Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hành
vi thương mại
LỜI NÓI ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế của
Việt Nam đã ngày càng được mở rộng, đời sống nhân dân nâng lên rõ rệt. Đất nước
càng phát triển, xu thế hội nhập với kinh tế trong khu vực và quốc tế ngày càng lớn.
Thực tiễn quá trình phát triển kinh tế ở nước ta đã cho thấy, chủ trương mở cửa hội
nhập là hoàn toàn đúng đắn, do đó càng đòi hỏi chúng ta cần phải xây dựng được
một hành lang pháp lý phù hợp, đảm bảo cho qỳa trình phát triển kinh tế tạo điều
kiện cho sản xuất, kinh doanh phát triển.
Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới. Một trong
những nội dung cơ bản của toàn cầu hoá là tự do hoá thương mại, xoá bỏ
những rào cản thương mại, tạo điều kiện cho thương mại hàng hoá và thương
mại dịch vụ được lưu chuyển trên một thị trường rộng lớn ngoài khuôn khổ
một quốc gia. Để chuẩn bị cho các doanh nghiệp trong nước chủ động và tự
tin tham gia các hoạt động kinh tế quốc tế, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư
khi thực hiện các hoạt động kinh doanh trong nước, hệ thống các văn bản
quy phạm pháp luật quốc gia cần phải được chuẩn bị nhằm dự đoán xu
hướng phát triển, đổi mới nhằm phù hợp, hài hoà với pháp luật quốc tế.
Cho đến nay, bên cạnh những thành tựu mà nền khoa học pháp lý
nước ta đã đạt được, nhiều văn bản pháp luật do nhiều nguyên nhân khác
nhau vẫn tồn tại nhiều điểm bất hợp lý trong thực tế và lý luận. Trong đó
phải kể tới Luật Thương Mại Việt Nam năm 1997, đây là bộ pháp điển hoá
đầu tiên của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trong lĩnh vực
thương mại. Với mục đích làm cơ sở pháp lý để phát triển nền kinh tế nhiều
1
thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, Luật Thương
Mại đã góp phần không nhá vào việc phát triển thị trường hàng hoá và dịch
vô thương mại trong nước, mở rộng giao lưu thương mại với nước ngoài.
Mặc dù Luật Thương Mại Việt Nam 1997 đã giải quyết được nhiều
giáo trình Luật thương mại của khoa Luật, trường Đại học Quốc Gia Hà
Nội, giáo trình Luật thương mại của trường Đại học Luật Hà Nội, tiếp đó
là các bài viết của TS Ngô Huy Cương như Hành vi thương mại; Luật
thương mại, khái niệm và phương pháp điều chỉnh…trên tạp chí Nghiên
cứu lập pháp; công trình nghiên cứu khoa học Những khác biệt giữa luật
thương mại Việt Nam và các chế định pháp luật thương mại các nước …
Ngoài ra cũn cú cỏc tác phẩm khác như : Tìm hiểu Luật thương mại Việt
Nam của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa năm 2000; Khái niệm thương mại trong
pháp luật Việt Nam và những bất cập dưới góc độ thực tiễn áp dụng và
chính sách hội nhập của TS Lê Hồng Hạnh trên tạp chí Luật học năm 2000;
Bàn về khoẳn 3 điều 1 Luật thương mại Việt Nam 2005 của Dương Anh
Sơn trên tạp chí Nhà nước và pháp luật năm 2006; Một số vấn đề hoàn thiện
pháp luật trọng tài thương mại đáp ứng yêu cầu hội nhập của Nguyễn
Đình Thơ trên tạp chí Nhà nước và pháp luật năm 2008… và nhiều các tác
phẩm, công trình của cỏc tỏc giải về các vấn đề cụ thể của hành vi thương
mại. Các công trình nghiên cứu đó đã đề cập đến những vấn đề lí luận cụ thể
và thực tiễn áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, có thể nói vẫn chưa có bài viết
nào hệ thống đầy đủ về vấn đề lí luận và thực trạng của quy định pháp luật
hiện hành về vấn đề hành vi thương mại. Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài
này với mục đích hệ thống một cách đầy đủ nhất các vấn đề cơ bản về hành
vi thương mại, đồng thời đề cập đến bất cập trong pháp luật thương mại hiện
nay về hành vi thương mại, từ đó, đưa ra một số những kiến nghị để có thể
góp phần hoàn thiện hơn pháp luật thương mại trong thời gian tới.
