thế nào đến năng
suất lao động trong các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp?.
3.1 Mô hình lý thuyết
Cơ sở lý thuyết ở
đây dựa trên mô hình ‘không phân tách’ của hộ gia đình nông dân. Mô
hình này là động lực phát triển của kinh tế học mới về di cư lao động (B
ENJAMIN 1992).
Mô hình này khái quát hơn mô hình ‘phân tách’ cổ điển của hộ gia đình và nó cho phép có
tồn tại lao động dư thừa kiểu Lewis (năng suất lao động cận biên bằng không). Do đó, mô
hình này là mô hình khái quát nhất và phù hợp với tình trạng thị trường chưa hoàn hảo của
Việt nam hiện nay.
Mô hình bài toán của hộ của B
ENJAMIN (1992) được sử dụng trong nghiên cứu có dạng
tổng quát sau:
);,(max
,,,,,
alcu
ODODFHW
LLLLLlc −
(1)
bị ràng buộc bởi:
)();,( aywLwLALLFc
WHDODF
++−=
(2)
)(aTLLLl
WOF
=+++
(3)

,L
DO
;A) là hàm sản suất thông thường có thể đạo hàm 2 lần
L
F
cung lao động cho các hoạt động nông nghiệp
L
O
cung lao động cho các hoạt động phi nông nghiệp
L
W
cung lao động làm công ăn lương
L
H
lao động đi thuê
w lương cho L
H
và L
W
T(a) quĩ thời gian
y(a) thu nhập ngoại lai
Kết hợp (2)-(4) cho ta ràng buộc thu nhập tổng hợp:
YayawTALLwwlc
DODF
=++=+ )()();,,(
π
(5)
trong đó
DODFDODFDODF
wLwLALLFALLw −−= );,();,,(

(8)
và lời giải này có thể được thể hiện bằng một hàm số của lương và đất đai: L
DF*
(w;A) và
L
DO*
(w;A). Nhu cầu lao động chỉ phụ thuộc vào công nghệ sản xuất và lương, không phụ
thuộc vào các sở thích của hộ gia đình.
Với đặc điểm ‘phân tách’, các đặc điểm của hộ gia đình (trong đó có di cư) không thể ảnh
hưởng tới nhu cầu lao động L
DF*
và L
DO*
(và năng suất lao động F/L). Khi thị trường lao
động đã phát triển, lao động đi thuê có thể thay thế hoàn hảo cho những người di cư, và sản
xuất của hộ gia đình sẽ không bị ảnh hưởng.
Tuy vậy, như B
ENJAMIN (1992) đã chỉ ra, đặc điểm ‘phân tách’ sẽ không giữ được trong
một vài trường hợp. Những trường hợp đó là: (1) Ràng buộc đối với lao động phi nông
nghiệp có hiệu lực; (2) Nhu cầu lao động làm thuê quá lớn; và (3) lao động của hộ gia đình
và lao động được thuê là không thể thay thế cho nhau. Những điều kiện trên nhằm đảm bảo
www.markets4poor.org
8
cho lợi nhuận bị ràng buộc và sản phẩm cận biên của lao động tại điểm tối ưu không bằng
được với mức lương (w) trên thị trường như phương trình (7) và (8). Nếu những điều kiện
này xảy ra, sản phẩm cận biên của lao động tại điểm tối ưu (còn gọi là lương ẩn) không
bằng với mức lương thị trườ
ng, và mức lương ẩn sẽ phụ thuộc vào sở thích của hộ gia
đình. Khi đó, di cư sẽ ảnh hưởng đến lựa chọn lao động thông qua lương ẩn.
3.2. Dạng hàm thực nghiệm

aAwL
DFDFDFDFDF
δγβα
+++= lnlnln
(14)
aAwL
DODODODODO
δγβα
+++= lnlnln
(15)
trong đó δ
DF
=δβ
DF
, δ
DO
=δβ
DO
.
Nếu δ
DF
≠0 và δ
DO
≠0, đặc biệt nếu hệ số của các biến di cư khác không, chúng ta loại bỏ
giả thuyết ‘phân tách’ chấp nhận trường hợp không phân tách, và di cư sẽ có ảnh hưởng tới
cầu lao động của hộ gia đình. Khi có di cư, chúng ta kỳ vọng là những thành viên còn lại sẽ
lao động chăm chỉ hơn để bù đắp cho sự sụt giảm T(a), nhưng nếu không được bù đắp toàn
phần cung lao
động sẽ giảm (và F/L tăng lên). Tuy nhiên, nếu lao động dư thừa và sản
phẩm cận biên của lao động bằng không [mô hình Lewis, xem L

