Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
doanh
Tình hình thực hiện chế độ hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây
lắp tại công ty Cổ phần xây dựng và Vật tư thiết bị
Lời nói đầu.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp hoạt
động trên nhiều lĩnh vực khác nhau nên việc thực hiện nghĩa vụ của các bên
trong nền kinh tế cần phải có sự quản lý chặt chẽ để đảm bảo thực hiện tốt
nghĩa vụ của mỡnh. Cỏc bờn phải có sự thoả thuận với nhau, pháp lệnh hợp
đồng kinh tế được ban hành với những quy định chung được áp dụng đối vơớ
cỏc doanh nghiệp để thực hiện tốt nghĩa vụ của mình trong kinh doanh. Công
ty Cổ Phần Xây Dựng và Vật tư thiết bị là một doanh nghiệp chuyên kinh
doanh xây dựng mà ngành nghề chủ yếu là xây dựng các công trình thuỷ lợi.
Vì vậy để thực hiện được nghĩa vụ của mình, công ty đã áp dụng chế độ hợp
đồng kinh tế. Do ngành nghề kinh doanh công ty chuyên kinh doanh các công
trình thuỷ lợi nên hợp đồng kinh tế mà công ty ký kết chủ yếu là hợp đồng
kinh tế về giao nhận thầu xây lắp. Có thể nói hợp đồng này là quan trọng nhất
và mang tính chất quyết định đến quá trình hoạt động của công ty. Ngoài
những quy định chung trong hợp đồng kinh tế đối với từng ngành nghề kinh
doanh khác nhau có thể có những quy định riêng để phù hợp với từng ngành
nghề, điều kiện của từng công ty. Việc thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể
trong hợp đồng kinh tế đối với Công ty Cổ phần Xây dựng và Vật tư thiết bị
với tư cách là nhà tróng thầu thì việc thực hiện nghĩa vụ của mình so với
những quy định chung của chế độ hợp đồng kinh tế và các quy định của pháp
luật hiện hành. Những thuận lợi và khó khăn gì của công ty khi tham gia ký
kết và thực hiện nghĩa vụ, những kiến nghị giải pháp hoàn thiện chế đố pháp
lý hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp tại công ty
Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
doanh
Chương I. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý cuả hợp đồng kinh tế trong giao
nhận thầu xây lắp
quan hệ kinh tế giữa các chủ thể với nhau là cần thiết và bắt buộc phải có.
Nhưng những quy định này không được tác động xấu đến các quan hệ kinh tế,
bởi vì các quan hệ này có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển của các
doanh nghiệp. Việc ban hành chế độ hợp đồng kinh tế áp dụng đối với các
chủ thể có quan hệ kinh tế với nhau là rất phù hợp với điều kiện hiện nay, nú
giỳp gúp phần ổn định nền kinh tế, các quan hệ của các chủ thể trong nền kinh
tế theo một khuôn mẫu nhất định.
II. Cơ sở pháp lý của hợp đồng kinh tế trong giao nhận thầu xây lắp
1. Khái quát chung về chế độ đấu thầu
1.1. Khái niệm
Theo quy định tại Điều 3 Quy chế đấu thầu quy định: Đấu thầu là quá
trình lùa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu.
Theo khái niệm này thì có thể thấy đấu thầu bao gồm nhiều nhà thầu
cùng tham gia để có thể cạnh tranh và tìm ra một nhà thầu có khả năng bảo
đảm thực hiện các yêu cầu của bên mời thầu có hiệu quả nhất.