Phạm vi nghiên cứu đề tài
trong phạm vi bài nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp này, em không đề
cập, phân tích đến các hành vi thương mại cụ thể đã được liệt kê trong pháp
3
luật thương mại mà sẽ đi sâu phân tích kiến thức lí luận tổng thể về hành vi
thương mại, so sánh quan niệm hành vi thương mại của Việt Nam với một số
quốc gia trên thế giới như Pháp, Nhật Bản…để thấy được sự khác nhau.
đời, xuất hiện tầng lớp chuyên mua bán các sản phẩm đề kiếm lời- các thương nhân,
khi đó, hành vi thương mại đã được hình thành.
Luật thương mại là một thuật ngữ được hiểu chung trong giới luật học, không có
nhiều khác biệt và được định nghĩa tương đối giống nhau ở các nước. Theo cuốn từ
điển thuật ngữ pháp lý nổi tiếng thế giới Black’s Law Dictionary có định nghĩa “
Luật thương mại ” (Commercial Law) là thuật ngữ được sử dụng để chỉ toàn bộ
ngành luật vật chất áp dụng cho các quyền lợi giao dịch và quan hệ của những
người thực hành nghề nghiệp thương mại, buôn bán.
“ Luật thương mại ” cũng được giải nghĩa trong cuốn Petit Dictionnaire de Droit
(Dalloz) là ngành luật tư điều tiết mối quan hệ giữa các thương nhân hay các hành
vi thương mại.
Trong đời sống kinh tế xã hội cũng như trong khoa học pháp lý ở các nước theo
hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, luật thương mại đã tồn tại như một ngành luật
quan trọng, cùng với luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng
hóa- tiền tệ.
Luật thương mại ra đời do yêu cầu mới của đời sống kinh tế xã hội lúc bấy giờ và
do các quy định của luật dân sự không thể đáp ứng được đối với những quan hệ mới
5
phát sinh trong lĩnh vực lưu thông thương mại. Lúc đầu người ta chỉ biết tới dân
luật. Tới thời kì thương mại phát triển, người ta nhận thấy có nhu cầu đặc biệt, cần
có các quy tắc riêng mới thỏa mãn được, ví dụ như nhu cầu mau lẹ, nhanh chóng về
thủ tục, nhu cầu tín dụng.
Lúc khởi thủy, Luật thương mại là ngành luật tư điển hình, là luật của các thương
gia, điều chỉnh quan hệ mua bán trên thị trường. Nhưng về sau, quan niệm “hành vi
thương mại” không còn bị bó hẹp là hành vi mua bán mà được mở rộng ra, bao gồm
tất cả các hành vi đầu tư, sản xuất, trao đổi hàng hóa, cung ứng dịch vụ… nhằm
mục đích sinh lợi. Do đó phạm vi điều chỉnh của luật thương mại ngày càng được
mở rộng và nội dung của nó ngày càng phong phú hơn. Nội dung của luật thương
mại các nước này được thể hiện tập trung nhất trong các bộ luật thương mại, đề cập
đến những vấn đề cơ bản như địa vị pháp lý của các thương nhân, các giao dịch
được coi là hành vi thương mại. Ở nước ta trước đây, trong Bộ luật thương mại của
Việt Nam cộng hòa năm 1972, tại điều 340 đã xác định một cách khái quát về hành
vi thương mại, đó là những hành vi chế tạo, lưu chuyển, trung gian có mục đích
kiếm lời trực tiếp hay gián tiếp.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thuật ngữ thương mại được hiểu với
nghĩa là một hoạt động ít khi được sử dụng. Chỉ đến thời kì chuyển sang nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, thuật ngữ thương mại mới được sử dụng trở lại.
Cùng với việc ban hành Luật thương mại 1997, trên thực tế đã xuất hiện khái niệm
‘luật thương mại”. Song do khái niệm thương mại được hệ thống pháp luật nước ta
lúc đó tiếp cận ở nghĩa hẹp, tức là chỉ là một khâu của hoạt động thương mại, nên
luật thương mại không được coi là một ngành luật mà chỉ được coi như một bộ
phận của luật kinh tế.