−++=
δγβα
(17)
Như vậy, năng suất lao động có thể được nghiên cứu giống như cầu lao động.
3.3 Kết quả hồi qui
Mô hình thực tế được chạy chủ yếu dựa trên bộ cơ sở dữ liệu của Điều tra mức sống hộ gia
đình Việt Nam năm 2004. Ảnh hưởng của di cư vĩnh viễn và di cư ngắn hạn được xem xét
một cách riêng biệt. Di cư vĩnh viễn là những người đã rời khỏi hộ gia đình
3
lâu dài

để đi
lao động. Trong khi đó, người di cư ngắn hạn là những người là thành viên của hộ gia đình
nhưng ở trong hộ ít hơn 6 tháng trong vòng 12 tháng qua. Chúng tôi nhận thấy rằng, mô
hình được thể hiện tốt hơn khi sử dụng các biến di cư là tỷ lệ của những người di cư trên
tổng số người trong hộ gia đình so với trường hợp dùng biến giả di cư. Các biến khác có
liên hệ tr
ực tiếp tới hiện tượng di cư là lượng tiền người lao động chuyển về gia đình, cả
tiền gửi về từ trong nước lẫn kiều hối. Để tránh vấn đề qui mô, chúng tôi cũng sử dụng tỷ
số giữa tiền gửi về và thu nhập của hộ gia đình chứ không phải là số tuyệt đối.
3.3.1 Di cư và cầu lao động nông thôn
Di cư và mức cầu lao động tối ưu đối với các hoạt động nông nghiệp
Bảng 3.1 cho thấy những kết quả ước lượng cầu lao động đối với các hoạt động nông
nghiệp. Do vấn đề nội sinh của di cư, chúng tôi đã ước lượng 3 phương trình của cầu lao
động: bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) của phương trình (14), OLS của phương
trình (14) với các đặc điểm của xã, OLS với các đặc điểm của xã và biến giả của tỉnh. Việc
thêm các đặc điểm của xã và biến giả của tỉnh không thay đổi đáng kể hệ số của các biến di
cư (chúng không có ý nghĩa ở cả ba kết quả ước lượng các phương trình), do đó vấn đề nội
sinh không quan trọng đối với kết quả tính toán của chúng tôi. Mặc dù vậy, kết quả ước
lượng vẫn ủng hộ giả thuyết không ‘phân tách’.

OLS với các đặc
điểm của xã và biến
giả của tỉnh

Tiền kiều hối -0,286 -0,266 -0,227
[0,99] [0,94] [0,89]
Tiền người lao động chuyển về từ trong
nước -0,263 -0,241 -0,219
[1,13] [1,04] [0,92]
Dân tộc của chủ hộ -0,195 -0,057 -0,080
[7,07]*** [1,33] [1,85]*
Chủ hộ hiện tại là người đơn chiếc -0,208 -0,205 -0,208
[4,76]*** [4,67]*** [4,85]***
Qui mô hộ gia đình 0,123 0,126 0,122
[17,29]*** [17,50]*** [17,56]***
Tỷ lệ nữ giới -0,063 -0,077 -0,056
[0,87] [1,06] [0,80]
Tỷ lệ trẻ em -0,719 -0,764 -0,804
[8,85]*** [9,28]*** [9,88]***
Mức độ nghèo đói theo phân loại của
địa phương
-0,081 -0,052 -0,059
[2,24]** [1,39] [1,63]
Loại nhà ở -0,059 -0,062 -0,068
[2,26]** [2,30]** [2,43]**
Trình độ học vấn của chủ hộ -0,061 -0,068 -0,073
[5,27]*** [5,73]*** [6,19]***
Tỷ lệ vay 0,072 0,067 0,049
[0,79] [0,72] [0,53]
Tỷ lệ di cư vĩnh viễn ở xã 2,053 1,733

[27,54]*** [22,45]*** [16,93]***
Số lượng quan sát 3616 3557 3557
R2 0,3127 0,3246 0,3856
Kiểm định F của các biến di cư 0,64 0,61 0,74
Xác suất > F 0,636 0,6557 0,5618
Kiểm định F của các biến xã 9,31 2,20
Xác suất > F 0,000 0,0195
Kiểm định F của các biến giả của tỉnh 5,65
Xác suất > F 0,000
Kiểm định Robust t trong ngoặc; * Có ý nghĩa ở mức 10%; ** Có ý nghĩa ở mức 5%; *** Có ý nghĩa ở
mức 1%.


Kết quả ước lượng cho các biến giả không được báo cáo ở đây để tránh dài dòng.