1.2. Phân loại đấu thầu
a. Căn cứ vào chủ thể tham gia
Nếu phân loại theo tiêu chí này thì đấu thầu được chia thành đấu thầu
trong nước ( chỉ có các nhà thầu trong nước tham dự). Hiện nay ở nước ta thì
cũng đang tồn tại cả hai loại đấu thầu này, tuy nhiên theo quy định của Quy
chế đấu thầu thì ngoài những quy định đối với đấu thầu trong nước thì đối với
các nhà thầu nước ngoài thì pháp luật quy định chặt chẽ hơn nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho các nhà thầu trong nước.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
doanh
Đối với những gói thầu mà các nhà thầu trong nước không thể thực hiện
được thỡ cỏc nhà thầu nước ngoài mới được tham gia và phải đảm bảo những
quy định, điều kiện khó khăn hơn so với nhà thầu trong nước.
b. Căn cứ vào nội dung
b.1. Đấu thầu xây lắp: Là hình thức lùa chọn nhà thầu để xây dựng lắp
trong đấu thầu.
d.2. Đấu thầu hạn chế: Là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một
số nhà thầu ( tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham dù. Danh sách nhà thầu tham
dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuõn. Hình
thức này chỉ được xem xét và áp dụng khi có một trong các điều kiện sau:
Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói
thầu.
Các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế.
Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế.
d.3. Chỉ định nhà thầu: Là hình thức lùa chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng
yêu cầu của gói thầu để thương thảo gói thầu, được áp dụng trong các trường
hợp sau:
Trường hợp bất khả kháng do thiên tai, địch hoạ, được phép chỉ
định ngay đơn vị có đủ năng lực để thực hiện công việc kịp thời. Sau đó phải
báo cáo Thủ tướng chính phủ về nôi dung chỉ định thầu để xem xét phê duyệt.
Gói thầu có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, bí mật quốc
gia, bí mật an ninh, bí mật quốc phòng do Thủ tướng chính phủ quy định
Gói thầu đặc biệt do Thủ tướng chính phủ quy định trên cơ sở báo
cáo thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ý kiến bằng văn bản của cơ quan
tài trợ vốn và các cơ quan có liên quan.
Giá trị và khối lượng đã được người có thẩm quyền hoặc cấp có
thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ cho chỉ định thầu.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
doanh
d.4. Chào hàng cạnh tranh: Thường áp dụng cho những gói thầu mua
sắm hàng hoá có giá trị dưới 2 tỷ. Mỗi gói thầu phải có Ýt nhất 3 chào hàng
của 3 nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu chào hàng của bên mời thầu.
d.5. Mua sắm trực tiếp: Áp dông trong trường hợp bổ sung hợp đồng cũ
đã thực hiện xong hoặc hợp đồng đang thực hiện với điều kiện chủ đầu tư có
nhu cầu tăng thêm số lượng hàng hoá hoặc khối lượng công việc mà trước đó
Hoạt động xây dựng lắp đặt là một hoạt động kinh tế quan trọng của đất
nước, cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế đều được tạo ra trong hoạt động
xây lắp. Có thể nói hoạt động này liên quan đến tất cả các ngành kinh tế quốc
dân, hoạt động này sử dụng nguồn vốn và lao động tương đối lớn bao gồm
nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau. Những sản phẩm của quá trình
xây lắp thường gắn với một địa điểm nhất định và tồn tại lâu dài, vì vậy cần
phải có biện pháp quản lý thích hợp để nâng cao hiệu quả kinh tế, tránh lãng
phí.
Vì vậy cần có những quy định luật pháp chặt chẽ khác liên ngành cũng
như các ngành kinh tế khác khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hoạt động
của ngành xây lắp cũng cần có những chuyển biến theo thay đổi về nguồn
vốn. Hoạt động này xác định nguồn vốn từ nhiều ngành nờn cỏch quản lý
phải linh hoạt hơn.
Thay đổi về hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực xây lắp do các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tiến hành có sự cạnh tranh trên
thị trường nờn cú cỏch thích hợp để phát huy thế mạnh, hạn chế tính tiêu cực
của thị trường xây lắp.