Nội dung của Luật kinh tế bao gồm có Luật thương mại, Luật lao động, Luật điều
chỉnh sở hữu công nghiệp và một số chế định, quy phạm của dân luật có áp dụng
pháp luật công ( quan hệ dân sự do các chế định, quy phạm này điều chỉnh có sự
can thiệp của Nhà nước ). Trong nội dung của luật kinh tế theo quan niệm này thì
Luật thương mại có vị trí quan trọng nhất
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, để phù hợp với hiệp định thương mại Việt
Nam– Hoa kỳ cũng như để phù hợp với các văn bản pháp lý của WTO, hoạt động
7
thương mại được pháp luật Việt Nam ghi nhận theo nghĩa rộng hơn, quan niệm về
thương mại và hành vi thương mại đã rộng hơn nhằm đáp ứng những yêu cầu của
thực tế phát triển kinh tế đất nước trong thời kì hội nhõp kinh tế quốc tế.
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Luật thương mại Việt Nam
Từ thời phong kiến, các quy định của luật dân sự đã xuất hiện nhưng pháp luật về
thương mại hầu như không được biết đến trong pháp luật Việt Nam thời kì này.
Điều đó có thể lí giải là vì nền thương mại Việt Nam lúc bấy giờ còn kém cỏi, chưa
có gì phát triển đáng kể.
Phải đến thời kì Pháp thuộc ở nước ta mới có những quy định, chế định của luật
thương mại. Năm 1864 người Pháp đem bộ luật thương mại của mình áp dụng vào
các doanh nghiệp hoặc giữa chúng với cơ quan quản lí nhà nước về kinh tế nhằm
thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước. Để đáp ứng yêu cầu của cơ chế
quản lý kinh tế mới, Nhà nước đã ban hành một loạt văn bản pháp luật kinh tế mới
thay thế những văn bản ban hành trước đây như Luật doanh nghiệp 1999, Luật
Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995, Luật hợp tác xã năm 1996, Luật phá sản doanh
nghiệp năm 1993, Luật thương mại năm 1997…
Cho đến nay, cùng với sự phát triển và mở của hội nhập của nền kinh tế Việt Nam,
chúng ta đang cố gắng tạo một hành lang pháp lý thông thoáng, hiệu quả nhằm tăng
trưởng kinh tế, tạo một môi trường ổn định và hiệu quả cho các nhà kinh doanh
trong và ngoài nước đầu tư vào nền kinh tế, do đó chúng ta cũng đã sửa đổi, bổ
sung vào những văn bản đang hiện hành sao cho phù hợp với sự phát triển, đồng
thời ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về thương mại mới, nhằm giúp
cho nền kinh tế ngày càng phát triển như : Luật Thương mại 2005, Luật doanh
nghiệp 2005, Luật đầu tư, Luật canh tranh; Luật phá sản; Luật đấu thầu…
Trong giai đoạn hiện nay, để phản ánh đầy đủ những đặc điểm và yêu cầu của nền
kinh tế thị trường, chúng ta đó cú những thay đổi lớn cả về nội dung lẫn hình thức
của các văn bản pháp luật nói chung và các văn bản liên quan đến kinh tế, thương
9
mại nói riêng, từ đó có thể thấy sự phát triển của hệ thống pháp luật nước ta ngày
càng tiến gần tới sự hoàn thiện.
Nói tóm lại, hành vi thương mại xuất hiện ở Việt Nam từ rất sớm, song sự
phát triển của chúng lại là những thăng trầm, tựu chung, Việt Nam không có
truyền thống trong lĩnh vực thương mại giống như bao quốc gia nông nghiệp
khác. Cho mãi tới những năm gần đây, nhận thức về hoạt động thương mại
và vị trí của các thương nhân mới được đổi mới theo đúng xu hướng phát
triển của nền kinh tế thế giới.
1.2 Hành vi thương mại
1.2.1 Khái niệm hành vi thương mại
Hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về hành vi thương mại, có
nghĩa là chưa có sự thống nhất hoàn toàn về định nghĩa hành vi thương mại. Có thể
quan.