Kết quả hồi qui phương trình (14) đã loại bỏ giả thuyết ‘phân tách’ cho trường hợp các
nông dân Việt nam. Bảng 3.1 cho thấy, mặc dù hệ số của các biến di cư không có ý nghĩa
(Tỷ lệ di cư vĩnh viễn, Tỷ lệ di cư ngắn hạn, Kiều hối, Tiền người lao động chuyển về từ
trong nước) và sự có mặt của tất cả các biến này cũng không có ý nghĩa thố
ng kê, nhưng
các hệ số của biến “Chủ hộ hiện tại là người đơn chiếc”, Qui mô hộ gia đình, Tỷ lệ trẻ em,
Loại nhà, Trình độ học vấn của chủ hộ có ý nghĩa thống kê ít nhất ở mức 5%. Kiểm định F
của các biến xã và biến giả của tỉnh có ý nghĩa thống kê ở mức ít nhất 2%. Điều này gợi ý
rằng kết quả
ước lượng phương trình (14) với đặc điểm của xã và biến giả của tỉnh là mô
hình tốt nhất.
Mặc dù di cư không có ảnh hưởng trực tiếp tới cầu lao động nông nghiệp, di cư có thể ảnh
hưởng tới cầu lao động nông nghiệp thông qua Qui mô hộ gia đình và Tỷ lệ trẻ em do hệ
số của những biến này có ý nghĩa thống kê. Do chỉ có Qui mô hộ gia đình và Tỷ lệ
trẻ em

quả mô hình
Để có thể đánh giá mức độ ảnh hưởng của di cư, chúng tôi mô phỏng tác động của việc có
thêm một người di cư khỏi hộ gia đình. Kết quả mô hình cho thấy một người là nam giới di
cư vĩnh viễn có tác động lớn nhất đế
n cầu lao động phi nông nghiệp. Di cư ngắn hạn có tác
động ít nhất. Nếu tính theo ngày công, một người là nam giới di cư vĩnh viễn sẽ làm giảm
cầu lao động phi nông nghiệp từ mức trung bình 226 ngày công xuống còn 193 ngày công.
Thêm một thành viên nữ di cư vĩnh viễn sẽ làm giảm nhu cầu lao động phi nông nghiệp từ
mức trung bình xuốn còn 194 ngày công và một người di cư ngắn hạn sẽ giảm cầu lao
động phi nông nghiệp trung bình xuống còn 208 ngày công. Những sự
sụt giảm này nhỏ
hơn so với mức ngày công lao động phi nông nghiệp trung bình (156 ngày công). Như vậy
kết quả cho thấy những người còn lại trong hộ gia đình đã làm thêm để bù đắp cho những
người đi khỏi hộ gia đình.
Bảng 3.2. Tác động của việc thêm một người di cư tới cầu lao động phi nông nghiệp
(thay đổi log của cầu lao động phi nông nghiệp).
Ảnh hưởng gián tiếp thông qua Ảnh
hưởng
trực
tiếp
Qui mô hộ
gia đình
Tỷ lệ trẻ em Tiền người
lao động gửi
về từ trong


c
Kiều hối
Tác động

trồng trọt. Hệ số của di cư vĩnh viễn không có ý nghĩa thống kê và hệ số của tiền người lao
động gửi về, Qui mô hộ gia đ
ình, Tỷ lệ trẻ em và nữ giới cũng như vậy.
Ngược lại, di cư chỉ có tác động gián tiếp đến xác suất lựa chọn ngành chăn nuôi, thủy sản
và dịch vụ nông nghiệp so với trồng trọt. Di cư ngắn hạn tăng lên sẽ có tác động tích cực rõ
ràng đến sự lựa chọn giữa ngành chăn nuôi, thủy sản và dịch vụ nông nghiệp và ngành
trồng trọt do di cư làm gi
ảm Qui mô hộ gia đình. Trong khi đó, di cư vĩnh viễn chỉ có tác
động gián tiếp tới sự lựa chọn giữa ngành Chăn nuôi, thủy sản và dịch vụ nông nghiệp so
với ngành trồng trọt. Mặc dầu vậy, chiều hướng tác động gián tiếp này phụ thuộc vào việc
người di cư là nam hay nữ. Nếu tăng tỷ trọng những người di cư vĩnh viễn từ thấp đến cao
v
ới những người di cư tăng thêm là nam giới, tỷ số xác suất giữa việc lựa chọn ngành Chăn
nuôi, thủy sản và dịch vụ nông nghiệp so với ngành trồng trọt giảm đi, trong khi cũng tăng
tỷ lệ di cư vĩnh viễn như vậy với những người di cư là nữ trước tiên sẽ làm tăng tỷ số xác
suất này và sau đó sẽ làm giảm nó khi tỷ lệ di c
ư vĩnh viễn tăng từ mức trung bình lên mức
cao.
Các hoạt động phi nông nghiệp:
Tương tự như các hoạt động nông nghiệp, chúng tôi định nghĩa hoạt động phi nông nghiệp
nào đem lại nhiều thu nhập nhất cho hộ gia đình là hoạt động phi nông nghiệp chính của hộ
gia đình. Lại một lần nữa chúng tôi thấy rằng di cư không có tác động trực tiếp đến sự lựa
chọn giữa các ngành phi nông nghiệp. Tuy nhiên, do hệ số của Kiều hối, Tỷ lệ nữ giớ
i và
trẻ em có ý nghĩa về mặt thống kê, di cư sẽ có tác động gián tiếp đến sự lựa chọn các
ngành phi nông nghiệp.
Kiều hối là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến sự lựa chọn giữa ngành công nghiệp và dịch vụ.
Do vậy, chỉ có di cư vĩnh viễn ảnh hưởng đến sự lựa chọn này. Kết quả mô hình cũng cho
thấy cứ 1% tăng trưởng tỷ
trọng những người di cư vĩnh viễn sẽ làm tăng tỷ trọng Kiều hối

