thông tin cơ sở về các loài bị đe dọa và các loài ngoại lai tại việt nam và các đề xuất cho nội dung của luật đa dạng sinh học - Pdf 14

PB i
Thông tin cơ sở về các loài bị đe dọa và các loài ngoại lai tại Việt Nam
và các đề xuất cho nội dung của Luật Đa dạng Sinh học
John Pilgrim
(Chương trình BirdLife Đông Dương)
Nguyễn Đức Tú
(Chương trình BirdLife Quốc tế tại Việt Nam)
Tài trợ bởi Chương trình Chính sách Lâm nghiệp Toàn cầu của BirdLife International
Báo cáo này được thực hiện theo yêu cầu của
Vụ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường
Hà Nội, 2007
ii iii
ii iii
Điều phối viên dự án:
Phạm Tuấn Anh
Nhóm thực hiện dự án:
John Pilgrim (BirdLife International in Indochina)
Nguyễn Đức Tú (Chương trình BirdLife Quốc tế tại Việt Nam)
Dự án được tài trợ bởi:
Chương trình Chính sách Lâm nghiệp Toàn cầu của BirdLife International
Minh họa bìa: Trĩ sao Rheinardia ocellata, ảnh của Jonathan C. Eames.
Trích dẫn:
Pilgrim, J. D. và Nguyễn Đức Tú (2007) Thông tin cơ sở về các loài bị đe dọa và các loài ngoại
lai tại Việt Nam và các đề xuất cho nội dung của Luật Đa dạng Sinh học. Báo cáo trình Vụ Môi
trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường. Hà Nội, Chương trình BirdLife Quốc tế tại Việt
Nam.
Tài liệu lưu tại:
Chương trình BirdLife Quốc tế tại Việt Nam
Số 4, Ngõ 209
Phố Đội Cấn
Hà Nội

7.3. Các cam kết quốc tế về sinh vật ngoại lai 21
8. Tổng quan các kinh nghiệm quốc tế về quản lý các sinh vật ngoại lai 22
9. Các văn bản pháp quy về các loài ngoại lai ở Việt Nam 23
9.1. Các văn bản hiện có về các loài ngoại lai 23
9.2. Những thiếu hụt và bất hợp lý trong hệ thống pháp lý hiện tại về các loài ngoại lai 25
10. Đề xuất những điều khoản về quản lý các loài ngoại lai
có thể đưa vào Luật Đa dạng Sinh học 26
11. Tài liệu tham khảo 27
12. Các phụ chương 31
Phụ chương 1. Ma trận phân tích các loài bị đe dọa toàn cầu, loài bị đe dọa
ở cấp quốc gia, và các loài được bảo vệ ở Việt Nam 31
Phụ chương 2. Các loài của Việt Nam có trong danh lục các loài
của Công ước về loài di cư 73
Phụ chương 3. Ma trận các loài (ngoại lai và bản địa) xâm hại đe dọa
tính đa dạng sinh học thực vật ở Việt Nam 74
Phụ chương 4. Danh lục các loài thực vật thủy sinh lạ xâm nhập thủy vực Việt Nam 75
Phụ chương 5. Phân loại khả năng xâm lấn 76
Phụ chương 6. Danh mục đối tượng kiểm dịch thực vật 77
Phụ chương 7. Các loài bị đe dọa: Các định nghĩa chính 79
iv v
iv v
Lời cám ơn
Báo cáo này là kết quả của một tiểu dự án do Dự án Chính sách Lâm nghiệp Toàn cầu của BirdLife
International và Hiệp hội Bảo vệ Chim Hoàng gia (RSPB; BirdLife tại Vương quốc Anh). Các tác
giả xin được cám ơn RSPB và BirdLife International về sự hỗ trợ quý báu này.
Chúng tôi xin được cám ơn Vụ Môi trường (DoE), Bộ Tài nguyên và Môi trường (MoNRE) đã cho
phép BirdLife tham gia vào việc xây dựng Luật Đa dạng Sinh học. Đặc biệt xin được cám ơn ông
Nguyễn Văn Tài và bà Huỳnh Thị Mai đã hợp tác và hỗ trợ chúng tôi trong quá trình thực hiện
báo cáo. Hy vọng, Vụ Môi trường sẽ tiếp tục hợp tác với chúng tôi để lồng ghép các kiến nghị
trong báo cáo này vào Luật Đa dạng Sinh học.

Vùng Chim Quan trọng
ISSG Nhóm Chuyên gia về Loài Xâm hại của IUCN
IUCN Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
KBA
2
Vùng Quan trọng về Đa dạng Sinh học
MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
MoF Bộ Thủy sản
MoNRE Bộ Tài nguyên và Môi trường
MoSTE Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
OEPP Văn phòng Chính sách và Quy hoạch Bảo tồn, Thái Lan
RSPB Hiệp hội Bảo vệ Chim Hoàng gia (BirdLife tại Vương quốc Anh)
UNEP Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc
VEPA Cục Bảo vệ Môi trường
1
Công ước Đa dạng Sinh học <hp://www.biodiv.org/programmes/cross-cuing/alien/resources/terms.shtml>
2
IBA và KBA là các khu vực đạt chuẩn quốc tế là có giá trị đa dạng sinh học cao được xác định dựa trên các tiêu chí
định lượng dựa trên sự có mặt của các loài mà do đó việc bảo tồn ở cấp độ khu là cần thiết: (1) các loài bị đe dọa toàn
cầu; (2) các loài phân bố hẹp; (3) các loài tập trung với số lượng lớn; và (4) tập hợp của các loài giới hạn phân bố trong
các đơn vị địa sinh học.
vi
1. Tóm tắt
Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới với nhiều yếu tố
đặc sắc không thể phát hiện ở bất cứ nơi nào khác. Tuy nhiên, Việt Nam cũng được xếp hạng vào
một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học bị đe dọa nặng nề nhất. Hệ thống văn bản
pháp quy hiện tại của Việt Nam cũng đã được ban hành nhằm bảo vệ tính đa dạng sinh học của
đất nước và giải quyết các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học, nhưng vẫn chưa đầy đủ và còn
phân tán. Điều này dẫn đến yêu cầu cần xây dựng mới một bộ Luật Đa dạng Sinh học có tính
thống nhất. Theo yêu cầu của Vụ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, tài liệu