Một hành vi được coi là hành vi thương mại khi thỏa mãn các điều kiện :
- hành vi do thương nhân thực hiện. trong trường hợp công dân mua hành của
thương nhân thì hành vi của công dân là hành vi dân sự, còn hành vi của
thương nhân là hành vi thương mại
- Hành vi được thực hiện trong khuôn khổ các hoạt động thương mại của
thương nhân. Hành vi mua hàng để bán lại của thương nhân là hành vi
thương mại, nhưng nếu mua hàng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân thỡ đú lại là
hành vi dân sự.
Khái niệm “hành vi thương mại” được ghi nhận trong Luật thương mại 1997
nhưng đến Luật thương mại 2005 thì chúng ta đã thay thế “hành vi thương mại”
bằng thuật ngữ “hoạt động thương mại” ở nghĩa rộng hơn của “hành vi thương
mại”, đó là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi khác.
11
Nói đến hành vi thương mại, một yếu tố không thể không đề cập tới đú
chớnh là hàng hóa. Hàng hóa và thương mại không thể tách rời nhau. Hai
yếu tố cấu thành nên hành vi thương mại là mua về và bán lại, đối tượng của
các hoạt động này chính là hàng hóa. Nếu không có hangfh úa, không thể có
hành vi thương mại, và nếu không có hành vi thương mại, cũng không thể có
được khái niệm hàng hóa.
Hàng hoá là động sản hữu hình vốn là đối tượng truyền thống của các hành
vi thương mại, ngay cả ngày nay, đối tượng này vẫn là chủ yếu trong các
giao dịch thương mại. Đạo luật về mua bán hàng hóa của Anh quốc có định
nghĩa “ Hàng hóa là tất cả những động sản khác hơn những quyền vô hình và
tiền”. Định nghĩa này rất phù hợp với các nước theo truyền thống comman
law. Pháp luật của Hoa kì cũng quan niệm: “Hàng hóa có nghĩa là tất cả
những vật (bao gồm cả những hàng hóa được sản xuất đặc biệt) mà là động
sản tại thời điểm tham gia giao kết hợp đồng mua bán, khác hơn tiền, chứng
Câu hỏi đặt ra là, mua bất động sản để bán lại có phải là hành vi thương mại? Dù là
mua để bán lại nhưng đây không phải một hành vi thương mại bởi lẽ bất động sản
gắn liền với nhiều tố quyền và vật quyền mà đòi hỏi cần phải có sự bảo vệ chắc
chắn của Luật dân sự.
Từ đây có thể thấy, người ta căn cứ vào mối tương quan giữa tính chất dân sự và
tính chất thương mại của hành vi để xác định hành vi đó có phải là hành vi thương
mại hay không. Nếu tính thương mại của hành vi lớn hơn thì đó là hành vi thương
mại.
• Bán đi
Thành tố thứ hai của hành vi thương mại là việc bán lại hàng hóa, vật phẩm đã
mua. Nếu một người chỉ mua hàng hóa về để dựng thỡ hành vi này không có tính
cách thương mại mà là hành vi dân sự.
Trong kinh doanh, việc mua và bán không phải theo trật tự mua trước bán sau mà
có nhiều trường hợp có nơi thương nhân bán rồi mới mua hàng về.
13
Mục đích kiếm lời là một đặc thù riêng có của hành vi thương mại. Tuy nhiên, lời
hay lỗ lại không phải là yếu tố để cấu thành hành vi thương mại bởi dẫu có lỗ vốn
thỡ đú vẫn là một hành vi thương mại. Người ta chỉ xem xét đến khía cạnh chủ quan
của thương nhân. Dưới góc độ pháp lý, khi xác định hành vi thương mại, người ta
chỉ quan tâm đến việc có hay không có mục tiêu tạo ra lợi nhuận, chứ không quan
tâm đến việc thực hiện mục tiêu đó như thế nào.
Và hàng hóa đã mua về có thể được bán đi sau khi đã được gia công, sủa chữa hay
tăng thêm giá trị của hàng hóa chứ không nhất thiết phải nguyên trạng như lúc đầu.
Việc bán đi ở đây cần phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm có cả cho thuê lại.
Bởi vì, người cho thuê có thể đã mua về hay thuê về và cho thuê lại để nhằm mục
đích kiếm lời.