Qui mô hộ gia đình và Tỷ lệ trẻ em. Thêm người di cư, Qui mô hộ gia đình sẽ giảm và
cũng sẽ làm Tỷ lệ trẻ em tăng. Do hệ số của Qui mô hộ gia đình âm và T
ỷ lệ trẻ em dương,
tác động gián tiếp của di cư ngắn hạn thông qua các biến trên là tích cực rất rõ ràng. Tác
động của di cư dài hạn không may lại không rõ ràng. Tác động gián tiếp thông qua Qui mô
hộ gia đình và Tỷ lệ trẻ em vẫn sẽ dương như trong trường hợp của di cư ngắn hạn. Tuy
nhiên, tác động gián tiếp thông qua tiền người lao động gửi về sẽ âm do hệ số của chúng
âm và di cư dài hạn sẽ
làm tăng lượng tiền người lao động gửi về.
Để đánh giá ảnh hưởng của di cư tới năng suất lao động nông nghiệp, chúng tôi một lần
nữa mô phỏng tác động của việc thêm một thành viên trong hộ gia đình đi di cư. Như đã
nói ở trên, tác động của di cư ngắn hạn có dấu dương như dự đoán. Một người di cư ngắn
hạn trong hộ
sẽ làm tăng log của năng suất lao động nông nghiệp lên 0,1075, hay là
11,35% so với giá trị trung bình. Di cư vĩnh viễn cũng có tác động tích cực do tác động
tích cực thông qua Qui mô hộ gia đình và Tỷ lệ trẻ em cao hơn tác động tiêu cực của tiền
người lao động gửi về. Cùng với một người di cư thêm, tác động của di cư ngắn hạn lớn
hơn đối với năng suất lao động nông nghiệp so v
ới trường hợp nếu người đó di cư vĩnh
viễn. Một thành viên nam di cư vĩnh viễn sẽ có tác động thấp nhất lên năng suất lao động
nông nghiệp của hộ, chỉ làm tăng log của năng suất lao động nông nghiệp lên 0,0184, hay
1,85% so với mức năng suất lao động nông nghiệp trung bình.
Bảng 3.3 Tác động của việc thêm một người di cư lên năng suất lao động nông nghiệp
(thay đổi giá trị của log năng suất lao động nông nghiệp).
Tác động gián tiếp qua Tác
động
trực
tiếp
Qui mô hộ
gia đình

hộ, Mức độ nghèo đói theo phân loại của địa phương, và Tỷ lệ nữ giới là có tác động có ý
nghĩa về mặt thố
ng kê đối với năng suất lao động phi nông nghiệp.
Một lần nữa di cư chỉ có tác động gián tiếp đối với năng suất lao động phi nông nghiệp. Do
thu nhập của những người di cư ngắn hạn không có trong tiền người lao động trong nước
gửi về, thêm các thành viên di cư ngắn hạn sẽ chỉ có tác động tới năng suất lao động phi
nông nghiệp thông qua Tỷ lệ nữ giới và tác động này là không rõ ràng. Các thành viên n