1
2 3
2 3
2. Giới thiệu
Việt Nam luôn được xếp vào nhóm hai mươi quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên
thế giới. Đối với một số nhóm sinh vật, ví dụ như linh trưởng, Việt Nam đứng trong năm quốc
gia hàng đầu về sự đa dạng. Chỉ tính riêng trên cạn đã có hơn 13.700 loài thực vật (Bộ TNMT
et al. 2005), khoảng 870 loài cá có phân bố thường xuyên (Bộ TNMT et al. 2005), 310 loài thú (Bộ
TNMT et al. 2005), 822 loài chim (BirdLife International 2006), 286 loài bò sát (Bộ TNMT et al.
2005) và 145 loài lưỡng cư (IUCN et al. 2006) được xác định và mô tả tại Việt Nam. Môi trường
biển cũng chứa đựng tính đa dạng sinh học không kém với hơn 11.000 loài sinh vật biển đã
được ghi nhận (Bộ TNMT et al. 2005). Việt Nam cũng là nơi mà sự đa dạng sinh học vẫn chưa
được khám phá đầy đủ - rất nhiều loài thực vật, bò sát, lưỡng cư, và thậm chí có bốn loài thú
lớn và ba loài chim mới được mô tả cho khoa học trong mười lăm năm qua (Sterling et al. 2006).
Giá trị bảo tồn đa dạng sinh học cao nhất của Việt Nam chính là các loài đặc hữu của quốc gia
- những loài không được ghi nhận ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Các loài phân bố hẹp này
cũng chính là các loài bị đe dọa nặng nề nhất. Khoảng 10% các loài thực vật của Việt Nam được
cho là các loài đặc hữu (UNEP 2001), tám loài chim đặc hữu (trong đó sáu loài là loài bị đe dọa ở
cấp độ toàn cầu), năm loài thú và một loài bò sát đặc hữu là loài bị đe dọa toàn cầu, cuối cùng là
39 loài lưỡng cư đặc hữu trong đó có bốn loài bị đe dọa toàn cầu (IUCN et al. 2006).
Xác định rõ tầm quan trọng về đa dạng sinh học của quốc gia và các mối đe dọa mà tính đa dạng
sinh học này đang phải gánh chịu, Chính phủ Việt Nam đã ra Quyết định số 35/2003/QĐ-TTg
ngày 06/03/2003 chỉ định Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TNMT) chịu trách nhiệm chủ trì xây
dựng Luật Đa dạng Sinh học. Luật Đa dạng Sinh học lần đầu tiên sẽ được xây dựng trên tinh
thần tham khảo rộng rãi để mọi công dân và các tổ chức đều có thể đóng góp ý kiến. Luật này
cũng giúp Việt Nam thực hiện các cam kết theo các thỏa thuận quốc tế và thể hiện vai trò của Việt
Nam như một thành viên của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Bản dự thảo Luật
Đa dạng Sinh học sẽ được đưa ra trình Quốc hội cho ý kiến vào đầu năm 2007 và bản thảo lần
thứ nhất sẽ phải hoàn tất trong tháng Bảy năm 2006. Ghi nhận trình độ chuyên môn của BirdLife
International về lĩnh vực các loài bị đe dọa cả ở quy mô toàn cầu (là cơ quan ủy quyền chính thức

Các danh lục đỏ và sách đỏ đã được xây dựng ở cấp quốc gia cho các khu hệ động vật vào năm
1992 (Bộ KHCNMT 1992), cập nhật năm 2000 (Bộ KHCNMT 2000), tiếp theo đó là sách đỏ thực
vật năm 1996 (Bộ KHCNMT 1996). Do đây là giai đoạn đầu của việc liệt kê các loài bị đe dọa, các
tài liệu này được xây dựng theo mô hình của Sách đỏ Ấn Độ. Các lần tái bản Sách Đỏ tiếp theo (Bộ
TNMT và Viện Khoa học Việt Nam in prep. a và b) sẽ đáp ứng theo các chỉ dẫn đã có của IUCN
(IUCN 1994). Hiện đã có một hệ thổng chuẩn hóa toàn cầu nghiêm ngặt hơn (IUCN 2001) và có
thể áp dụng ở cấp quốc gia (IUCN 2003) mà các lần xây dựng Sách Đỏ tiếp theo có thể sử dụng.
3.2 Các loài bị đe dọa ở Việt Nam
Danh lục đỏ IUCN bản mới nhất (IUCN 2006) đã liệt kê 311 loài ở Việt Nam ở các cấp độ đe dọa
toàn cầu, trong khi Sách Đỏ Việt Nam (Bộ KHCNMT 1996, 2000) đã xếp hạng 522 loài (526 đơn

Tuy� t ch� ng (EX)
Tuy� t ch� ng n goài t�
nhiên (EW )
C� c kỳ N guy c� p (C R)
Nguy c� p (EN)
S� p nguy c� p (VU )
G � n b� đe d� a (NT )
Ít b� đe d� a (LC)
Không đ� d� n li� u (D D )
Không đ� � c đánh giá (N E)
(Đ �
d� n li� u)
(B�
đe d� a)
(Đ ã
đánh giá)
Ch� a rõ
nguy c�
tuy� t ch� ng