1.2.3 Phân loại hành vi thương mại
1.2.3a Phân loại hành vi thương mại
Nói chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở cách phân loại hành vi
thương mại thành hai loại cơ bản: hành vi thương mại thuần tuý (hay còn gọi
sự điều tiết của Luật lao động. Điều này cho thấy, rất khó trong việc phân định rạch
ròi các ngành luật, một đạo luật cũng không thể giải quyết được một cách triệt để.
Lúc này chỉ còn có thể dựa vào các học thuyết pháp lý và cỏc ỏn lệ.
- Hành vi thương mại hỗn hợp: là hành vi được thực hiện bởi một bên là thương
gia với mục đích thực hiện hành vi để kiếm lời, còn bên kia không phải là thưong
gia và tham gia giao dịch nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng. Tuy nhiên loại hành
vi này đặt ra khá nhiều khúc mắc trong việc áp dụng luật còng như thủ tục
giải quyết khi có tranh chấp xảy ra bởi phụ thuộc vào ý chí cỏc bờn lựa chọn
quy định pháp luật về thương mại hay dân sự để giải quyết.
15
Việc phân loại các hành vi thương mại thực ra chỉ mang ý nghĩa nghiên
cứu, trong các đạo luật thương mại, người ta không quy định việc phân loại
này. Phân loại các hành vi thương mại sẽ giúp cho việc của bản chất loại
hành vi này dễ dàng hơn đồng thời góp phần vào việc dự báo sự phát triển
trong tương lai của các hành vi thương mại.
1.2.3b So sánh việc phân loại hành vi thương mại với một số quốc gia khác, ta thấy
cũng có sự khác biệt:
* Hành vi thương mại theo pháp luật Pháp
Theo Francis Lemeunier thì pháp luật của Pháp chia các hành vi thương mại ra làm
ba loại:
- Các hành vi thương mại do bản chất;
- Các hành vi thương mại do hình thức;
- Các hành vi thương mại do phụ thuộc.
Các hành vi thương mại do bản chất được phân định thành hai loại: Thứ nhất, các
hành vi được coi là hành vi thương mại ngay cả khi chúng được thực hiện một cách
riêng rẽ; Thứ hai các hành vi chỉ được coi là hành vi thương mại trong trường hợp
do thương nhân thực hiện.
Các hành vi thương mại do hình thức là các hành vi được coi là hành vi thương mại
ngay cả khi chúng được những người không phải là thương nhân thực hiện. Các
hành vi này bao gồm hành vi lập hối phiếu; hành vi của các công ty thương mại…
Như vậy có thể nói có nhiều quan điểm khác nhau về phân lọai hành vi thương mại
để có thể phân định phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại. Và khái niệm hành vi
thương mại hiện nay vẫn là một vấn đề cũn gõy nhiều tranh cãi.
1.2.4 Thương nhân, chủ thể chủ yếu của luật thương mại
17
Hành vi thương mại thường luôn gắn liền với thương nhân. Các chủ thể
này chính là người tạo ra các hành vi thương mại, ngược lại khi nghiên cứu
xem thương nhân là những ai người ta lại thường hay dùa vào tiêu chí là các
hành vi thương mại .
Chẳng hạn như Bộ Luật Thương Mại Pháp và Bộ Luật Thương Mại
Trung Phần quy định “thương gia là người làm những hành vi thương mại và
lấy hành vi Êy làm nghề nghiệp của mình” (Điều 1).
Như vậy, khái niệm hành vi thương mại và khái niệm về thương nhân có
mối quan hệ gắn bó không thể tách rời. Hành vi thương mại có tính chất
khách quan, chóng Ên định nghề nghiệp của thương nhân, nói cách khác,
chúng là dấu hiệu để nhận rõ thương nhân, nếu họ thực hiện các hành vi
thương mại một cách thường xuyên và mang tính nghề nghiệp. Đổi lại,
thương nhân cũng là một yếu tố cơ bản để xác định tính chất thương mại
của một hành vi.
Luật thực định của các quốc gia quy định thương nhân với tư cách là chủ thể
thông thường của luật thương mại.
