các lý thuyết về thương mại quốc tế - Pdf 14

CÁC LÝ THUYẾT VỀ TMQT
David Ricardo
Sinh: 14 tháng 4 năm 1772 (1772-04-14)
London, Anh
Mất: 11 tháng 9 năm 1823 (51 tuổi)
Gloucestershire, Anh
Adam Smith
Sinh: 5 tháng 6[1] 1723 (baptism)
Kirkcaldy, Scotland
Mất: 17 tháng 7 năm 1790 (67 tuổi)
Edinburgh, Scotland
1
Lý thuyết cổ điển về TMQT
Tại sao các nước tham gia hoạt động ngoại thương ?
Sự phân phối nguồn lực giữa các quốc gia là không đồng
đều. Điều này có nghĩa là các quốc gia khác nhau về nguồn
lực kinh tế sẵn có
Việc sản xuất hiệu quả các hàng hoá khác nhau đòi hỏi
công nghệ khác nhau hoặc kết hợp nguồn lực khác nhau.
2
Lý thuyết cổ điển về TMQT
Quan điểm của trường phái trọng thương về
thương mại quốc tế:
Một quốc gia được coi là giàu có và hùng mạnh hơn
nếu như có được càng nhiều vàng bạc.
Ngoại thương phải thực hiện xuất siêu
Nhập khẩu là gánh nặng cho quốc gia
Nhà nước phải hạn chế tối đa nhập khẩu, đồng thời
khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua các công
cụ chính sách thương mại như thuế quan, trợ cấp…
3

5
Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế so sánh
David Ricardo
Lợi thế so sánh là một nguyên tắc trong kinh tế học phát biểu rằng mỗi
quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu
những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp
(hay tương đối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc
gia sẽ được lợi nếu nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản
xuất với chi phí tương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng
các nước khác).
Nguyên tắc lợi thế so sánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ
thương mại bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không
hiệu quả bằng các nước khác trong việc sản xuất mọi hàng hóa.
Nguyên tắc lợi thế so sánh là khái niệm trọng yếu trong nghiên cứu
thương mại quốc tế. Nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel năm
1970 Paul Samuelson đã viết: "Mặc dù có những hạn chế, lý thuyết lợi
thế so sánh vẫn là một trong những chân lý sâu sắc nhất của mọi môn
kinh tế học. Các quốc gia không quan tâm đến lợi thế so sánh đều
phải trả một cái giá rất đắt bằng mức sống và tăng trưởng kinh tế của
chính mình."
6
Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế so sánh
David Ricardo
Mở rộng phân tích lợi thế so sánh cho nhiều hàng hóa và nhiều quốc
gia
Trường hợp có nhiều hàng hoá với chi phí không đổi và có hai
quốc gia thì lợi thế so sánh của từng hàng hoá sẽ được sắp xếp
theo thứ tự ưu tiên từ hàng hoá có lợi thế so sánh cao nhất đến
hàng hoá có lợi thế so sánh thấp nhất.
Trường hợp có nhiều nước thì có thể gộp chung tất cả các nước

trong TMQT
Trường phái Kinh tế học phát triển (Raul Prebisch
và Hans Singer ):
Lợi thế so sánh của các nước đang phát triển là hàng
hóa nông sản và lợi thế so sánh của các nước phát triển
là hàng hóa công nghiệp
Nếu nền kinh tế thế giới chuyên môn hóa theo lợi thế so
sánh, về dài hạn, lợi ích của các nước đang phát triển sẽ
giảm dần và thậm chí có thể bằng không
10
Can thiệp của Chính phủ và Lợi thế so sánh
trong TMQT
Nguyên nhân:

Việc giá hàng hóa nông sản liên tục giảm sẽ làm cho
lợi thế so sánh ban đầu của các nước đang phát triển
trong dài hạn sẽ mất đi

Chính sách bảo hộ CN không hợp lý
11
Lý thuyết tân cổ điển về TMQT
Lý thuyết chi phí cơ hội:
Theo nhà kinh tế học Gottfield Harberler, chi phí cơ
hội của mặt hàng X là số lượng mặt hàng Y cần
được cắt giảm để sản xuất thêm một đơn vị hàng
hóa X. Xét hai quốc gia thì quốc gia nào có chi phí
cơ hội của X thấp hơn sẽ có lợi thế so sánh về mặt
hàng này. Về thực chất, chi phí cơ hội chỉ là cách
phát biểu khác của giá cả tương quan
Ưu, nhược điểm của lý thuyết và vận dụng vào thực

15
Lý thuyết hiện đại về TMQT
Thương mại dựa trên hiệu suất tăng dần theo
quy mô
Đối với những nước có điều kiện sản xuất giống nhau,
một trong những lý do quan trọng dẫn đến trao đổi
thương mại quốc tế là tính hiệu quả tăng dần theo quy
mô.
Sản xuất được coi là có hiệu quả nhất khi được tổ chức
trên qui mô lớn. Lúc đó, một sự gia tăng đầu vào với tỷ
lệ nào đó sẽ dẫn đến sự gia tăng đầu ra với tỷ lệ cao
hơn
16
Lý thuyết hiện đại về TMQT
Thương mại dựa trên yếu tố công nghệ
Lý thuyết trên có thể giải thích cho hai dạng thương mại.
Thứ nhất, nếu cả hai quốc gia đều có tiềm năng công nghệ như
nhau thì vẫn có thể hình thành thương mại, bởi vì phát minh sáng
chế trong chừng mực nào đó sẽ đối lại được trò tiên phong của
nước kia trong một lĩnh vực khác. Dạng thương mại này thường
diễn ra giữa các nước phát triển.
Dạng thương mại thứ hai được hình thành khi một nước tỏ ra năng
động hơn về công nghệ so với nước kia. Khi đó, nước thứ nhất
thường xuất khẩu những mặt hàng mới và phức tạp để đổi lấy
những mặt hàng đã chuẩn hóa từ nước thứ hai.
17
Lý thuyết hiện đại về TMQT
Lý thuyết thương mại liên quan đến cầu
Cách tiếp cận thứ nhất cho rằng, các dạng biến tướng
khác nhau của cùng một loại sản phẩm đòi hỏi tỷ lệ các

Trong Kinh Tế Học
21
Kinh tế là gì? Thuật ngữ "kinh tế" bắt
nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là
"một người biết cách quản lý gia đình
của họ"
22
Kinh tế học là khoa học nghiên cứu
về cách thức phương pháp các xã hội
loài người sử dụng, quản lý và sử
dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn
23
Xã hội này có rất nhiều tài nguyên: nước, rừng, dầu
mỏ, nhân lực, chất xám kinh tế học nghiên cứu
cách làm sao kết hợp, bố trí, quản lý các nguồn tài
nguyên này một cách hiệu quả nhất để đạt được mức
cực đại (maximize) về lợi ích, hạnh phúc của con
người.
24
Làm cho con người đạt được hạnh phúc ở
đây có nhiều ý nghĩa, nhiều chiều sâu. Nó
không đơn giản chỉ là tạo ra nhiều của cả vật
chất nhất cho xã hội như nhiều người thường
hiểu. Nó còn liên quan đến sự công bằng, sự
phát triển bền vững sau này.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status