≥ 30%
Trong 10 năm ho� c 3 th� h�
c
đã qua
c
, trong t� � ng lai ho� c c� hai
B1: V ùng phân b� h� p
(ph� m vi phân b� )
<100 km ²
< 5.000 km²
< 20.000 km²
C� ng thêm hai ch� s� trong s� (a) b � chia c� t nghiêm tr� ng hay ít đi� m phân b�
(1, ≤ 5, ≤ 10); (b) ti� p t� c suy gi� m; (c) hay bi� n đ� ng nghiêm tr� ng
B2: V ùng phân b� h� p
(di� n tích c� trú)
< 10 km ²
< 500 km ²
< 2.000 km²
C� ng thêm hai ch� s� trong s� (a) b � chia c� t nghiêm tr� ng hay ít đi� m phân b�
(1, ≤ 5, ≤ 10); (b) ti� p t� c suy gi� m; hay (c) bi� n đ� ng nghiêm tr� ng
C: Q u� n th� nh� và
suy gi� m
< 250
< 2.500
< 10.000
Cá th� tr� � ng thánh. Liên t� c suy gi� m th� hi� n (1) v� i m � t t� c đ� ho� c qua
m � t giai đo� n c� th� ; ho� c (2) v� i (a) c� u trúc qu� n th� rõ ràng hay (b) bi� n
đ� ng nghiêm tr� ng
D1: Q u� n th� r� t nh�
< 50

CR EN VU Tổng E V R Tổng
Thực vật 25 38 85 148 25 61 156 242
Thú 11 11 23 45 31 25 21 77
Chim 5
3
13 23
4
41 15 6 28 49
Bò sát 7 14
5
8 29 9 16 7 32
Lưỡng cư 0 5 13 18 1 2 3 6
Cá 4 6 20 30 6 21 28 55
Các loài khác 0 0 0 0 11 22 28 61
Tổng số 52 87 172 311 98 153 271 522
3.3 Các mối đe dọa đối với các loài
Ở cấp độ toàn cầu, sức ép chính lên các loài bị đe dọa được xác định ở khắp nơi là mất và chia
cắt sinh cảnh. Các mối đe dọa chính khác đến từ khai thác quá mức, các loài xâm lấn, ô nhiễm và
bệnh dịch (Baillie et al. 2004). Điều này cũng phản ánh mối đe dọa đối với các loài của Việt Nam
- ví dụ, tất cả các loài lưỡng cư bị đe dọa toàn cầu ở Việt Nam đều bị ảnh hưởng bởi sinh cảnh bị
mất và bị chia cắt, 47% bị đe dọa bởi ô nhiễm, và 20% do khai thác quá mức (IUCN et al. 2006).
Tương tự, 57% số loài chim bị đe dọa ở Việt Nam đang bị ảnh hưởng bởi sinh cảnh bị mất và bị
chia cắt, 44% bị đe dọa bởi khai thác quá mức, và 25% do ô nhiễm (BirdLife International 2006).
3
Thêm loài Fregata andrewsi (ghi nhận ở dạng vãng lai tại Việt Nam).
4
Thêm loài Larus relictus và Mycteria cinerea (ghi nhận ở dạng vãng lai tại Vietnam), nhưng bỏ đi loài
5
Haliaeetus leucoryphus, do không có ghi nhận nào đủ độ tin cậy.
Các loài Carea carea và Lepidochelys olivacea theo danh lục IUCN không liệt kê là loài của Việt Nam,

Nam bị đe dọa bởi khai thác quá mức; BirdLife International 2006).
3.4 Các hành động để bảo tồn các loài bị đe dọa
Rất nhiều biện pháp đã được tiến hành để đảm bảo duy trì các loài bị đe dọa ở Việt Nam, tuy
nhiên vẫn cần thêm rất nhiều nỗ lực nữa. Các nỗ lực bảo tồn này có thể xếp vào các nhóm như (i)
chính sách và thể chế, (ii) các khu bảo vệ, (iii) bảo tồn cảnh quan, (iv) các giải pháp tài chính, và (v)
sự tham gia của cộng đồng (Bộ TNMT et al. 2005). Các phân tích sớm đã chỉ ra rất nhiều thiếu hụt
đặc biệt nghiêm trọng (Bộ TNMT et al. 2005). Phân tích về hệ thống rừng đặc dụng đã chỉ ra rằng
các sinh cảnh đất ngập nước, nhất là các sông ở vùng thấp và đất ngập nước ven biển chưa được
đại diện đầy đủ trong hệ thống hiện tại, rừng thường xanh đất thấp cũng như vậy (Bộ TNMT et
al. 2005). Thêm vào đó, quy mô các khu bảo vệ cũng không đủ đáp ứng đối với một số loài sinh
vật (Bộ TNMT et al. 2005). Cải thiện hệ thống các khu bảo vệ hoặc các hành động bảo tồn cảnh
quan rất cần ưu tiên để bù đắp thiếu hụt này.
IUCN hiện đã thu thập một số thông tin cần thiết về các biện pháp bảo tồn đã có đối với các loài
bị đe dọa toàn cầu. Ví dụ, BirdLife International - cơ quan ủy quyền chính thức chịu trách nhiệm
xây dựng Danh lục Đỏ các loài chim, đã liệt kê hơn 200 biện pháp bảo tồn cụ thể cần thiết đối với
các loài chim của Việt Nam; trong đó 37% là các hành động liên quan đến sinh cảnh, 34% là hành
động nghiên cứu, và 13% là hành động chính sách (BirdLife International 2006). Cũng như vậy,
các hành động bảo tồn cần thiết do IUCN liệt kê cho các loài lưỡng cư Việt Nam có 39% là hành
động nghiên cứu, 38% hành động liên quan đến sinh cảnh, và 6% là các hành động chính sách
(IUCN et al. 2006). Phần lớn các biệt pháp bảo tồn hiện có ở Việt Nam là các hành động liên quan
đến sinh cảnh (ví dụ, 79% hành động bảo tồn lưỡng cư được đề xuất liên quan đến sinh cảnh),
đầu tiên là qua hệ thống rừng đặc dụng hiện có của quốc gia gồm các vườn quốc gia, khu bảo tồn
và các khu bảo vệ cảnh quan. Nhìn chung, các hành động chính sách, ví dụ như hệ thống văn bản
pháp quy, rất ít, trong khi đây rõ ràng là phần cốt lõi trong các yêu cầu của bảo tồn tổng thể.
3.5 Các cam kết chính sách quốc tế liên quan đến các loài bị đe dọa
Việt Nam đã tham gia ký kết rất nhiều thỏa thuận quốc tế liên quan đến bảo tồn các loài bị đe
dọa:
Công ước Đa dạng Sinh học (www.biodiv.org)
Công ước này có mục tiêu là bảo tồn tính đa dạng sinh học thông qua phát triển bền vững. Việt
Nam tham gia Công ước từ năm 1994 và cơ quan đầu mối quốc gia hiện nay là Cục Bảo vệ Môi

