Các tranh chấp có liên quan đến việc ký kết hợp đồng mua bán
ngoại thương
Chương I
Khái quát chung về hợp đồng mua bán
ngoại thương - rủi ro và tranh chấp trong việc
thực hiện hợp đồng.
I. Hợp đồng mua bán ngoại thương.
1. Khái niệm và đặc điểm:
1.1. Khái niệm.
Hợp đồng mua bán ngoại thương (HĐMBNT) hay còn gọi là hợp đồng
mua bán quốc tế hàng hoá hoặc hợp đồng xuất nhập khẩu là hợp đồng trong
đó một bên gọi là người bán có nghĩa vụ chuyển giao vào quyền sở hữu của
bên kia gọi là người mua, một hàng hoá - đối tượng của hợp đồng, còn người
mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả cho người bán một số tiền tương đương giá
trị của hàng hoỏ đú.
Giống như các hợp đồng mua bán khác, hợp đồng mua bán ngoại
thương cũng là sự thoả thuận giữa Ýt nhất hai bên về việc chuyển giao quyền
sở hữu về hàng hoá từ người bán sang người mua và việc thanh toán tiền hàng
từ người mua sang người bán.
Nhưng HĐMBNT có đặc điểm khác với hợp đồng mua bán thông
thường, khác ở chỗ nó mang tính chất quốc tế hay còn gọi là yếu tố nước
ngoài. Tuy vật, pháp luật các nước có quan điểm không giống nhau về nội
dung của tính chất quốc tế này.
3
Điều 1 của Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế những
động sản hữu hình quy định răng HĐMBNT là tất cả các hợp đồng mua bán
trong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng
hoá được chuyển từ nước này sang nước khác, hoặc là việc ký kết hợp đồng
giữa cỏc bờn được thực hiện ở những nước khác nhau. Như vậy, theo quy
định của Công ước này thì tính chất quốc tế của HĐMBNT bao gồm:
- Chủ thể ký kết là các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau.
nước này sang nước khác;
- Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ đối với một trong hai
bên ký kết;
Luật Thương mại Việt Nam ban hành tháng 5/1997 không đưa ra các
tiêu chuẩn cụ thể về HĐMBNT mà chỉ đưa ra khái niệm về HĐMBNT với
thương nhân nước ngoài "HĐMBNT với thương nhân nước ngoài là
HĐMBHH được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên
là thương nhân nước ngoài.
Như vậy, cho đến nay luật pháp các nước cũng như các điều ước quốc
tế chưa có quan niệm thống nhất về hợp đồng này. Tuy nhiên, từ các khái
niệm về HĐMBNT nói trên có thể rót ra các đặc điểm của loại hợp đồng này
như sau:
1.2. Đặc điểm.
- Chủ thể của HĐMBNT có thể là tự nhiên nhân (cỏ nhân) National
pesson hoặc pháp nhân (legal pesson). Muốn tham gia ký kết HĐMBNT tự
nhiên nhân và pháp nhân phải có đủ năng lực pháp lý và năng lực hành vi. Về
nguyên tắc, năng lực hành vi của cá nhân do luật của nước mà họ mang quốc
tịch quy định. Ví dụ, Điều 488 Bộ luật dân sự Pháp và Luật ngày 5/7/1974
quy định: "Tất cả mọi người trên 18 tuổi vẫn được coi là có năng lực hành vi
và đều có thể trở thành thương nhân. Tuy nhiên, những người đã đủ 18 tuổi
5
trở lên nhưng đang bị kết án, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị
mất trớ thỡ vẫn không được coi là có năng lực hành vi".
Năng lực hành vi của pháp nhân cũng được xác định theo luật của nước
mà pháp nhân đó mang quốc tịch. Vì vậy, để xác định năng lực hành vi của
một pháp nhân trước tiên cần xác định pháp nhân mang quốc tịch nước nào,
sau đó căn cứ và pháp luật nước đó để xác định năng lực hành vi cụ thể của
pháp nhân đó.