di cư ngắn hạn sẽ làm giảm Tỷ lệ nữ giới, và như vậy sẽ có tác động tích cực đối với năng
suất lao động phi nông nghiệp của hộ. Ngược lại, thêm thành viên nam di cư sẽ làm tăng
Tỷ lệ nữ giới và do đó sẽ có tác động tiêu cực đến năng suất lao động phi nông nghiệp của
hộ. Với di cư vĩnh viễn tình hình còn kém rõ ràng hơn. Thêm ngườ
i lao động vĩnh viễn sẽ
có tác động gián tiếp tới năng suất lao động phi nông nghiệp thông qua Tiền người lao
động gửi về từ trong nước và Tỷ lệ nữ giới. Thêm thành viên di cư vĩnh viễn thì tiền người
lao động gửi về từ trong nước sẽ tăng (xem phần 3.3.1), và qua đó sẽ có tác động tiêu cực
rõ ràng đến năng suất lao động phi nông nghiệp, do hệ số của biến Tiề
n người lao động gửi
về âm. Tác động của di cư vĩnh viễn thông qua Tỷ lệ nữ giới một lần nữa sẽ không rõ ràng
như đã nói ở trên. Thêm thành viên nam di cư vĩnh viễn sẽ có tác động tiêu cực gián tiếp
đến năng suất lao động phi nông nghiệp. Điều này làm tăng Tỷ lệ nữ giới và như vậy cả hai
tác động thông qua tiền người lao động gửi về từ
trong nước và Tỷ lệ nữ giới đều âm.
Trong khi đó, thêm thành viên nữ di cư vĩnh viễn Tỷ lệ nữ giới sẽ giảm, và như vậy sẽ có
tác động tích cực đến năng suất lao động phi nông nghiệp. Tác động này ngược với tác
động của Tiền người lao động gửi về từ trong nước, và như vậy, thêm thành viên nữ di cư
sẽ có tác động không rõ ràng đối với năng suấ
t lao động phi nông nghiệp.
4. Tác động của di cư tới thị trường lao động nông thôn – 8 trường hợp nghiên cứu
về tác động và nhận thức về tác động ở cấp độ xã

ợp với số liệu của Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam. Về cơ bản, các doanh nghiệp
quan trọng nhất về thu hút việc làm của xã được chọn. Số lượng công nhân viên trung bình
của các doanh nghiệp thực tế được khảo sát là 208 người. Những trường học được khảo sát
có trình độ văn hoá cao nhất trong các xã cũng đã được chọn trong khảo sát này. Khu vực
thành thị trong nghiên cứu này đượ
c xác định theo định nghĩa của Tổng cục Thống kê
(GSO), bao gồm các đô thị là các trung tâm hành chính của các huyện, các tỉnh hoặc các
thành phố. Như vậy, các khu vực nông thôn là những khu vực không được phân loại là
“các khu vực thành thị”. Các khu vực ngoại ô không được phân loại là thành thị mặc dù về
mặt hành chính các khu này thuộc về các thành phố. 134 hộ có người di cư đi thay cho 120
hộ (theo kế hoạch) và 97 hộ không có người di cư thay cho 80 hộ (theo kế hoạ
ch), 8
UBND xã, 34 doanh nghiệp và 9 trường học đã được khảo sát và phỏng vấn thành công tại
thực địa. Ở một mức độ nhỏ hơn, các số liệu được chọn từ Điều tra Mức sống Hộ gia đình
Việt Nam năm 2004 cũng được sử dụng trong phân tích tác động ở cấp độ xã.
4.2. Các đặc điểm di cư
Di cư vì việc làm đã rất phổ biến ở khu vực nông thôn Việt Nam nói chung và ở 8 xã đã
chọn nói riêng. Tỷ lệ di cư đi được thể hiện trong bảng 4.1.
Bảng 4.1 Tỷ lệ di cư đi

Đơn vị: %
Trung bình hàng năm thời kỳ 2004-
2006 (*)
Xã 1998 2004
Tỷ lệ phần trămTrong đó: Tỷ lệ
% của di cư dài
hạn trên tổng số
người di cư
Miền Bắc
Hiệp Hoà 1,02 2,11 1,4 15,0

Di cư đến thực sự thấp ở tất cả các xã mặc dù có sự chênh lệch giữa các địa phương này.
Tân Ngãi là xã có mức di cư từ các địa phương khác đến cao nhất, chiếm 7,64% dân số vào
năm 2006. Đối với hầu hết các xã còn lại, trừ Bình Ninh, tỷ lệ di cư đến là trên dưới 1%.
Điều này cho th
ấy một hiện tượng ở Việt Nam là các luồng di cư từ nông thôn ra thành thị
phổ biến hơn rất nhiều so với các luồng di cư từ nông thôn đến nông thôn và từ thành thị
về nông thôn.
Di cư đi đa phần là dịch chuyển giữa các tỉnh. 68,18% di cư đi tạm thời (không lâu dài) là
đi đến các tỉnh khác và con số tương ứng đối với “di cư đi lâu dài” là khoảng 50%. Tỷ lệ số