Mục tiêu và cơ sở của đấu thầu xây lắp là do thị trường có rất nhiều
doanh nghiệp khác nhau nên việc lùa chọn được nhà thầu đáp ứng được yêu
cầu kỹ thuật đề ra là tương đối khó khăn, vì vậy cần phải tổ chức đấu thầu xây
lắp.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
doanh
2.2. Phạm vi và đối tượng áp dụng đấu thầu xây lắp
Đối với hoạt động đấu thầu xây lắp, do hoạt động xây lắp các công trình
làm cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế nên phạm vi diễn ra các hoạt động
xây lắp này có thể nằm ở tất cả cỏc vựng trờn lãnh thổ nước ta.
Nếu có thể nói đấu thầu xây lắp được thực hiện rộng rãi đối với mọi công
trình. Vì vậy ở đâu có dự án đầu tư thì có thể áp dụng đấu thầu xây lắp để lùa
chọn, tìm nhà thầu thích hợp đáp ứng tốt nhất những yêu cầu kỹ thuật đặt ra.
Khỏi quát dự án, địa điểm, thời gian xây dựng.
Chỉ dẫn việc tìm hiểu hồ sơ mời thầu
Các điều kiện tham gia dự thầu
Thời gian, địa điểm nhận hồ sơ mời thầu
d. Chỉ dẫn đối với nhà thầu
Mô tả tóm tắt dự án
Nguồn vốn thực hiện dự án
Tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng
Yêu cầu năng lực kinh nghiệm và địa vị hợp pháp của nhà thầu, các
chứng cứ, những thông tin liên quan đến nhà thầu trong khoảng thời gian hợp
lý trước thời điểm dự thầu
Thăm hiện trường và giải đáp các câu hỏi của nhà thầu
e. Hồ sơ dự thầu
e.1. Các nội dung về hành chính pháp lý
Đơn dự thầu hợp lý
Bản sao giấy đăng ký kinh doanh
Tài liệu giới thiệu năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu phụ nếu có
Văn bản thoả thuận liên doanh
Bảo lãnh dự thầu
e.2. Các nội dung về kỹ thuật
Biện pháp tổ chức thi công đối với gói thầu
Tiến độ thực hiện hợp đồng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
doanh
Đặc tính kỹ thuật, nguồn cung cấp vật tư, vật liệu xây dựng
Các biện pháp đảm bảo chất lượng
e.3. Các nội dung về thương mại tài chính
Giá dự thầu kèm theo thuyết minh và biểu giá chi tiết
Điều kiện tài chính nếu có
Điều kiện thanh toán
g.4. Tiến độ thi công
Mức độ bảo đảm tổng tiến độ quy định trong hồ sơ mời thầu
Tính hợp lý về tiến độ hoàn thành giữa các hạng mục công trình có
liên quan
h. Đánh giá hồ sơ dự thầu
h.1. Đánh giá sơ bộ nhằm loại bỏ các hồ sơ dự thầu không đáp ứng yêu
cầu
Kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu
Xem xét sự đáp ứng cơ bản của hồ sơ dự thầu đối với hồ sơ mời
thầu
Làm rõ hồ sơ dự thầu
h.2. Đánh giá chi tiết hồ sơ dự thầu được thực hiện gồm 2 bước
Đánh giá về mặt kỹ thuật để chọn danh sách ngắn
Đánh gia về mặt tài chính thương mại
h.3. Tiến hành đánh giá tài chính thương mại các nhà thầu thuộc dỏnh
sỏch ngắn trên cùng một mặt bằng theo tiêu chuẩn đánh giá được phê duyệt.
Việc đánh giá về mặt tài chính, thương mại nhằm xác định giá đánh giá bao
gồm các nội dung sau.
Sửa lỗi
Hiệu chỉnh các sai lệch
Chuyển đổi giá dự thầu sang một đồng tiền chung
Đưa về một mặt bằng so sánh
Xác định giá trị của các hồ sơ dự thầu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
doanh
h.4. Xếp hạng hồ sơ dự thầu theo đánh giá và kiến nghị nhà thầu với giỏ
trúng thầu tương ứng.
i. Kết quả đấu thầu
i.1. Nhà thầu có hồ sơ dự thầu hợp lệ, đáp ứng cơ bản các yêu cầu của hồ
sơ mời thầu, có giá đánh giá thấp nhất và có giá đề nghị tróng thầu không
bờn chủ thể tự nguyện, cùng có lợi và có lợi Ých cho việc phát triển kinh tế
quốc dân. Ngoài ra còn quy định nếu một bên trong quan hệ hợp đồng, một
bên là tư doanh thì hợp đồng phải được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền thì mới có giá trị về mặt pháp lý.