Nói chung, dù là pháp nhân hay tự nhiên nhõn thỡ chủ thể của các
HĐMBNT cũng thường là các bên có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác
quan hệ phát sinh từ các hợp đồng mua bán ngoại thương, nếu nó được cỏc
bờn dẫn chiếu tới trong hợp đồng. Việt Nam chưa gia nhập Công ước Viờn
1980, nhưng khi ký kết các hợp đồng xuất nhập khẩu chúng ta có thể quy định
áp dụng Công ước. Ở Việt Nam các điều ước quốc tế về ngoại thương mà
chúng ta tham gia ký kết công nhận hoặc do cỏc bờn dẫn chiếu tới có những
quy định trái với luật của Việt Nam thì theo Điều 11 khoản 6 Pháp lệnh về ký
kết và thực hiện điều ước quốc tế của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa công nghiệp
ngày 17/10/1989, Điều 827 khoản 2 Bộ Luật Dân sự Việt Nam, Điều 4 Luật
Thương mại Việt Nam có thể giải quyết theo hai cách:
Một là, đối với các điều ước quốc tế về ngoại thương mà Nhà nước đã
tham gia ký kết và phê chuẩn, chúng ta sẽ áp dụng những quy định trong điều
ước quốc tế.
Hai là, đối với những điều ước quốc tế mà Nhà nước ta chưa tham gia
và chưa công nhận, chúng ta có quyền bảo lưu, không áp dụng những quy
định trái với luật của Việt Nam.
* Luật quốc gia: Khi cỏc bờn chủ thể của một hợp đồng thoả thuận
chọn luật của một nước nào đó thì luật quốc gia đó trở thành nguồn luật điều
chỉnh hợp đồng đó. Luật quốc gia có thể là nước người bán, người mua hoặc
là một nước thứ 3 do các bên tham gia hợp đồng thoả thuận. Ở Việt Nam luật
7
áp dụng trong HĐMBNT có Luật Thương mại được Quốc hội khoá IX thông
qua và có hiệu lực từ ngày 31/7/1998 và cú cỏc văn bản dưới luật như Nghị
định số 57/1998/NĐCP của Chính phủ ngày 31/7/1998 quy định chi tiết thi
hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý
mua bán hàng hoá cho người nước ngoài.
* Tập quá thương mại quốc tế: Cũng là nguồn luật áp dụng đối với
HĐMBNT. Đó là những thãi quen được sử dụng một cách thường xuyên
trong thương mại quốc tế, có nội dung rõ ràng, cụ thể, được nhiều nước công
nhận và áp dụng thống nhất. Nó điều chỉnh một hợp đồng khi có quy định sẽ
áp dụng tập quán quốc tế.
diễn tả chính xác để các bên có sự hiểu thống nhất, ngoài tên hàng chung cần
phải ngắn với tên thương mại, tên khách hàng, tên hãng, tên địa danh
+ Phẩm chất: là tổng hợp các chỉ tiêu về tính năng, công suất, hiệu suất,
thẩm mỹ để phân biệt giữa hàng hoá này với hàng hoỏ khỏc. Có rất nhiều
cách xác định phẩm chất hàng hoá (sự miêu tả, mẫu hàng, nhãn hiệu ) và
mỗi cách xác định đó, nếu không tuõn thủ có thể phải gánh chịu những hậu
quả pháp lý khác nhau.
+ Sè lượng: điều khoản này xác định rõ đối tượng mua bán và liên quan
đến trách nhiệm, nghĩa vụ của cỏc bờn. Việc lùa chọn đơn vị đo lường cần
phải căn cứ vào tính chất hàng hoá và tập quán thương mại về đo lường mặt
hàng đú. Cú hai cách xác đinh số lượng hàng hoá: Xác định số lượng chính
xác và xác định số lượng dung sai. Việc xác định số lượng này sẽ làm cho
người bán phải gánh chịu những hậu quả khác nhau nếu vi phạm.
- Điều khoản về giá cả và phương thức thanh toán:
+ Luật pháp của đa số các nước quy định rằng, về nguyên tắc giá hàng
phải được quy định cụ thể trong hợp đồng. Song thực tế, nếu hợp đồng không
quy định giá cụ thể thì phải quy định cách xác định giỏ, cỏch tớnh giỏ.
9
V phng thc thanh toỏn, cc bn cn quy nh trong hp ng cỏc
phng thc thanh toỏn bng tin mt, D/A, D/T. T/T. L/C theo tho thun
ca cc bn.
+ Khi qu nh iu khon v giỏ c, cc bn nn quy nh ng tin
tnh gi, iu kin thanh toỏn v cch tnh, thi im tớnh t giỏ gia hai
ng tin.
- iu khon v thi hn v iu kin giao hng.