người dịch chuyển trong cùng một tỉnh chỉ khoảng 26 – 27% đối với cả di cư đi tạm thời
và lâu dài. Tỷ lệ di cư ra nước ngoài trong thời gian dài (“lâu dài”) cũng đáng kể với
22,87% trong khi tỷ lệ tương ứng đối với di cư ra nước ngoài “tạm thời” rất nhỏ, chỉ
khoảng 5%. Ngược lại, di cư đến đa phần là di chuyển trong cùng một tỉnh. Tỷ lệ nh
ững
người di cư đến tạm thời và lâu dài trong cùng một tỉnh đều chiếm trên dưới 70%, giữa các
tỉnh là 25,91% đối với di cư đến tạm thời và 31,4% đối với di cư đến lâu dài. Tỷ lệ người
nước ngoài và Việt Kiều di cư đến Việt Nam tạm thời và lâu dài là rất nhỏ.
Một khía cạnh quan trọng khác của phân tích di cư là các nguyên nhân của việc di cư
đi/đến. Các thông tin này được thu thập từ
các số liệu khảo sát và được thể hiện trong bảng
4.2.
Bảng 4.2 Những lý do cơ bản khiến người di cư đi khỏi/đi đến xã

Đơn vị: %
Di cư đi Di cư đến

Không lâu dài
(tạm thời)
Lâu dài Không lâu dài

việc trang trải những chi phí cho cuộc sống ở những nơi họ đến, phần lớn họ đều có mục
đích giúp đỡ gia đình họ ở quê gốc. Vì vậy, tiền gửi về là rất phổ biến ở các vùng nông
thôn Việt Nam, nơi mà người dân cơ bản nghèo hơn dân ở các khu v
ực thành thị hay các
khu công nghiệp. Tiền gửi về thường được dùng cho nhiều mục đích khác nhau và phần
nào phản ánh được tác động của nó đối với đời sống các hộ dân.
Các hình thức tiêu thụ của hộ từ các nguồn tiền gửi về trong hai năm qua của khối toàn bộ
8 xã khảo sát được thể hiện trong Bảng 4.3
Bảng 4.3 Chi tiêu của hộ gia đình từ tiền gửi trong hai năm qua.
Tỷ lệ % trong từng khoản
chi tiêu
Tỷ lệ % theo các khoản
chi tiêu
Các khoản chi tiêu
Trong tỉnh Ngoài tỉnh Trong tỉnh Ngoài tỉnh
Làm nông
100,0 0,0 4,97 0,00
Kinh doanh
93,8 6,3 4,10 4,66
Học hành
81,5 18,5 9,37 72,73
Y tế
98,5 1,5 2,43 9,09
Đám cưới/đám tang
100,0 0,0 4,74 0,00
Mua đất
100,0 0,0 0,27 0,00
Sửa chữa/xây dựng nhà
96,4 3,6 13,81 8,26
Chi tiêu hàng ngày

19
4.4 Ảnh hưởng của di cư đối với các doanh nghiệp và trường học
Một tỷ lệ lớn công nhân bỏ doanh nghiêp trung hai năm qua ở 8 xã khảo sát. ở các xã An
Hoà, Hiệp Hoà, Truông Mít và Bình Ninh, tỷ lệ trung bình những người làm công bỏ đi
nhiều hơn số người làm công của doanh nghiệp với tỷ lệ khá cao, lần lượt ở các xã là
45,90%, 37,46%, 33,72% và 33,75%. Tỷ lệ cao những người công nhân bỏ doanh nghiệp
tất nhiên gây nên vấn đề “thay thế“ cho doanh nghiệp đặc biệt nếu họ là những người thợ
lành nghề. Xã Xuân Hộ
i (tỉnh Hà Tĩnh) là một ngoại lệ khi hiện tượng những người làm
công của các doanh nghiệp bỏ đi trong thời gian hai năm gần đây là không phổ biến
(3,96%). Điều này có thể là do Xuân Hội khá xa các thành phố lớn và không có nhiều
doanh nghiệp ở các vùng gần đó. Vì thế, công nhân thấy khó khăn khi rời bỏ doanh nghiệp.
Tuy nhiên, những thay đổi trên thị trường lao động không có nghĩa là các doanh nghiệp
(hoặc môi trường các doanh nghiệp) bị ả
nh hưởng nghiêm trọng. Tất nhiên, các công nhân
bỏ đi làm phát sinh chi phí tuyển công nhân và đào tạo mới. Nếu thiếu nguồn cung lao
động trong khu vực, các doanh nghiệp có thể phải chịu áp lực tăng tiền lương. Tuy nhiên,
tất cả các vấn đề này không có câu trả lời thống nhất. Mức độ các khó khăn do di cư của
người làm công trong 8 xã khảo sát được thể hiện ở Bảng 4.4.
Bảng 4.4. Khó khăn của doanh nghiệp do cán bộ, công nhân di chuyển
Đơn vị: % số doanh nghiệp trả lời “Có”
Loại cán bộ, công nhân Khó tìm cán bộ, công nhân
tốt
Là vấn đề đối với các
doanh nghiệp
1. Cán bộ quản lý 23,53 23,53
2. Cán bộ chuyên môn 17,65 20,59
3. Công nhân sản xuất có kỹ năng 32,35 23,53
4. Công nhân sản xuất không có
kỹ năng 14,71 17,65