để bảo tồn và sử dụng khôn khéo các vùng đất ngập nước và tài nguyên đất ngập nước. Việt Nam
tham gia Ramsar từ năm 1989 và Cục Bảo vệ Môi trường được chỉ định là Cơ quan Thẩm quyền
quốc gia của Công ước Ramsar. Theo Điều 2 của Công ước, Việt Nam cam kết “đề xuất các vùng
đất ngập nước phù hợp trong lãnh thổ của mình vào Danh sách các Vùng Đất ngập nước có Tầm
Quan trọng Quốc tế đầu tiên là tất cả các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng đối với các
loài chim nước vào bất cứ mùa nào cần được đưa vào danh sách”. Và, theo Điều 3, “thúc đẩy việc
bảo tồn các vùng đất ngập nước và các loài chim nước qua việc thiết lập các khu bảo tồn đất ngập
nước”. Tuân thủ cam kết này, Việt Nam cần đảm bảo tối thiểu là tất cả các khu đáp ứng tiêu chí
Ramsar sẽ được đề cử thành Khu Ramsar và được đưa vào hệ thống các khu bảo vệ ở cấp quốc
gia. Có 27 khu ở Việt Nam đã được BirdLife International xác định là đáp ứng các tiêu chí Ramsar
(BirdLife International 2005) nhưng đến nay mới chỉ có hai khu được công nhận.
Công ước về các loài di cư (www.cms.int)
Công ước về các Loài Di cư có mục tiêu là bảo tồn các loài di cư trên cạn, trên biển và trên không
ở tất cả các vùng phân bố của chúng. Ngoài ra, Việt Nam đang cân nhắc tham gia Công ước này.
6 7
6 7
Nếu là một thành viên, Việt Nam sẽ cam kết “có các biện pháp bảo vệ ngay lập tức đối với các
loài di cư trong Phụ lục I” và “hoàn tất các thỏa thuận đảm bảo bảo tồn và quản lý các loài di cư
trong Phụ lục II”. Các bên tham gia cam kết cấm đánh bắt các loài trong Phụ lục I, đồng thời thực
hiện các biện pháp khác để bảo vệ sinh cảnh và giảm các mối đe dọa. Các loài liên quan đến Việt
Nam được liệt kê trong Phụ chương 2 của báo cáo này. Tuân thủ theo cam kết này, Việt Nam sẽ
phải đảm bảo là ít nhất là toàn bộ các loài được liệt kê trong Phụ lục I của Công ước về các loài di
cư cũng được liệt kê là các loài được bảo vệ theo luật pháp quốc gia.
4. Tổng quan các kinh nghiệm quốc tế về các điều luật quản lý và bảo
tồn các loài bị đe dọa
Ở rất nhiều quốc gia, các văn bản pháp quy về quản lý và bảo tồn các loài bị đe dọa hầu như chỉ
giới hạn trong việc cấm hay hạn chế sử dụng các loài cụ thể được liệt kê trong “danh lục bảo vệ”.
Như vậy, hệ thống pháp lý này hầu như chỉ đáp ứng việc ngăn chặn khai thác hay buôn bán các
loài động thực vật cụ thể, và thường là chỉ đối với một số rất ít các loài được xác định. Tuy nhiên,
điều rõ ràng là việc bảo vệ một loài đòi hỏi việc duy trì hoặc phục hồi toàn bộ các điều kiện cần