+ Thi hn giao hng: Thi hn ny cú th quy nh ngi bỏn phi
giao hng vo mt ngy c th hoc phi giao hng trong mt khong thi
hn nht nh tu theo s tho thun trong hp ng hoc ph thuc v iu
kin giao hng. Mi cỏch quy nh v thi gian giao hng u a ra nhng
hu qu phỏp lý khỏc nhau.
nghiệm và
kiểm dịch
hàng hoá
Làm thủ
tục hải
quan
Giao hàng
lên tàu
Mua bảo
hiểm
Làm thủ
tục thanh
toán
Giải quyết
khiếu nại nếu
có
- Trỡnh t thc hin hp ng nhp khu.
Kim tra L/C: Sau khi ký hp ng bờn nhp khu s m L/C (nu
thanh toỏn bng L/C) v chuyn n bờn xut khu: bờn nhp khu phi kim
tra k ni dung ca L/C cú khp vi hp ng ó ký khụng, ri tin hnh giao
hng.
Xin giy phộp xut nhp khu: Nu hng thuc danh mc cỏc mt
hng phi xin cp giy phộp xut nhp khu. Cụng ty u n phũng cp giy
phộp ca B thng mi mu l hng mu dch, n Tng cc Hi quan nu
l hng phi mu dch.
M L/C: Nu thanh toỏn bng L/C th bn nhp khu cn c vo
hp ng ó k kt m L/C s c chuyn n Ngõn hng ngoi thng.
11
Dục mở L/C (nếu
HĐ quyết định sử
hụt hoặc tổn thất
II. Rủi ro trong thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương.
1. Khái niệm rủi ro.
Rủi ro là những sự cố xẩy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng gây
tổn thất về hàng hoá hoặc tạo cho cỏc bờn không thực hiện đúng hợp đồng
gây thiệt hại cho một bên hoặc các bên tham gia ký kết.
- Rủi do có thể xẩy ra trong mọi khâu của quá trình thực hiện hợp đồng.
- Rủi ro thường kéo theo một loạt các yếu tố tranh chấp, bồi thường đều
có ảnh hưởng đến các bên tham gia.
- Rủi ro có thể do khách quan hoặc chủ quan gây ra.
2. Phân loại rủi ro.
2.1. Rủi ro khách quan.
Là những sự cố ngẫu nhiên, bất ngờ, là những mối đe doạ nguy hiểm
khi xảy ra thỡ gõy tổn thất cho đối tượng bảo hiểm.
* Nguyên nhân của rủi ro: Loại rủi ro này thường xẩy ra trong vận tải
biển. Hàng hoá chuyên chở đường biển chiếm vị trí lớn nhất trong các
phương tiện chuyên chở và thường gặp nhiều rủi ro.
- Thiên tai: Là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như: Thời tiết
khắc nghiệt, sét, biển động, động đất hoặc núi lửa., lốc và những tai nạn tự
nhiên khác mà con người không lường trước được.
- Tai nạn bất ngờ ngoài biển: Tầu bị cạn, đắm, đâm, va, mất tích, lật đổ,
đâm phải đá ngầm bị phá huỷ, cháy nổ
- Tai nạn bất ngờ và các nguyên nhân khách quan bên ngoài như: Hàng
về thiếu hụt, ro cháy, mất trộm, mất cắp
- Rủi ro các hiện tượng xã hội gây ra như chiến tranh, đình công, bạo
động, nổi loạn
* Các rủi ro trên được coi là bất khả kháng.
12
Bất khả kháng là những rủi ro khách quan, xẩy ra mọt cách ngẫu nhiên,
bất ngờ ngoài ý muốn của con người, mà các bên tham gia đã cố gắng tìm mọi
bảo hiểm hẹp nhất. Nó chỉ bảo hiểm "sự cố bất ngờ quan trọng". Rủi ro bảo
hiểm cụ thể là: Hoả hoạn, nổ, tàu hoặc xà lan va vào đá ngầm, chìm hoặc lật,
phương tiện vận chuyển trên bộ bị lật hoặc chệch đường ray; dỡ hàng tại cảnh
tránh nạn, vứt hàng, hy sinh tổn thất kiểu chung.
- Khi có bất khả kháng xảy ra bên ký kết hợp đồng bảo hiểm phải có
trách nhiệm báo ngay đến Công ty bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ cử người
đến kiểm tra, giám định mức độ thiệt hại để bồi thường.