Với việc ban hành nghị định này và việc thực hiện điều lệ tạm thời về
hợp đồng kinh doanh thỡ đó sử dụng được lợi thế của các thành phần kinh tế
quốc dân theo hướng thống nhất của kế hoạch Nhà nước góp phần cải tạo
quan hệ sản xuất cũ từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới.
Đến khi ở miền Bắc bước vào xây dựng Chủ nghĩa xã hội mà công việc
quan trọng đầu tiên là kế hoạch 5 năm lần thứ nhất thỡ cỏc quan hệ kinh tế đó
cú sự thay đổi về cơ cấu chủ thể và về tính chất công tác kế hoạch và hạch
toán kinh tế, đòi hỏi có những quy định mới về điều chỉnh các quan hệ hợp
đồng giữa các đơn vị kinh tế. Vì vậy, điều lệ tạm thời về chế độ kinh tế được
Nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 04/TTg ngày 4/1/1960 đồng thời
với việc ban hành nghị định này thì Nhà nước đã quyết định thành lập hội
đồng trọng tài kinh tế để thực hiện các chức năng quản lý công tác hợp đồng
kinh tế và giải quyết các tranh chấp kinh tế phát sinh ( Nghị định số 20/TTg
ngày 14/1/1960).
Bản điều lệ tạm thời này đã quy định các bên tham gia quan hệ hợp đồng
là các đơn vị kinh tế cơ sở, các tổ chức Xã hội chủ nghĩa, việc ký kết hợp
đồng là việc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước. Khi có tranh chấp
kinh tế do vi phạm hợp đồng thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thuộc
hội đồng trọng tài kinh tế. Có thể nói trong thời kỳ này thì hợp đồng kinh tế
đã thực sự trở thành công cụ điều chỉnh và củng cố các quan hệ kinh tế
XHCN.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
doanh
Trước yêu cầu quản lý kinh tế, ngày 10/3/1975, Nhà nước ta đã ban hành
bản điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ( ban hành kèm theo nghị định số
54/CP ngày 10/3/1975 của Hội đồng Chính phủ). Bản điều lệ này đã quy định
nền kinh tế. Vì vậy Nhà nước đã ban hàng Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày
25/9/1989 với những nội dung mới phù hợp hơn, thuận lợi hơn trong điều
kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
Có thể nói Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được Nhà nước ban hành đã
khẳng định đúng vai trò của hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế, đã phản ánh
đúng giá trị đính thực của hợp đồng kinh tế. Với tư cách là sự thống nhất của
cỏc bờn chủ thể.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì chế độ hợp đồng kinh tế cũng
có nhiều thay đổi phù hợp với từng điều kiện của nền kinh tế cùng với những
văn bản pháp quy cụ thể hoá Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và những thay đổi
nhằm phù hợp và tạo mọi điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên
với sự phát triển của chế độ hợp đồng kinh tế ở nước ta trong từng thời kỳ
khác nhau với những thay đổi tiến bộ phù hợp với từng điều kiện kinh tế cụ
thể. Có thể nói những thay đổi đó tạo ra hệ thống các quy phạm pháp luật làm
cơ sỏ pháp lý quan trọng điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế trong cơ
chế mới hiện nay.