những người thừa kế đất. Các thỏa thuận như vậy có thể được bổ trợ bởi khả năng cưỡng chế hay
thu hồi các vùng đất có vấn đề là phương thức cuối cùng nếu người quản lý đất từ chối ký thỏa
thuận hay không tuân thủ các cam kết bảo tồn đưa ra trong thỏa thuận. Tuy nhiên, các điều kiện
trong thỏa thuận cũng cần xác đáng để đảm bảo người quản lý đất coi sự có mặt của một loài bị
đe dọa như một tài sản chứ không phải là một gánh nặng pháp lý (de Klemm and Shine 1993).
Sự thất bại trong việc đáp ứng yêu cầu quản lý sinh cảnh được coi là thiếu sót lớn nhất trong Đạo
luật về Các loài bị đe dọa của Mỹ. Mặc dù đã đưa ra yêu cầu bảo tồn các “sinh cảnh trọng yếu”
cho các loài nguy cấp, nhưng cũng mới đề cập được các sinh cảnh cho một phần ba số loài. Lý do
chính là kinh phí ngân sách nhà nước hạn hẹp dẫn đến không đủ kinh phí phân bổ thêm các loài
mới và cơ quan thực hiện, Cục Cá và Động vật Hoang dã Hoa Kỳ, không được tin tưởng tuyệt đối
trong việc đánh giá các Sinh cảnh Trọng yếu. Hướng dẫn về Các Sinh cảnh của Cộng đồng châu
Âu, mang ý nghĩa hiệp ước giữa các chính phủ chứ không hẳn là một tiến trình có sự vận động
của cộng đồng, có lẽ thành công hơn thể hiện trong việc liệt kê các loài mà hệ thống các Vùng Bảo
tồn Đặc biệt cần phải thiết lập để bảo vệ các sinh cảnh của chúng (European Community 1992).
Hộp 1: Hướng dẫn về Các Sinh cảnh của Cộng đồng châu Âu, Hướng dẫn số 92/43/EEC về bảo
tồn các sinh cảnh tự nhiên và các hệ động thực vật hoang dã
Mục tiêu chính của Hướng dẫn về Sinh cảnh của EC là thúc đẩy việc duy trì tính đa dạng
sinh học qua việc yêu cầu các quốc gia thành viên phải có các biện pháp để duy trì hoặc khôi
phục các sinh cảnh tự nhiên và các loài hoang dã trong điều kiện bảo tồn thích hợp, đưa ra
những biện pháp bảo vệ mạnh mẽ đối với các sinh cảnh và các loài quan trọng của châu Âu.
Hướng dẫn này yêu cầu các quốc gia thành viên cần đưa ra một loạt các biện pháp bảo vệ
đối với các loài có tên trong các Phụ lục của Hướng dẫn và có các chương trình giám sát đối
với các loài và sinh cảnh. Có 189 sinh cảnh được liệt kê trong Phụ lục I và 788 loài được liệt
kê trong Phụ lục II của Hướng dẫn sẽ được bảo vệ bằng một mạng lưới các khu bảo vệ. Mỗi
quốc gia thành viên được yêu cầu xây dựng và đề xuất một danh sách các khu để đánh giá
nhằm thiết lập một mạng lưới các Khu Quan trọng (SCI) của Cộng đồng châu Âu. Nếu được
chấp thuận, các khu này sẽ được các quốc gia thành viên công nhận là Các Vùng Bảo tồn Đặc
biệt (SAC) và cùng với các Vùng Bảo vệ Đặc biệt (SPA) được xác đinh theo Hướng dẫn về
Bảo tồn Chim của EC hình thành một mạng lưới các khu bảo vệ được gọi tên là Natura 2000.
Quan trọng hơn, Hướng dẫn về Sinh cảnh lần đầu tiên đã giới thiệu nguyên tắc cảnh báo sớm

1. “Nhà nước đầu tư để quản lý, bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
tại các khu rừng đặc dụng, các hoạt động cứu hộ đối với thực vật rừng, động vật rừng
nguy cấp, quý, hiếm bị xử lý tịch thu.”
Chương II. Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Điều 5: Bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
1. “Những khu rừng có thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phân bố tập
trung thì được đưa vào xem xét thành lập khu rừng đặc dụng theo quy định của pháp
luật”.
2. “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tiến hành hoạt động sản xuất, xây dựng công trình, điều
tra, thăm dò, nghiên cứu, tham quan, du lịch và các hoạt động khác trong khu rừng có
thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phải thực hiện các quy định tại Nghị
định này và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về bảo vệ môi trường”.
Điều 12: Quyền, nghĩa vụ của chủ rừng:
Chủ rừng có các quyền và nghĩa vụ đối với thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp,
quý, hiếm như sau:
3”. Xây dựng và thực hiện phương án quản lý, bảo vệ và phát triển thực vật rừng, động
vật rừng nguy cấp, quý, hiếm trên diện tích rừng, đất rừng được giao”.
4. “Theo dõi và báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tình trạng thực vật rừng,
động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm trên diện tích rừng, đất rừng được Nhà nước giao,
cho thuê”.
10 11
10 11
5. “Xây dựng nội quy, lập bảng niêm yết bảo vệ đối với từng khu rừng có các loài thực
vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm”.
Nhìn chung, việc bảo tồn các loài bị đe dọa đã được đề cập đến trong hàng loạt các luật và các văn
bản pháp quy quan trọng như:
Nghị định 18-HĐBT ngày 17/01/1992 ban hành danh sách là loài động thực vật rừng quý hiếm
và quy chế quản lý và bảo vệ chúng
(đã được thay thế bằng Nghị định 48/2002/NĐ-CP vào năm 2002)
Chỉ thị 359/TTg ngày 29/05/1996 về các biện pháp cấp bánh để bảo vệ và phát triển các loài động

loại động vật đó, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo
không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”
2) “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
10 11
10 11
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Chỉ thị 12/2003/CT-TTg ngày 16/05/2003 về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và
phát triển rừng)
1)“Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì, phối
hợp với các Bộ, ngành liên quan chỉ đạo hiệp đồng các đơn vị thuộc lực lượng Quân đội,
Công an, Bộ đội biên phòng, Kiểm lâm tiến hành ngay các công việc sau:
e) Kiểm tra, xử lý, tho hồi giấy phép kinh doanh của các cửa hàng kinh doanh, chế biến
gỗ trái phép và các cửa hàng ăn uống đặc sản chế biến từ thịt cacs loại động vật hoang
dã, quý hiếm.”
Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22/04/2002 về sửa đổi bổ sung danh lục thực vật, động vật hoang
dã quý hiếm ban hành theo Nghị định số 18-HĐBT
(đã được thay thế bằng Nghị định 32/2006/NĐ-CP vào năm 2006)
Luật Thủy sản (2003)
Chương II. Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
Ðiều 7. Bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản
3) “Tổ chức, cá nhân khi xây dựng mới, thay đổi hoặc phá bỏ các công trình có liên quan
đến môi trường sống, di cư, sinh sản của các loài thủy sản phải thực hiện việc đánh giá
tác động môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.”
4) “Tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản bằng đặt đăng, đáy hoặc bằng phương pháp
ngăn, chắn khác ở các sông, hồ, đầm, phá phải dành hành lang cho các loài thủy sản di
chuyển theo quy định của Ủy ban nhân dân địa phương.”
Ðiều 8. Bảo tồn, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản
1) “Nhà nước có chính sách bảo tồn, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là các loài thủy