2.2. Rủi ro chủ quan.
Là rủi ro trong quy trình thực hiện hợp đồng do lỗi cỏc bờn gây ra vi
phạm đến điều khoản của hợp đồng. Nó có thể thuộc về người bán, người
mua, người vận tải, ngân hàng
- Trong buôn bán quốc tế, các bên có thể tìm mọi lỗi nhỏ của nhau để
bắt bí, Ðp buộc phía bên kia phải giảm giá hàng hoá, gây thiệt hại cho nhà
xuất khẩu. Thường các nhà xuất khẩu phải chịu rủi ro lớn hơn so với các nhà
nhập khẩu. Căn cứ để bên nhập khẩu thường gây khó khăn cho bên xuất khẩu
chỉ có thể thu được các loại chứng từ xuất trình cho nhà nhập khẩu. Các căn
cứ để bên nhập khẩu thường gây khó khăn cho bên xuất khẩu là L/C (nếu
dùng phương thức thanh toán L/C). Nhà xuất khẩu chỉ có thể thu được tiền
nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của l/C: Sự hợp lệ của các loại chứng từ xuất
trình cho nhà nhập khẩu, không vi phạm các điều khoản của hợp đồng, đây là
điều rất khún khăn với các nhà xuất khẩu.
2.2.1. Rủi ro trong xuất khẩu.
Vì đa số các hợp đồng xuất khẩu là hợp đồng CIF và CFR và thường
dùng phương thức thành toán thư tín dụng, do đó khi thực hiện hợp đồng phải
qua nhiều khâu: chuẩn bị hàng, đục và kiểm kiểm tra thư tín dụng, thuê tàu,
14
bảo kiểm nghiệm, khai thác hải quan, phương thức thanh toán những khâu
này bên xuất khẩu không thực hiện nghiêm túc, hoặc quy trình thực hiện mặc
phải những lỗi nhỏ đều có thể dẫn đến vi phạm hợp đồng và phải bồi thường.
Chuẩn bị hàng hoá: Là một khâu quan trọng của quy trình xuất khẩu.
cần xin sửa đổi tới cơ quan kiểm nghiệm.
* Kiểm tra thư tín dụng:
Khi thực hiện hợp đồng thanh toán thư tín dụng, việc nắm chắc quản lý
và sử dụng với thư tín dụng có quan hệ trực tiếp đến an toàn trong khâu thu
tiền. Thư tín dụng được mở theo hợp đồng của bên nhập khẩu, để đảm bảo
chắc chắn bên nhập khẩu sẽ thanh toán tiền cho bên xuất khẩu khi nhận được
hàng hoá và các chứng từ về hàng hoá. Nội dung của thư tín dụng giống các
điều khoản chính trong hợp đồng đã ký. Chính sự chặt chẽ của thư tín dụng
quy định về việc trả tiền buộc nhà xuất khẩu phải xem xét cẩn thận trước khi
giao hàng bởi vì trong thực tiễn, do nhiều nhân tố sơ xuất trong công tác, lỗi
trong chuyển điện, tập quán buôn bán kinh nghiệm, tình hình thị trường thay
đổi hoặc hãng nhập khẩu có ý lợi dụng quyền chủ động mở thư để thờm vào
các điều khoản có lợi cho bờn mỡnh. Thường luôn xuất hiện tình trạng điều
khoản thư tín dụng được mở không phù hợp, thống nhất với quy định của hợp
đồng. Để đảm bảo thu tiền về an toàn và hợp đồng tiến hành thuận lợi, tránh
dẫn tới những tổn thất khụng đỏng cú về kinh tế chính trị, nên khi nhận được
thông báo phía đối tác đưa thư tín dụng, bên nhập khẩu cần tiến hành đối
chiểu, kiểm tra dùa vào hợp đồng nếu không đúng yêu cầu bên mở L/C sửa
lại.
* Kiểm tra tài chính của ngân hàng mở thư:
Nhiều trường hợp thực tế xảy ra do khủng hoảng, do lâm vào tình trạng
phá sản ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán cho nhà
xuất khẩu dẫn đến việc không thu hồi được tiền hàng, vì thế: Nhà xuất khẩu
phải kiểm tra tình hình kinh tế của nước sở tại của ngân hàng mở thư, tác
16
phong kinh doanh của ngân hàng nếu xác định được tình hình tài chính của
các ngân hàng này không tốt phải xem xét áp dụng các biện pháp thích hợp.