2. Những vấn đề lý luận về hợp đồng kinh tế
2.1. Khái niệm về hợp đồng kinh tế
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, khác với nền kinh tế sản
xuất tự cung tự cấp trước đây, mỗi ngành nghề không thể tự cung cấp cho
mình tất cả những loại sản phẩm cần thiết, do đó đòi hỏi phải có sự trao đổi
sản phẩm hàng hoá. Mối quan hệ trong trao đổi ở đây nhằm mục đích chính là
ràng buộc cỏc bờn để thực hiện nghĩa vụ của mình. Nhà nước nhân danh
quyền lợi xã hội một mặt bảo vệ lợi Ých cho các chủ thể kinh doanh mặt khác
để thực hiện quản lý Nhà nước nờn đó tác động vào việc ký kết và thực hiện
hợp đồng bằng luật pháp nhằm điều chỉnh và đảm bảo các quyền và lợi Ých
Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
doanh
hợp pháp. Như vậy mỗi quan hệ trao đổi trờn cũn được gọi là mối quan hệ
kinh tế giữa các bên có sự trao đổi hàng hoá trở thành quan hệ pháp luật kinh
nhau như: Hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động…
Tuỳ từng lĩnh vực cụ thể mà ta phải ký kết các loại hợp đồng khác nhau.
Như vậy hợp đồng kinh tế phải là loại hợp đồng mang mục đích kinh tế.
Khái niệm về hợp đồng kinh tế
Theo điều 1 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1980 thì ‘‘Hợp đồng
kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về
việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng
dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh
doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và
thực hiện kế hoạch của mỡnh.”.
Như vậy hợp đồng kinh tế thực chất là quan hệ kinh tế giữa các chủ thể
ký kết hợp đồng kinh tế, nó thể hiện ý chí giữa cỏc bờn bằng văn bản và được
xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng. Chế độ hợp đồng kinh tế là một chê
định đặc thù của pháp luật kinh doanh, nã quy định các nguyên tắc ký kết hợp
đồng kinh tế, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng kinh tế, các nguyên tắc
và nội dung thực hiện hợp đồng kinh tế, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
kinh tế. Khi cơ cấu kinh tế thay đổi thỡ cỏc quan hệ kinh tế cũng thay đổi
theo, do đó pháp luật về hợp đồng kinh tế cũng cần có những bước thay đổi
cho phù hợp với quá trình phát triển của các quan hệ kinh tế.
Hợp đồng giao nhận thầu xây lắp là một hợp đồng kinh tế nờn nú cú đầy
đủ tính chất của một hợp đồng kinh tế.
Khái niệm hợp đồng giao nhận thầu xây lắp.
Hợp đồng giao nhận thầu xây lắp là sự thoả thuận bằng văn bản hay tài
liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc lắp đặt xây
dựng và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng
về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình.
2.2. Đặc điểm của hợp đồng kinh tế giao nhận thầu xây lắp
a. Đặc điểm về nội dung của hợp đồng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
doanh
Ngoài ra hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp còn mang tính kế
hoạch và phản ánh mối quan hệ giữa kế hoạch với thị trường. Hợp đồng dựa
trờn định hướng kế hoạch của Nhà nước nhằm tiến hành các việc xây dựng và
thực hiện kế hoạch của các đơn vị kinh tế, trong đó có những hợp đồng mà
việc ký kết và thực hiện nó hoàn toàn tuân theo các chỉ tiêu của Nhà nước.
2.3. Phân loại hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp
a. Căn cứ vào thời hạn của hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp
a.1. Hợp đồng dài hạn: Hợp đồng này thường có thời hạn trên 1 năm chủ
yếu nhằm thực hiện công việc có tính chất lâu dài trên 1 năm
a.2. Hợp đồng ngắn hạn: Hợp đồng này có thời hạn từ 1 năm trở xuống.
Loại hợp đồng này chủ yếu được thực hiện đối với các công việc có tính ngắn
hạn phục vụ cho kế hoạch dài hạn.
b. Dùa vào tính chất của hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp
Theo tính chất của hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp thì có thể
chia hợp đồng thành 2 loại là hợp đồng theo chỉ tiêu pháp lệnh và hợp đồng
không theo chỉ tiêu pháp lệnh.
b.1. Hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp theo chỉ tiêu pháp lệnh.