thấp và các giáo viên đang phải đối mặt với hiện tượng “bán thất nghiệp”.
4.5 Nhận thức về tác động của di cư đến cộng đồng, các hộ gia đình và người di cư
Phần này được thiết kế để nghiên cứu nhận thức của người dân về tác động của di cư đối
với ba “đối tượng tham gia” là cộng đồng, các hộ gia đình và bản thân những người di cư.
Cả hai loại thông tin số lượng và chất lượng thu thập được từ khảo sát sẽ được phân tích.
4.5.1 Tác động đối với cộng đồng
Tác động của di cư đối với cộng đồng được nhận thức ở nhiều khía cạnh. Thông tin từ các
cuộc khảo sát ở 8 xã đưa ra thông tin về nhận thức rõ ràng của người dân về tác động này.
Đại diện các xã cho rằng di cư đi có cả tác động tích cực và tiêu cực đối với phát triển của
xã. Các ảnh hưởng tích cực của di cư đối với phát triển của địa phương
ở các xã khảo sát
bao gồm
5
: i) Giảm áp lực bán thất nghiệp và thất nghiệp; ii) Tăng thu nhập cho các hộ và
tạo ra cầu tiêu dùng lớn hơn ở địa phương; iii) Đóng góp nhiều hơn cho xã; iv) Đầu tư hoặc
kinh doanh trong xã bằng tiền gửi về của người di cư. Theo nhận thức của đại diện địa
phương, các ảnh hưởng tiêu cực của di cư đối với cộng đồng địa phương bao gồm: i) Gây
nên tình tr
ạng thiếu lao đặc biệt là lao động nông nghiệp vào các vụ mùa cao điểm; ii) Con
em của những người di cư không được chăm sóc cẩn thận; iii) Những người di cư trẻ tuổi
có thể mắc phải “các tệ nạn xã hội” và mang các tệ nạn này về địa phương; iv) Các truyền
thống địa phương và các giá trị văn hoá phần nào bị thoái hoá.
Các hộ có người di cư đi ở các xã khảo sát nhận thấ
y tác động của di cư cụ thể hơn. Khi
được hỏi liệu di cư có làm cho việc thuê lao động trở nên khó khăn hơn không thì 50,06%
các hộ cho rằng khó khăn hơn vào mùa vụ, chỉ có 25,38%
6
nghĩ rằng khó khăn hơn kể cả
khi ngoài mùa vụ. Những tỷ lệ này là khiêm tốn và có thể nói rằng có những ảnh hưởng
tiêu cực trên thị trường lao động ở một mức độ nào đó, nhưng nói chung, về mặt này

nguyên
Cao hơn Thấp hơn
Giữ
nguyên
Cao hơn
Hộ có người di cư đi 8,33 6,06 85,61 6,77 6,02 87,22
Hộ không có người di
cư đi 24,21 6,32 69,47 24,74 3,09 72,16
Các doanh nghiệp 32,35 17,65 50,00 63,64 12,12 24,24
Đại diện chính quyền
xã 0,00 25,00 75,00 37,50 12,50 50,00
Đại diện trường học 77,77 22,22
Chú thích: Câu hỏi cho đại diện các trường là đối với các giáo viên di cư
Nguồn: Ước lượng từ số liệu điều tra thực địa.
Về mức độ di cư đi đối với người có tay nghề thấp, các hộ có người di cư đi rất tin rằng
nhiều người di cư đi là lựa chọn tốt nhất (có 85,61% hộ loại này). Các hộ không có người
di cư và đại diện của xã cũng có chung quan điểm này nhưng với tỷ lệ thấp hơn (chỉ gần
70% đối với các hộ và 75% đối với đạ
i diện xã). Trong khi đó, chỉ 50% các doanh nghiệp
cho rằng người không có tay nghề di cư nhiều hơn là lựa chọn tốt nhất đối với môi trường
kinh doanh của các xã. Đại diện các trường có quan điểm ngược lại. Phần lớn họ (77,77%)
cho rằng ít người di cư hơn sẽ tốt hơn cho trường học của họ. Những điểm khác biệt của
các chủ thể khác nhau có thể giải thích
được do họ nhìn vấn đề từ các góc độ khác nhau.
Các hộ quan tâm về sinh kế và thu nhập của họ và đại diện của xã cũng có cái nhìn tương
tự về phát triển kinh tế ở mức độ địa phương. Trong khi đó, đại diện các doanh nghiệp
quan tâm về nhu cầu lao động và đại diện các trường thường nghĩ đến các điều kiện ổn
định của giáo dục. Quan điểm của nh
ững người tham gia này hơi khác nhau trong trường
hợp đánh giá di cư đi của người có tay nghề cao. Sự khác nhau là các doanh nghiệp quan