- Thẩm tra tính chất của thư tín dụng và trách nhiệm thanh toán của
ngân hàng mở thư: Thường do ngân hàng của người xuất khẩu thẩm tra, trong
thư tín dụng không được dụng chữ "có thể huỷ bỏ" phải có cam kết của ngân
tín dụng, chứng từ sẽ được chuyển đến ngân hàng mở L/C của nước nhập
khẩu, ngân hàng này sẽ căn cứ vào L/C của nhà nhập khẩu đã được mở và các
chứng từ chuyển đến nếu hợp lệ, qua kiểm tra không sai sót thì sẽ chuyển tiền
đến ngân hàng của nước xuất khẩu.
* Các chứng từ gồm có:
- Hối phiếu, hoá đơn, vận đơn, đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận xuất xứ,
chứng từ chế độ ưu đãi phổ biến, phiếu đóng gói và phiếy trọng lượng, giấy
chứng nhận kiểm nghiệm.
- Việc kiểm tra chứng từ nếu phát hiện những chỗ sai sót do nhân viên
của các cơ quan thành lập chứng từ gây ra, tạo cơ sở cho nhà nhập khẩu vì
những lý do khác nhau: biến động thị trường, muốn trả chậm tiền hàng, gây
khó khăn cho nhà xuất khẩu như không chấp nhận thanh toán, bắt sửa như
tăng chi phí, giảm lợi nhuận
2.2.2. Rủi ro trong nhập khẩu.
Thông thường người nhập khẩu Ýt bị rủi ro hơn người xuất khẩu.
Nhưng đối với các đơn vị nhập khẩu Việt Nam thường gặp những trường hợp
rủi ro sau:
Ở Việt Nam các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu phục vụ cho sản xuất,
một phần nhỏ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước: máy móc, trang
thiết bị hiện đại, nguyên liệu cao trong nước chưa sản xuất được, các hàng
tiêu dùng chất lượng cao Việc nhập khẩu thường ở dạng hợp đồng uỷ thác
nhập cho các đơn vị, công ty, cơ quan trong nước.
18
- Các mặt hàng nhập khẩu thường có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao,
trình độ của người ký kết hợp đồng và cơ quan nghiệm thu hàng hoá chưa
theo kịp. Nên khi hàng hoá nhập khẩu về, hay máy móc đã qua sử dụng chỉ
khi kết thúc hợp đồng, hàng hoỏ đó được bàn giao cho các đơn vị uỷ thỏc, thỡ
trong quá trình sử dụng mới phát hiện được máy móc lỗi thời, có nhiều bộ
phận bị hỏng húc Việc thay thế các bộ phận khác thường phải nhập khẩu từ
chính công ty đó bỏn với giá đắt. Mặt khác hợp đồng đã chấm dứt nên những
Mỏc. Yờn Nhật, Bảng Anh nhưng bản thân việc sử dụng các đồng tiền này
vẫn phải chịu các rủi ro nhất định do giá trị của các đồng tiền thường xuyên
thay đổi (do thả nổi tiền tệ của Chính phủ). Mặt khác trong thanh toán quốc
tế, tiền tín dụng được sử dụng rất phổ biến bao gồm: hối phiếu, ký phiếu,
ngân phiếu, séc, đó là những giấy chứng nhận xác định nợ, xác định thanh
toán bản thân nó chức một đồng tiền quốc gia nhất định để thanh toán vì vậy
tiền tín dụng so với các đồng tiền quốc gia được thừa nhận là được phép lưu
hành quốc tế thì Ýt có sự bảo đảm hơn cho nên khả năng rủi ro còng cao hơn
nhưng do tính thuận tiện và tính dễ vận chuyển mà do đó tiền tín dụng được
sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế. Những đấy chỉ là rủi ro do đồng
tiền thanh toán mang lại, các bên phải chấp nhận việc hạn chế rủi ro chỉ bằng
cách thoả thuận với nhau một đồng tiền mạnh để thanh toán và áp dụng một
số biện pháp bảm đảm, ví dụ như: lấy vàng làm thước đo giá trị để khi thanh
toán quy đoỉo ra tiền Còn tín dụng cỏc bờn khithanh toỏn nờn kiểm tra kỹ
về tính pháp lý, tính hợp pháp của các tiền tín dụng, khả năng bảo đảm chắc
chắn của tiền tệ, khả năng thanh toán của cỏc bờn
- Các phương thức thanh toán chủ yếu hiện nay trong buôn bán quốc tế
tuỳ thuộc vào mối quan hệ của các chủ thể ký kết hợp đồng mà chọn cho
mình phương thức thanh toán thích hợp.