9) “Vận chuyển, chế biến, quảng cáo, kinh doanh, sử dụng, tiêu thụ, tàng trữ, xuất khẩu,
nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng trái với quy định của pháp luật.”
Điều 41. Bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng
3) “Những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; nguồn gen thực vật
rừng, động vật rừng quý, hiếm phải được quản lý, bảo vệ theo chế độ đặc biệt.
Chính phủ quy định Chế độ quản lý, bảo vệ những loài thực vật rừng, động vật rừng
nguy cấp, quý, hiếm và Danh mục những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp,
quý, hiếm.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định việc khai thác thực vật rừng, săn bắt
động vật rừng ”
(Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng năm 1991 còn có một điều khoản trong Điều 3 là “
trong trường hợp bảo vệ, phát triển được loài quý hiếm, chủ rừng được hưởng chính
sách ưu đãi”)
Nghị định 139/2004/NĐ-CP ngày 25/06/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản
lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Điều 34. Xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính:
1) “Đối với tang vật là vật phẩm tươi sống, động vật hoang dã bị yếu, bị thương không
thuộc nhóm IB, hoặc lâm sản khác còn tươi không thuộc nhóm IA lập biên bản và tổ
chức bán Tiền thu được gửi vào tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước ”
2. “Đối với lâm sản, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, cơ quan kiểm lâm có
trách nhiệm bảo quản, không để mất mát, hư hỏng và xử lý như sau:
a. Đối với động vật hoang dã bị thương, yếu có khả năng phục hồi thì giao trung tâm cứu
hộ để chăm sóc phục hồi trước khi thả về môi trường thiên nhiên; đối với động vật hoang
dã khoẻ mạnh thì tổ chức thả về môi trường thiên nhiên phù hợp sinh thái của loài.”
(Nghị định này cần tham chiếu đến Nghị định 32/2006/NĐ-CP)
Luật bảo vệ môi trường (2005)
Điều 7. Những hành vi bị nghiêm cấm
3) “Khai thác, kinh doanh, tiêu thụ, sử dụng các loài thực vật, động vật hoang dã quý
hiếm thuộc danh mục cấm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.”
12 13

5.2 Những thiếu hụt và bất hợp lý trong hệ thống pháp lý hiện tại về các loài bị
đe dọa
Về lĩnh vực này, các thiếu sót chính trong các văn bản pháp quy hiện tại của Việt Nam là:
Các loài được liệt kê là cần bảo vệ
Các nghị định 18-HĐBT năm 1992, 48/2002/NĐ-CP năm 2002, và 32/2006/NĐ-CP năm 2006, là
một bước quan trọng trong việc bảo vệ các loài bị đe dọa tuy nhiên chúng vẫn chưa đủ cả về số
lượng loài cũng như nhóm loài. Nghị định gần đây nhất mới liệt kê hơn 200 loài còn ít hơn nhiều
so với số loài bị đe dọa và do đó cần được bảo vệ, sự không cân bằng còn thể hiện rõ giữa các
nhóm sinh vật (Bảng 2, Phụ chương 2). Theo quy chế gần đây nhất, có 58% số loài thú bị đe dọa
ở Việt Nam được xác định là các loài cần bảo vệ ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên con số này
ở các nhóm thực vật, bò sát, lưỡng cư và cá là nhỏ hơn 10%. Hiện tại, Danh lục Đỏ IUCN cũng
14 15
14 15
như sách Đỏ Việt Nam mới chỉ được coi là các tài liệu có tính khoa học chứ chưa có tính pháp lý.
Việc không có những liên hệ có tính nền tảng giữa các danh lục đỏ và các danh lục các loài được
bảo vệ (loài động thực vật quý hiếm và bị đe dọa) là vấn đề lớn nhất mà Việt Nam cần phải điều
chỉnh để cung cấp đủ tính pháp lý cho việc bảo vệ các loài bị đe dọa của quốc gia. Tuy có một số
ít khác biệt trong mục tiêu xây dựng danh lục các loài bị đe dọa và danh lục các loài được bảo vệ,
nhưng mức độ trùng lặp giữa các danh lục này là rất lớn và không nên xây dựng chúng một cách
tách biệt như tại Việt Nam. Do vậy cần phải có các biện pháp để các danh lục loài được bảo vệ
phù hợp với danh sách loài bị đe dọa (như Việt Nam đã cam kết với vai trò là một bên tham gia
Công ước Đa dạng Sinh học).
Bảng 2: Số các loài bị đe dọa toàn cầu* được bảo vệ ở Việt Nam
Nghị định 18-HĐBT
1992
48/2002/
NĐ-CP
32/2006/
NĐ-CP
Phụ lục I II I II I II Tổng số