4.6.
Bảng 4.6. Kết quả hồi qui logit có thứ tự về nhận thức của “nhóm 1” về mức độ mong
muốn của di cư.
Di cư đi Nhập cư Đối tượng được
phỏng vấn
Không có tay
nghề (a1)
Có tay nghề (a2) Không có tay
nghề (a3)
Có tay nghề (a4)
0,498 1,899 -0,856 -0,254 Hộ có người di
cư đi (biến giả 1)
[0,60] [2,63]*** [1,22] [0,38]
-1,213 -1,06 -0,777 1,028 Doanh nghiệp
(biến giả 2)
[1,42] [1,39] [1,01] [1,33]
-0,524 0,847 -0,745 -0,192 Hộ không có
người di cư (biến
giả 3) [0,64] [1,19] [1,05] [0,28]
S/lượng quan sát 269 271 246 241
Kiểm định tính
chất bằng không
đồng thời của các
hệ số biến giả
chi2 (3) = 19,46
Xác suất > chi2
= 0,0002

chi2 (3) = 46,40
Xác suất > chi2

cực vẫn ảnh hưởng nhiều hơn so với tác động tiêu cực. Do một hoặc nhiều thành viên của
www.markets4poor.org
23
hộ di cư đi nên “sự cân bằng” của hộ trước đó dù thế nào chăng nữa cũng bị “phá vỡ” về
nhiều mặt. Mặt khác, các hộ có người di cư đi cơ bản là được các thành viên di cư của họ
giúp đỡ.
Các tác động là đa dạng trên nhiều khía cạnh khác nhau. Các hộ di cư có được ảnh hưởng
tích cực lớn nhất đến thu nhập của họ vớ
i 82,58% hộ đồng ý về điểm này. Những ảnh
hưởng “tích cực” tiếp theo có thể thấy được trong “hài lòng với cuộc sống”, “đời sống xã
hội” tốt hơn, “tiết kiệm”, “có việc làm” và “trả nợ”. Do thu nhập của các hộ có người di cư
tăng nên họ có thể tiêu nhiều tiền hơn cho giáo dục của hộ đặc biệt là cho việc học hành
của con cái. Tỷ lệ các hộ cho r
ằng “ảnh hưởng trung tính” của di cư là lớn nhất ở nhiều
khía cạnh. Chỉ trên dưới 10% các hộ có người di cư nghĩ rằng di cư có ảnh hưởng tiêu cực.
Trong số 134 hộ có người di cư được phỏng vấn, 60 hộ cho rằng có ít nhất một tác động
tiêu cực, chiếm tỷ lệ 44,78% trong tổng số. Tỷ lệ các hộ phân vân về ảnh hưởng của di cư
thậm chí còn thấ
p hơn nhiều.
Quan điểm của các hộ không có người di cư hơi đối lập ở những khía cạnh nào đó. 66,67%
các đại diện của các hộ không có người di cư cho rằng di cư không tốt cho trẻ em. Theo
các quan niệm của họ thu được trong khảo sát, trẻ em của các hộ di cư, đặc biệt nếu những
người di cư là bố mẹ của chúng, thường dễ bị mắc phải các v
ấn đề xã hội, được quan tâm ít
hơn và bị tổn thương nhiều hơn. Tuy nhiên, các đại diện từ các hộ không có người di cư
luôn mạnh mẽ tin rằng di cư là tốt cho các thành viên gia đình khác của các hộ có người di
cư. 81% các hộ “không di cư” đồng ý về điểm này.
4.5.3 Tác động tới những người di cư
Tất nhiên di cư ảnh hưởng đến chính bản thân những người di cư. Sự thay đổi trong đời
sống và tương lai của họ là đôi khi là rất lớn. Không có mẫu hình thống nhất của ảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status