a. Gửi tiền:
Gửi tiền bằng M/T, T/T, D/D là bên thanh toán chủ động gửi số tiền
cho người nhận thông qua ngân hàng hoặc các con đường khác. Trong buôn
20
bán quốctế thường áp dụng phương thức này trong các nghiệp vụ như thanh
toán trước tiền hàng, thanh toán cùng đơn đặt hàng, bán chịu. Đặc điểm là đề
cao thiện chí của cỏc bờn với sự tin tưởng cao, thủ tục đơn giản, nhanh gọn,
đây là phương thức Ýt chắc chắn nhất. Trong trường hợp bên nhận tiền trước,
giao hàng sau thì có lợi cho bên bán: vốn không bị ứ đọng. Ngược lại, bên
mua chịu sự rủi ro rất cao. Nếu bên bán cố tình trì hoãn việc giao hàng hoặc
có tranh chấp xảy ra bên mua thường bất lợi. Tức bên mua không có một sự
III. Tranh chấp.
1. Tranh chấp:
Thuật ngữ “tranh chấp” nói chung được hiểu là sự mâu thuẫn, bất
đồng về quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa người mua và người bán. Những
bất đồng đó liên quan đến việc giải thích không giống nhau về nội dung các
quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, hoặc liên quan đến việc thực
hiện các nghĩa vụ của một bên (người bán hoặc người mua).
Nhìn chung các nhà kinh doanh đều coi thị trường và khách hàng là các
yếu tố sống còn đối với hoạt động kinh doanh của mình, vì thế họ luon mong
muốn tạo được và duy trì chữ "tín" với khách hàng. Song, các tranh chấp từ
HĐMBNT trên thực tế là điều khó tránh khỏi do nhiều nguyên nhân khác
nhau. Trong số các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp có thể chia làm hai nhóm
chớnh là nguyên nhân khách quan và các nguyên nhân chủ quan.
a. Các nguyên nhân khách quan: Đây là các nguyên nhân xảy ra nằm ngoài
ý muốn chủ quan của các bên ký kết. Các nguyên nhân đó thường là:
+ Yếu tố văn hoá: Truyền thống văn hóa của mỗi dõn tộc cũng như đời
sống văn hoá hiện tại ảnh hưởng rất lớn đến nhạan thức, hành vi và cách xử
sự của con người. Trong kinh doanh quốc tế cũng vậy, các nhà kinh doanh
thường ở xa nhau, Ýt có điều kiện gặp gỡ thường xuyên và nếu có dịp gặp
nhau thì lại bị những khó khăn về văn hoá ứng xử ngăn trở. Kinh nghiệm của
nhiều thương gia cho thấy lời hứa trong kinh doanh có mức độ tin cậy khác
22
nhau tuỳ thuộc vào nguồn gốc văn hoá. Lời hứa của giới kinh doanh Mỹ được
coi là lời cam kết thực sự. Người Mỹ hứa điều gì thì đều hoàn toàn có thể tin
tưởng rằng họ sẽ thực hiện bằng mọi cách. Điều này xuất phát từ lối sống
thực dụng và tự tin của họ. Nhưng đối với các thương gia Pháp và các nước
Châu Âu khỏc thỡ lời hứa chỉ mang tính xã giao.
+ Yếu tố ngôn ngữ: Sự bất đồng về ngôn ngữ trong kinh doanh làm cho
sự hiểu biết của cỏc bờn không giống nhau, là nguyên nhân thưỡng xuyên dẫn
đến các tranh chấp xảy ra. Trong kinh doanh thương mại quốc tế các thứ tiếng
ký kết không nắm bắt kịp thời và đầy đủ sự thay đổi của các quy phạm pháp
luật, các tập quỏn thương mại thì sẽ khó tránh khỏi các tranh chấp phát sinh.