danh sách bảo vệ của Nhà nước (trong đó, như đã phân tích ở trên, chính là các loài bị đe dọa).
Việc quản lý và bảo vệ các sinh cảnh của các loài bị đe dọa cũng được đề cập trong Nghị định
14 15
14 15
32/2006/NĐ-CP, và phần nào trong quy chế rừng đặc dụng theo Quyết định 08/2001/QĐ-TTg. Tuy
nhiên, một phần lớn các quần thể của rất nhiều loài bị đe dọa ở Việt Nam phân bố bên ngoài hệ
thống rừng đặc dụng (Bộ TNMT et al. 2005) trong khi Chỉ thị 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/05 của
Thủ tướng Chính phủ lại khuyến cáo không mở rộng thêm diện tích các khu rừng đặc dụng. Các
điều khoản pháp lý hiện tại vể bảo vệ sinh cảnh bên ngoài hệ thống rừng đặc dụng chủ yếu là
đưa ra quy chế chứ không có biện pháp khuyến khích cho các chủ sử dụng đất, cho dù điều này
đã được nêu trong luật Bảo vệ và Phát triển Rừng 1991 đã hết hiệu lực ở Điều 3: “trong trường
hợp bảo vệ, phát triển được loài quý, hiếm, chủ rừng được hưởng chính sách ưu đãi”. Việc đưa
lại những điều khoản như vậy vào các văn bản pháp quy hiện hành và thực hiện chúng sẽ là một
bước tiến để bảo tồn các loài bị đe dọa bên ngoài hệ thống rừng đặc dụng.
Các sinh cảnh thủy sinh
Hầu hết các văn bản pháp quy hiện hành mới chỉ đề cập dến các loài động vật và thực vật “rừng”.
Mặc dù các sinh cảnh đất ngập nước ở Việt Nam đang bị đe dọa nặng nề (Cục BVMT 2005), chỉ có
rất ít loài động vật thủy sinh (hầu hết các loài động vật biển) được liệt kê trong các danh lục loài
bảo vệ hiện có. Quan trọng hơn, việc phân công trách nhiệm quản lý đất ngập nước ở Việt Nam
hiện chưa rõ ràng và đôi khi còn chồng chéo. Một vài bộ ngành hiện đang chia xẻ trách nhiệm
đối với các vùng đất ngập nước trong đó có Bộ NNPTNT, Bộ TNMT và Bộ Thủy sản. Ví dụ, các
khu bảo vệ đất ngập nước chính thức thì được coi là rừng đặc dụng và trực thuộc sự quản lý của
Bộ NNPTNT, trong khi một số tài nguyên đất ngập nước, ví dụ như nguồn lợi về cá, thì thuộc sự
quản lý của Bộ Thủy sản. Như Cục BVMT (2005) đã nêu “việc quản lý đất ngập nước ở Việt Nam
vẫn còn mang tính đơn ngành, chồng chéo, thiếu phối hợp, thiếu tập trung, chức năng quản lý đất
ngập nước chưa được phân định rõ ràng”. Do vậy không thể giải quyết các vấn đề mà việc bảo
tồn đất ngập nước của Việt Nam đang phải đối mặt một cách hiệu quả. Đã có những đề xuất danh
sách 79 khu bảo vệ đất ngập nước (Bộ KHCNMT và Cục MT 2000) và 15 khu bảo tồn biển (Bộ
Thủy sản 2004). Một số trong số này đã được đưa vào hệ thống rừng đặc dụng của quốc gia (như
các Vườn Quốc gia Cát Tiên, Mũi Cà Mau, Tràm Chim, U Minh Thượng và Xuân Thủy [đất ngập

cũng cần được cân nhắc để đưa vào danh sách bảo vệ.
(iii) Đưa ra điều khoản để lên kế hoạch phát triển và phục hồi các loài bị đe dọa nặng nề
nhất ở Việt Nam (có lẽ đầu tiên là các loài ở hạng Cực kỳ Nguy cấp), với mục tiêu là
trong tương lai, văn bản pháp lý này có thể giúp giải quyết các yêu cầu quản lý cụ thể
đối với các loài.
(iv) Sách Đỏ Việt Nam cần được thừa nhận về mặt pháp lý và chỉnh sửa để tuân thủ chặt
chẽ hơn các hướng dẫn của IUCN. Ít nhất là phải đánh giá được tất cả các loài của Việt
Nam được liệt kế là bị đe dọa hoặc gần bị đe dọa ở cấp độ toàn cầu
7
;
(v) Các điều luật trong các văn bản pháp lý hiện tại quy định việc bảo vệ các sinh cảnh
trên cạn trọng yếu đối với các loài quý hiếm bên ngoài các khu rừng đặc dụng cần
được khởi động bằng các biện pháp khuyến khích như chính sách ưu đãi như đã đề
cập trong Điều 3 của Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng 1991;
(vi) Công nhận một hoặc một vài cơ quan đầu mối quốc gia chịu trách nhiệm về bảo tồn
các vùng biển và nước nội địa. Có thể là chỉ cần làm rõ các phân công trách nhiệm hiện
tại và tháo gỡ các điểm chồng chéo. Cơ quan này cũng cần có một những văn bản pháp
quy mới làm cơ sở cho các khu bảo tồn biển và bảo tồn nước nội địa.
(vii) Tất cả các khu đáp ứng các tiêu chí Ramsar (các tiêu chí 2, 5, 6 và 9) cần được đề xuất
để công nhận là khu Ramsar và cần được đưa vào hệ thống các khu bảo vệ của quốc
gia;
(viii) Làm rõ hơn nữa về mặt pháp lý về quyền sở hữu nhà nước đối với tài nguyên thiên
nhiên do nó liên quan đến đa dạng sinh học.
(ix) Củng cố việc thực hiện và khung hình phạt. Hình phạt hiện thời cần được áp dụng cho
từng cá thể động thực vật, hoặc hình phạt tối đa cần tăng đáng kể và áp dụng thường
xuyên hơn.
6
Chi tiết từng loài cần được đưa vào danh sách các loài được bảo vệ được trình bày ở Phụ chương 1.
7
So sánh giữa các loài được trình bày trong Phụ chương 1.