Chủ thể của luật thương mại được chia ra làm hai loại: Thương nhân và phi
thương nhân. Pháp luật của các nước có sự khác nhau đáng kể trong việc phân biệt
giữa thương nhân và phi thương nhân. Ở nhiều nước, nhất là ở những nước thực
hiện chế độ tự do thương mại, lại không có sự phân biệt giữa thương nhân và phi
thương nhân. Có thể xếp vào ba nhóm chủ yếu:
- Nhóm thứ nhất : bao gồm các nước có sự phân biệt rõ ràng giữa thương nhân
và phi thương nhân mà tại đó công nhận sự hiện diện của cả thương gia thể
nhân và thương gia pháp nhân, như Pháp, Đức, Bỉ, Tây Ban Nha…
- Nhóm thứ hai : bao gồm các nước có sự phân biệt giữa thương nhân và phi
* Bộ luật thương mại Đức định nghĩa thương nhân với một ý nghĩa rất quan trọng,
đó là một khái niệm pháp lí cơ bản vì không có hành vi thương mại thuần túy. Bộ
luật thương mại Đức coi các hành vi thương mại chỉ có thể áp dụng trong trường
19
hợp ít nhất có một bên là thương nhân theo nghĩa của bộ luật này. Có hai loại người
chính đáp ứng được các tiêu chuẩn của thương nhân:
- thứ nhất, bất cứ người nào thực hiện hoạt động thương mại được liệt kê trong phần
1 của bộ luật như : mua bán lại hàng hóa hoặc chứng khoán, bảo hiểm hoặc ngân
hàng, đại lý thương mại, đại lý hoa hồng, đại lý giao nhận hàng hóa và kho bãi.
- thứ hai, bao gồm tất cả những người khác làm nghề thủ công hoặc hoạt động
thương mại mà phù hợp với tính chất và phạm vi hoạt động có yêu cầu một tổ chức
kinh doanh và được kí vào sổ đang kí thương mại.
Ngoài ra tất cả các hợp danh (hợp danh thông thường, hợp danh hữu hạn) và các
công ty đều được xem là thương nhân mà tất cả các quy định của bộ luật được áp
dụng với chúng.
Như vậy với quan niệm hành vi thương mại là hành vi của các thương gia, pháp
luật thương mại Đức quy định về thương nhân có phần phức tạp hơn.
* Khác với việc định nghĩa thương nhân theo bản chất của Pháp, Bộ luật thương
mại Czech lại định nghĩa thương nhân theo hình thức đăng kí thương mại. Theo
cách thức liệt kê, mô tả, khoản 2 điều 2 Bộ luật thương mại Czech đã quy định: “
Theo bộ luật này, thương nhân được coi là :
- người (thể nhân hoặc pháp nhân) được ghi tên vào sổ đăng kí thương mại;
- người thực hiện hoạt động kinh doanh trên cơ sở một giấy phép cho tiến hành một
số hoạt động buôn bán nhất định;
- người thực hiện các hoạt động kinh doanh trên cơ sở một giấy phép được cấp theo
các luật hoặc các quy định đặc biệt khác với các quy định điều chỉnh việc cấp giấy
phép buôn bán;
- thể nhân thực hiện hoạt động nông nghiệp (sản xuất nông nghiệp) mà được đăng
kí vào sổ đăng kí thích hợp theo luật hoặc quy định đặc biệt”.
Như vậy, Bộ luật thương mại Czech không đề cập tới vấn đề hành vi thương mại để
kiểu hình thức bởi có nhóm từ “cú đăng kí kinh doanh; hoạt động thương mại một
cách độc lập, thường xuyờn” chứ không định nghĩa thương nhân xuất phát từ bản
chất của hành vi thương mại do họ thực hiện.
21
Như vậy, phân tích từ luật thực định và đời sống thương mại của các quốc gia
thì có thể chia thương nhân thành hai loại là thể nhân và pháp nhân. Tuy nhiên
theo pháp luật của một số quốc gia, trong đó có cả Việt Nam, thì ngoài thể nhân và
pháp nhân ra còn có thể có tổ hợp tác, hộ gia đình, hợp danh thực tế hay các dạng
công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân (phụ thuộc vào quan niệm của mỗi
quốc gia) đều được coi là thương nhân.