Là loại hợp đồng được ký kết căn cứ vào chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước
giao. Ký kết và thực hiện hợp đồng này theo chỉ tiêu pháp lệnh là tuân theo kỷ
luật của Nhà nước, là nghĩa vụ của các đơn vị kinh tế được Nhà nước giao chỉ
tiêu phỏp lờnh. Hiện nay thì số lượng hợp đồng này thuộc loại rất Ýt.
b.2. Hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp không theo chỉ tiêu pháp
lệnh
Là loại hợp đồng được ký kết theo nguyên tắc tự nguyện nhằm xây dựng
và thực hiện kế hoạch của các chủ thể. Các chế độ ký kết và thực hiện loại
hợp đồng này theo quy định của pháp luật hiện hành.
c. Căn cứ vào nội dung cụ thể của các quan hệ kinh tế gồm
Hợp đồng mua bán hàng hoá
Hợp đồng vận chuyển
Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc được quy định trong điều 3 của Pháp
lệnh hợp đồng kinh tế. Hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp được thực
hiện theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi và khụng trỏi pháp
luật.
a.1. Nguyên tắc tự nguyện
Tức là khi một hợp đồng được ký kết giữa cỏc bờn chủ thể thì phải dựa
trờn cơ sở tự nguyện thoả thuận giữa cỏc bờn chủ thể, không được Ðp buộc
ký kết hợp đồng và không có sự áp đặt ý chí của bất cứ tổ chức hay cơ quan
nào.
Vì vậy khi xác lập quan hệ hợp đồng thỡ cỏc bên phải hoàn toàn tự do ý
chí, tự nguyện trong công việc, bày tỏ ý chí thống nhất để nhằm đạt mục đích
kinh tế của mỡnh. Cỏc bên có thể thỏa thuận những nội dung chính của bản
hợp đồng. Tuy nhiên những nội dung không được trái với những quy định của
pháp luật hiện hành. Mọi hành vi tác động đến tính tự nguyện trong ký kết
cũng như bị cưỡng Ðp ký kết, lừa đảo đểu làm ảnh hưởng đến hợp đồng tuỳ
từng mức độ khác nhau.
Nguyên tắc này đã thể hiện tính tự chủ của các chủ thể kinh doanh được
Nhà nước đảm bảo và bảo vệ. Tuy nhiêu Nhà nước cũng đặt ra những quy
định chung đối vơi chế độ hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp nhằm
quản lý, điều chỉnh và mục đích phát triển kinh tế xã hội. Những quy định
chung được thể hiện cụ thể như là: không được lơi dụng việc ký kết hợp đồng
để hoạt động trái pháp luật, lợi Ých bất hợp pháp ảnh hưởng đến các chủ thể
và nền kinh tế. Đối với các thành phần độc quyền của Nhà nước thì không
được lơi dụng quyền ký kết hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp để đòi
hỏi những điều bất bình đẳng, Ðp buộc đối với bên còn lại.
So với trước đây, việc ký kết các hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây
lắp theo chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh là nghĩa vụ bắt buộc của các đơn vị kinh
tế được Nhà nước giao chỉ tiêu pháp lệnh. Nờn tớnh tự nguyện của các chủ
thể bị hạn chế đáng kể do có sự ràng buộc của tính kỹ luật của các chỉ tiêu kế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệpKhoa Luật kinh doanh Khoa Luật kinh
doanh
nhưũng thay đổi bổ sung cho phù hợp thì có thể đưa thêm vào hợp đồng, tuy
nhiên cũng không được trái pháp luật. Qua đó có thể thấy nguyờn tắc này có ý
nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện hợp đồng và việc bảo vệ trật tự quản
lý Nhà nước. Một hợp đồng chỉ được thực hiện khi nú khụng trái với những
quy định của pháp luật, và thông qua những quy định bắt buộc này thì Nhà
nước có thể điểu chỉnh và điều tiết nền kinh tế.
b. Căn cứ ký kết hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp
Căn cứ để ký kết hợp đồng được quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế. Theo quy định này thì hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây
lắp được ký kết trờn các căn cứ sau:
b.1. Định hướng kế hoạch của Nhà nước, các chính sách, chế độ các
chuẩn mục kinh tế, kỹ thuật hiện hành.