+ Yếu tố cung cầu trên thị trường: Quan hệ cung cầu trên thị trường có
liên quan chặt chẽ tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì thế khi
quan hệ cung cầu biến động theo chiều hướng bất lợi cho mét trong các bên
ký kết thì rất có thể đẩy họ vào tình thế chấp nhận vi phạm hợp đồng. Do vậy,
đây cũng là nguyên nhân dẫn đến phát sinh tranh chấp giữa các chủ thể của
HĐMBNT.
b. Nguyên nhân chủ quan:
Xét về mặt chủ quan thì sự khác biệt về quyền lợi giữa người mua và
người bán chính là nguyên nhân cơ bản làm phát sinh tranh chấp giữa cỏc
bờn. Những điều có lợi cho người bán thì có thể trở thành bất lợi đối với
ngườoi mua và ngược lại. Trong kinh doanh các bên ký kết đều muốn đạt
được hiệu quả cao nhất trong mỗi thương vụ. Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng
mà cỏc bờn mong đợi trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng. Mặt khác,
để tận dụng cơ hội kinh doanh nhiều khi các nhà kinh doanh dám chủ động vi
phạm các điều khoản trong hợp đồng và sẵn sàng vi phạm nghĩa vụ đã cam
kết khi cân nhắc hiệu quả kinh doanh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Nói
cách khác, chớnh cỏc bờn đó chủ động gây ra tranh chấp.
Như vậy các tranh chấp từ HĐMBNT có thể phát sinh do các nguyên
nhân khác nhau. Để bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp của mỡnh cỏc bên
24
phải tìm ra các biện pháp giải quyết có hiệu quả nhất. Tuy nhiên, trước khi lùa
chọn các phương pháp giải quyết tranh chấp cần phải hiểu rõ các loại tranh
chấp có thể phát sinh từ HĐMBNT.
2. Phân loại tranh chấp
2.1. Các tranh chấp có liên quan đến việc ký kết hợp đồng mua bán
ngoại thương.
2.1.1 Tranh chấp liên quan đến cơ sở pháp lý hợp đồng:
Việc ký kết HĐMBNT trước hết phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện,
phải ghi thêm bằng chữ.
2.1.2. Tranh chấp về địa vị pháp lý của các chủ thể:
Chủ thể của HĐMBNT có thể là các tự nhiên nhân hay các pháp nhân
có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, trong khi luật cac nước quy định
không giống nhau về địa vị pháp lý của họ. Vì thế khi đàm phán ký kết hợp
đồng cần xác định xem địa vị pháp lý của họ như thế nào, người tham gia ký
kết hợp đồng với mình có đủ thẩm quyền hay không, người đó nhân danh
mình hay đại diện cho người khác .
Tự nhiên nhân (Natural Person) muốn tham gia quan hệ HĐMBNT
phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy định của pháp luật .
Năng lực pháp luật của tự nhiên nhân thường bắt đầu từ khi sinh ra và chỉ kết
thúc khi họ chết đi. Còn năng lực hành vi của tự nhiên nhân chỉ bắt đầu phát
sinh khi công dân đến tuổi thành niên theo quy định của pháp luật. Bởi vì đú
chớnh là khả năng hửong quyền và thực hiện theo quy định thông qua hành vi
của chính bản thân họ.
Pháp nhân (Legal Person) là một tổ chức thành lập theo luật pháp và
được dùng danh nghĩa riêng cuả mình trong quan hệ kinh doanh. Thông
26
thường theo quy định của pháp luật một tổ chức muốn thừa nhận là pháp nhân
phải có đủ 4 điều kiện:
- Đó phải là tổ chức thống nhất , được thành lập một cách hợp pháp
- Tổ chức đó phải có tài sản riêng;
- Tổ chỳc đú phải có khả năng chịu trách nhiệmmbằng tài sản riêng;
- Tổ chức đó phải có quyền hành động với danh nghĩa riêng của mình,
có thể ra trước toà với tư cách nguyên đơn hoặc bị đơn
Khi có đủ 4 điều kiện trờn thỡ cỏc pháp nhân được coi là có năng lực
chủ thể đẻ ký kết các HĐMBNT. Tuy nhiên, trong quan hệ mua bán quốc tế
thì địa vị pháp lý của các pháp nhân cũng là vấn đề khá phức tạp. Nhìn chung
luật pháp các nước đều quy định địa vị pháp lý của cac pháp nhân được xác
định theo luật quốc tịch. Tức là, pháp nhân mang quốc tịch nước nào thì địa vị