Xuất phát từ sự khác nhau giữa luật thương mại và luật dân sự dẫn đến sự phân
biệt giữa thương nhân và phi thương nhân. Và xuất phát từ bản chất thực sự của
thương nhân thì chúng ta có thể thấy rằng, định nghĩa thương nhân theo kiểu hình
thức đăng kí kinh doanh sẽ làm bó hẹp phạm vi điều chỉnh của luật thương mại.
Định nghĩa như vậy cũng sẽ làm loại bỏ sự điều chỉnh và giải quyết các hoạt động
thương mại trong thực tế. Về mặt lịch sử phát triển thì đăng kí thương mại phát
sinh sau các quy tắc thương mại được hình thành giữa các thương gia vào lúc Nhà
nước muốn quản lý các hoạt động thương mại nhằm các mục đích công cộng trong
đó có cả thuế. Vậy đăng kí thương mại không tạo nên cái chất của hoạt động
thương mại.
1.3 Sự khác biệt giữa hành vi thương mại - hành vi dân sự và ý nghĩa của
việc xác định hành vi thương mại
1.3.1 Sự khác biệt giữa hành vi thương mại và hành vi dân sự
1.3.1a. Sự phân biệt Luật dân sự và Luật thương mại
Theo nghĩa truyền thống, Luật dân sự là một ngành luật xác định giới hạn của
quyền lợi tư, nó bao gồm các vấn đề liên quan đến quyền lợi tư và chủ thể thực hiện
các quyền lợi tư. Những quyền lợi này phát sinh trong giao lưu hàng ngày. Có nghĩa
là, bất kì thể nhân hay pháp nhân nào cũng có thể tham gia vào các giao dịch dân sự
nhằm thỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần. Vậy cũng với tư cách là luật tư,
Luật thương mại và Luật dân sự có điểm gì khác biệt?
quan hệ khác nhau nên Luật thương mại và Luật dân sự là hai ngành luật khác biệt.
23
Vì mối quan hệ hết sức chặt chẽ và bổ sung cho nhau nên hai ngành luật này cũng
luôn được pháp điển hóa trong các văn bản pháp luật khác biệt. Và Luật dân sự luôn
là ngành luật xây dựng nền tảng đầy chất lí luận cho hệ thống luật tư.
1.3.1b Sự khác biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại
Các hành vi dân sự là các hành vi xảy ra một cách thường nhật nhất trong đời
sống xã hội với tính đa dạng, phong phú nên không thể liệt kê hết các xử sự này bao
gồm những hành vi nào. Tuy nhiên, khi các chủ thể thực hiện hành vi xử sự của
mình phải tuân thủ các quy tắc chung của luật dân sự là : bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của các chủ thể khác. Do đó, khi xử sự của một chủ thể làm ảnh hưởng tới
quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khỏc thỡ xử sự đó bị coi là trái pháp luật dân
sự.
Theo cuốn từ điển Luật học thì “Hành vi dân sự là hành vi của cá nhân, pháp nhân
và các chủ thể khác trong quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản có
quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các quan hệ tài sản nhằm làm phát sinh, thay
đối hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Hành vi dân sự được thực hiện dưới dạng hành động (thực hiện những hành vi nhất
định) hoặc không hành động (không thực hiện những hành vi nhất định)
Và khi đề cập tới mối quan hệ giữa Luật thương mại và Luật dân sự, theo
GS.TSKH Đào Trí Úc thì “ hành vi thương mại là một biểu hiện của hành vi pháp
lý dân sự, phải là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật dân sự và Luật thương mại”.
Như vậy, mối quan hệ giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại được nhìn nhận là
mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cỏi riờng, trong đó, hành vi dân sự là cái
chung, còn hành vi thương mại là cỏi riêng.
Cái chung của hai loại hành vi này thể hiện ở chỗ hành vi dân sự và hành vi thương
mại đều là hành vi của con người, phát sinh, tồn tại trong quá trình sản xuất, trao
đổi hàng hóa, đều là những nội dung của quan hệ hành húa-tiền tệ, và ở những mức
độ nhất định đều chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan.
nhau và không thể tách rời, theo như PGS.TS Đỗ Đình Toàn : “ Thương mại phải
gắn liền với thị trường, thị trường và thương mại đi liền với nhau nhu hình với
búng”. Sở dĩ thương mại phải diễn ra trên thị trường là vì mua bán là khâu quan
25