đã đưa ra danh lục 41 loài thủy sinh nhập nội ở Việt Nam (Phụ chương 4). Trong số này chỉ có
chín loài được xác định là hoàn toàn không có hại theo hệ thống phân loại khả năng xâm hại (Phụ
chương 5). Ở Việt Nam hiện chỉ có thông tin về một số loài sinh vật ngoại lai xâm hại gây ra hậu
quả nặng nề nhất, hay được nghiên cứu kỹ nhất. Tất cả các loài này đề được liệt kê trong danh
sách “100 loài sinh vật ngoại lai xâm hại nguy hiểm nhất trên thế giới” (ISSG 2001). Hiện tại, các
loài sinh vật ngoại lai xâm hại chưa có vẻ xuất hiện với số lượng lớn, bùng phát trên diện rộng và
gây hại nghiêm trọng như chúng đã gây ra ở nhiều quốc gia, nhất là các quốc đảo. Tuy nhiên, thực
tế là hầu hết các loài xâm hại, hoặc có tiềm năng xâm hại còn chưa được xác định hoặc nghiên cứu
ở Việt Nam. Nếu không có những nghiên cứu đầy đủ và các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn,
những ảnh hưởng nghiêm trọng có thể sẽ đến trong tương lai.
18 19
18 19
Mai dương Mimosa pigra
Hầu hết các nghiên cứu đến nay đều thống nhất là Mai dương Mimosa pigra là sinh vật ngoại
lai gây hại lớn nhất ở Việt Nam (Dương Minh Tú và Phạm Đinh Việt Hồng 2003, Nguyễn Công
Minh 2005). Loài này đã được nghiên cứu khá kỹ ở Việt Nam (Storrs et al. 2001, Trần Triết et al.
2004, Trần Triết 2000, 2005). Chúng phân bố ở hầu hết các sinh cảnh tự nhiên và sinh cảnh nông
nghiệp trên nội địa, các vùng nước ngọt và vùng ven biển, và chủ yếu là ở các khu vực gần nước
ngọt. Đây là loài gốc Nhiệt đới châu Mỹ và được du nhập vào châu Á vào cuối thế kỷ XIX. Đầu
tiên chúng phát tán chậm và lần đầu được ghi nhận ở Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam
vào năm 1979 (tại huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An; Trần Triết et al. 2004), nhưng đến nay đã xuất
hiện khắp trong cả nước. Loài này được xác định là cỏ dại nguy hiểm tại Thái Lan vào đầu những
năm 1980 (Napompeth 1983; in Trần Triết 2005) và mới trở nên một loài gây hại nguy hiểm ở vùng
hạ Mê Kông trong thời gian gần đây. Loài này rất phổ biến ở các vùng đất sở hữu chung, như
các khu bảo vệ, dọc đường, ven kênh rạch, sông suối, nhưng không phát triển mạnh được ở các
vùng đất do tư nhân sở hữu, có thể là do chủ sử dụng đất kiểm soát chặt (Trần Triết 2005). Loài
này đã trở thành một loài gây hại nghiêm trọng (xem Hộp 2) ở các vùng đất ngập nước như các
Vườn Quốc gia Tràm Chim, Cát Tiên và Yôk Đôn, ở hồ Biển Lạc, và các hồ chứa Trị An và Đồng
Mô-Ngải Sơn v.v
Hộp 2: Nghiên cứu về tác động của Mimosa pigra lên tính đa dạng sinh học của VQG Tràm

Sếu cổ trụ và Ô tác Houbaropsis bengalensis. Nhiều vùng trảng cỏ năng Eleocharis ở Tràm Chim là
vùng kiếm ăn chính của Sếu cổ trụi nay đã bị xâm lấn bởi M. pigra với mật độ dày đặc và không
còn thấy Sếu nữa. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra hậu quả là số lượng
Sếu ở Tràm Chim giảm mạnh từ 600-800 cá thể vào giữa những năm 1990 đến ít hơn 100 cá thể
vào năm 2003 (Trần Triết và Nguyễn Phúc Bảo Hòa 2002, 2003).
Nguồn: Trần Triết (2005)
Ốc bươu vàng Pomacea canaliculata
Ốc bươu vàng P. canaliculata cũng được nhiều nghiên cứu xác định là một trong những loài gây
hại mạnh nhất ở Việt Nam (Dương Minh Tú và Phạm Đinh Việt Hồng 2003, Nguyễn Công Minh
2005). Loài này đã được nhập vào Việt Nam từ trước năm 1975 với mục đích làm cảnh. Đến năm
1989, hai trang trại nuôi Ốc bươu vàng được thành lập (tại Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh) để nhân nuôi
và xuất khẩu Ốc bươu vàng và đến năm 1990, việc nuôi thử nghiệm Ốc bươu vàng được bắt đầu ở
miền bắc Việt Nam. Do có vòng đời ngắn, dưới các điều kiện phù hợp, Ốc bươu vàng có thể phát
tán nhanh chóng dọc theo các thủy vực và hiện đã được ghi nhận ở hầu hết các vùng tại Việt Nam
(Cục Bảo vệ Thực vật 2000). Do có thể ăn được hầu hết các loài thực vật, Ốc bươu vàng gây ra mối
đe dọa nghiêm trọng đối với cả tính đa dạng sinh học cũng như đối với sản xuất nông nghiệp.
Lục bình (bèo nhật bản, bèo tây) Eichhornia crassipes
E. crassipes được nhập vào Việt Nam từ Nhật Bản vào năm 1902 với mục đích làm cảnh. Trong
điều kiện thuận lợi loài này có thể phát triển gấp đôi diện tích trong khoảng mười ngày và hiện
đã phát triển phân bố rộng khắp các thủy vực nước ngọt ở Việt Nam. Lục bình che phủ mặt nước,
thối mục làm giảm ô-xy hòa tan trong nước, dẫn đến làm chết cá và các loài thủy sinh khác. Cũng
như các loài sinh vật ngoại lai xâm hại khác, nó còn gây ra những hậu quả xấu đối với nền kinh
tế. Chúng không chỉ cản trở hoạt động giao thông đường thủy mà còn làm chậm dòng chảy làm
giảm khả năng phát điện, sức tưới tiêu và làm tăng kinh phí bảo trì các hồ chứa.
Cây bông ổi (cây ngũ sắc, cây cứt lợn) Lantana camara
Bông ổi L. camara được đưa vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX với mục đích làm cảnh và hiện đang
được trồng khắp nơi trong cả nước. IUCN (2003) đã cảnh báo đây cũng là một loài có khả năng
xâm lấn mạnh.
Chuột hải ly Myocastor coypus
Chuột hải ly M. coypus được nhập vào Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XX với mục đích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status