Đối với mỗi đơn vị kinh tế, việc ký kết hợp đồng kinh tế về giao nhận
thầu xây lắp là cơ sở để xây dựng kế hoạch hoạt động cho minh và nó là công
cụ để thuc đẩy việc thực hiện kế hoạch đã đề ra mà kế hoạch của mỗi đơn vị
kinh tế được xây dựng căn cứ vào định hướng kế hoạch của Nhà nước để đảm
bảo cho tính hiệu quả của việc thực hiện kế hoạch của mỡnh thỡ cỏc bờn chủ
thể ký kết cũng cần phải căn cứ vào các chính sách kinh tế đề ra, các chuẩn
mực kinh tế đặt ra cho từng ngành nghề, không được lạc hậu so với thời đại
nên phải luôn tiếp thu những thành tựu kỹ thuật hiện hành cho phù hợp.
b.2. Nhu cầu thị trường, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của bạn hàng
hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp nú luụn gắn liền với sự vận
động của thị trường, của quan hệ cung cầu nên trong việc ký kết hợp đồng các
chủ thể phải luôn căn cứ vào nhu cầu cảu thị trường như khả năng cung cấp
hàng hoá và khả năng đáp ứng về hàng hoá dịch vụ của mình và của bạn
hàng.
Căn cứ này thể hiện nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh tế được ký
kết có khả năng thực hiện trên thực tế và là do nhu cầu của thị trường cần có.
doanh
Từ trên ta có thể thấy chủ thể của hợp đồng phải có Ýt nhất một bên chủ
thể là đơn vị, tổ chức có tư cách pháp nhân, còn bên kia có thể là pháp nhân
hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
Pháp nhân là một tổ chức có đầy đủ tư cách pháp nhân gồm: có tài sản
riêng và chịu trách nhiệm một cách độc lập bằng tài sản đó, tự nhân danh
mình tham gia các quan hệ pháp luật có thể trở thành nguyên đơn, bị đơn
trước toà án, tồn tại độc lập và được pháp luật công nhận là một tổ chức đọc
lập.
Cá nhân có đăng ký kinh doanh thwo quy định của pháp luật là người đã
đăng ký kinh doanh tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được công nhận
kinh doanh.
Ngoài ra theo quy định của điều 42,43 của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
thì những người làm công tác khoa học kỹ thuật tổ chức và cá nhân nước
ngoài tại Việt Nam khi ký kết hợp đồng với một pháp nhân Việt Nam cũng
được áp dụng các quy định của chế độ hợp đồng kinh tế.
Khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp thì mỗi
bên tham gia quan hệ hợp đồng cần cử một đại diện ký vào bản hợp đồng.
Nếu bên chủ thể ký kết là pháp nhân thì người ký hợp đồng phải là người
được bổ nhiệm hoặc đang giữ chức vụ đó, tức là người này luôn ký các hợp
đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp của pháp nhân. Nếu chủ thể là cá nhân
có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật thì người ký hợp đồng
phải là người đứng tên trong giấy đăng ký kinh doanh. Trong tất cả các
trường hợp hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp không bắt buộc kế
toán trưởng cùng ký vào bản hợp đồng. Đõy chớnh là điểm khác biệt so với
quy định trong điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành theo Nghị định số
54/CP ngày 10/3/1975.
Khi một bên là tổ chức nước ngoài tại Việt Nam thì đại diện tổ chức phải
được uỷ nhiệm bằng văn bản, nếu là cá nhân nước ngoài ở Việt Nam thì bản
thân họ phải là người ký kết các hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp.