TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
LỚP NH04 - K33
Đề tài số 05:
Giảng viên: TS. Nguyễn Tấn Hoàng
Nhóm: 1.Nguyễn Công Đan Anh
2. Lê Thị Minh Ân
3. Hồ Hải Quỳnh Châu
4. Vỏ Hoài Nam
5. Ngô Thị Hà Phương
6. Trần Thị Diễm Son
TP Hồ Chí Minh
Tháng 9 năm 2010
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
(Người nhượng TBH)
Người tái bảo hiểm
(Người nhận TBH)
Người tái bảo hiểm
(Người nhận chuyển nhượng tái bảo hiểm)
Mối quan hệ trong tái bảo hiểm
Hợp đồng TBH
Hợp đồng chuyển nhượng TBH1.2. Lịch sử phát triển của tái bảo hiểm
Như chúng ta đều biết, ngành bảo hiểm không phải là một khái niệm
trùng lặp mà nó mang tính chất giai cấp sâu sắc, vì một mặt bản chất và
nhiệm vụ của nó được xác định qua những trật tư xã hội khác nhau và
quy luật kinh tế cơ bản của xã hội đó, đồng thời mặt khác hoạt động của
nó có tác dụng trở lại đối với sự phát triển của quan hệ sản xuất và lực
Trang 4
Môn học: Nguyên lý và thực hành bảo hiểm Đề tài số 05
lượng sản xuất của xã hội đó. Vì vậy, sự phát triển của ngành bảo hiểm
nói chung và tái bảo hiểm nói riêng đều gắn chặt với sự phát triển của xã
hội và của nền sản xuất hàng hóa.
1.2.1. Giai đoạn đầu phát triển của tái bảo hiểm
Vào giai đoạn cuối cùng của thời đại trung cổ, khi ngành bảo hiểm
bắt đầu phát triển và mở rộng ở châu Âu thì nhu cầu tái bảo hiểm đã xuất
hiện và ngày càng tăng nhanh cùng với sự phát triển của nền kinh tế
TBCN. Trước tiên, nghiệp vụ tái bảo hiểm được tiến hành cho loại hình
bảo hiểm vận chuyển hàng hải, sau này dần dần được mở rộng sang bảo
hiểm cháy, BHNT.
Nước Ý là nước đầu tiên chứng kiến sự ra đời của dịch vụ tái bảo
hiểm. Bản giao ước cổ nhất được biết đến với tính chất pháp lý như một
Môn học: Nguyên lý và thực hành bảo hiểm Đề tài số 05
công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp. Năm 1846, tại Kohn (Đức), công ty
tái bảo hiểm chuyên nghiệp đầu tiên đã ra đời lấy tên là công ty Tái bảo
hiểm Kohn. Tiếp theo đó là một số công ty tái bảo hiểm có tên tuổi trên
thị trường thế giới hiện nay cũng đã được thành lập như công ty tái bảo
hiểm Thụy Sĩ (Swiss Re) năm 1863, công ty tái bảo hiểm London
(London Guarantee Reinsurance co.Ltd) năm 1869, công ty tái bảo hiểm
Munich năm 1880.
Trong giai đoạn này, hai cuộc chiến tranh thế giới cùng với các cuộc
khủng hoảng kinh tế và lạm phát tiền tệ đã làm tổn hại lớn đến sự phát
triển của ngành bảo hiểm nói chung và ngành tái bảo hiểm nói riêng. Bị
tổn hại nhiều nhất phải kể đến các công ty tái bảo hiểm Đức. Trong hai
cuộc chiến tranh thế giới này, các giới tư bản độc quyền đã lấy vốn và
quỹ tiền tệ bảo hiểm (trong đó có dự trữ phí của bảo hiểm nhân thọ) của
các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm để chi phí cho chiến tranh. Trong
khi đó các công ty tái bảo hiểm của những nước không bị chiến tranh đe
dọa đã vươn lên, nắm lấy thị trường tái bảo hiểm quốc tế, ví dụ như công
ty tái bảo hiểm Thụy Sĩ đã phát triển lên thành một công ty tái bảo hiểm
đồ sộ. Ngoài ra, trong thời gian này có rất nhiều công ty tái bảo hiểm đã
ra đời nhất là ở Mỹ, Thụy Sĩ.
1.2.3. Giai đoạn sau chiến tranh thế giới lần thứ hai
Giai đoạn này được đặc trưng qua các biến động lớn sau :
Sự phục hồi nhanh chóng của các công ty tái bảo hiểm của CHLB
Đức: Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, các công ty tái bảo hiểm
Đức đã bị cắt đứt quan hệ với quốc tế và năm 1947 lại bị cấm không
cho hoạt động ở nước ngoài. Nhưng ngay sau khi lệnh cấm này được
bãi bỏ năm 1950 thì các công ty tái bảo hiểm ở CHLB Đức đã nhanh
chóng khôi phục lại địa vị truyền thống của mình và thiết lập các
quan hệ quốc tế rộng rãi. Nhiều công ty tái bảo hiểm mới được thành
lập. Sự thành lập các công ty bảo hiểm nhà nước ở các nước XHCN :
cho tổ chức đó và có thể đưa đến phá sản. Do vậy nghiệp vụ tái bảo hiểm
ra đời để bảo vệ cho người bảo hiểm.
Có thể thấy sự cần thiết của tái bảo hiểm qua các lý do sau:
1.3.1. An toàn
Khách hàng mua bảo hiểm để giảm bớt lo âu về sự không chắc chắn
của tổn thất. Các tổ chức bảo hiểm cũng tìm kiếm sự an toàn, an tâm và
đạt được những điều này bằng việc tái bảo hiểm.
1.3.2. Góp phần ổn định tỷ lệ bồi thường
Tổ chức bảo hiểm gốc có thể tránh sự biến động trong các khoản chi
bồi thường trong một năm và qua nhiều năm bằng việc tái bảo hiểm.
1.3.3. Tăng cường khả năng nhận bảo hiểm
Tổ chức bảo hiểm có thể có giới hạn về tài chính đối với mức độ rủi
ro mà họ có thể chấp nhận. Ví vậy dịch vụ có thể bị từ chối hoặc chấp
nhận một phần. Bằng cách tái bảo hiểm tổ chức bảo hiểm gốc có khả
năng tăng năng lực của họ để chấp nhận dịch vụ.
1.3.4. Lợi ích vĩ mô
Chi phí rủi ro được dàn chải trong toàn thị trường thế giới. Rủi ro
không chỉ tác động vào một nền kinh tế mà rủi ro của một quốc gia được
san sẻ trên toàn thế giới.
1.4. Phân loại tái bảo hiểm
Căn cứ vào tính chất các loại tái bảo hiểm có các loại hợp đồng tái
bảo hiểm sau:
1.4.1. Tái bảo hiểm tạm thời hay nhiệm ý
Trang 7
Môn học: Nguyên lý và thực hành bảo hiểm Đề tài số 05
Đây là loại hợp đồng dùng để giải quyết việc phân tán rủi ro một
cách tạm thời.
Đặc điểm:
Mỗi rủi ro phát sinh muốn được các tổ chức nhận tái bảo hiểm chấp
nhận phải tiến hành một lần thương lượng và như vậy làm phát sinh chi
đồng tái bảo hiểm đã thỏa thuận mà công ty nhượng thay mặt cho họ giải
quyết. Tuy nhiên, nhà tái bảo hiểm sẽ không bị ràng buộc bởi những hành
động hoặc sơ xuất của công ty nhượng mà đi ngược lại với quyền lợi của
họ. Như vậy, hình thức tái bảo hiểm bắt buộc là thỏa ước ràng buộc các
Trang 8
Môn học: Nguyên lý và thực hành bảo hiểm Đề tài số 05
bên với nhau một cách chặt chẽ hơn là những dịch vụ bảo hiểm nhượng
theo hình thức tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn.
Mang tính chất toàn diện, bao gồm tất cả các loại nghiệp vụ. Mọi
nghiệp vụ tổ chức nhượng tái bảo hiểm nhận tái bảo hiểm trực tiếp từ
những người tham gia bảo hiểm đều có thể thu xếp chào tái bằng một hợp
đồng tái bảo hiểm cố định.
Hợp đồng mang tính chất lâu dài, thời hạn có thể là một năm hoặc là
vô hạn định.
Cả hai bên đều có quyền từ bỏ hợp đồng khi có vấn đề nhưng phải
được thông báo trước ít nhất là 30 ngày.
1.4.3. Tái bảo hiểm mở sẵn hay dự ước
Đây là loại tái bảo hiểm kết hợp giữa tái bảo hiểm tạm thời với tái
bảo hiểm cố định.
Đặc điểm:
Tổ chức nhượng tái bảo hiểm có quyền lựa chọn tùy ý tái bảo hiểm
theo phương thức nào nhưng tổ chức nhận tái bảo hiểm bắt buộc nhận
mọi dịch vụ mà tổ chức nhượng tái bảo hiểm chuyển giao.
Tái bảo hiểm mở sẵn không được áp dụng cho mọi nghiệp vụ tổ
chức nhượng nhận bảo hiểm mà chỉ áp dụng cho một loại nghiệp vụ đặc
biệt. Kỳ hạn của hợp đồng tái bảo hiểm mở sẵn không nhất thiết phải
trùng với kỳ hạn của hợp đồng gốc.
1.5. Các phương thức tái bảo hiểm
1.5.1. Tái bảo hiểm tỷ lệ
a) Định nghĩa
thường dạng này được sử dụng khi khối lượng dịch vụ gồm nhiều rủi ro
có những số tiền rất chênh lệch được bảo hiểm. Dạng tái bảo hiểm này
giúp công ty nhượng có được sự bù đắp cần thiết cho những rủi ro mà họ
nhận bảo hiểm. Với dạng tái bảo hiểm này, công ty nhượng đảm bảo được
sự cân bằng trong kinh doanh và có thể nhận bảo hiểm cho những rủi ro
có giá trị lớn hơn khả năng tài chính của mình. Tái bảo hiểm mức dôi còn
có ưu điểm là công ty nhượng có điều kiện giữ lại một khối lượng kim
ngạch bảo hiểm lớn và do đó có mức phí thu nhập lớn không cần phải tái
bảo hiểm. Trong dạng tái bảo hiểm này, công ty nhượng chỉ phải đem tái
bảo hiểm những đơn vị rủi ro mà có giá trị bảo hiểm vượt quá khả năng
giữ lại đã ấn định và mức tái bảo hiểm chỉ là phần chênh lệch giữa giá trị
của rủi ro đó và MGL của công ty nhượng.
1.5.2. Tái bảo hiểm không tỷ lệ (proportional reinsurance)
a) Định nghĩa
Phương thức tái bảo hiểm không tỷ lệ là phương thức tái bảo hiểm
mà việc phân chia trách nhiệm giữa tổ chức nhượng tái bảo hiểm và nhận
tái bảo hiểm được dựa trên cơ sở số tiền bồi thường tổn thất.
b) Phân loại
Phương thức tái bảo hiểm này bao gồm hai phương thức cụ thể:
Tái bảo hiểm vượt mức tổn thất: Theo phương thức này tổ chức
nhượng tái bảo hiểm giữ lại cho mình một số tiền bồi thường nhất định.
Phần thiệt hại vượt quá số tiền giữ lại đó sẽ được chuyển cho các tổ chức
nhận tái bảo hiểm. Việc phân chia trách nhiệm giữa công ty nhượng tái
bảo hiểm và tổ chức nhận tái bảo hiểm giống như việc phân chia trách
nhiệm trong phương thức tái bảo hiểm thặng dư, chỉ khác ở chỗ tái bảo
Trang 10
Môn học: Nguyên lý và thực hành bảo hiểm Đề tài số 05
hiểm thặng dư dựa vào số tiền bảo hiểm, còn tái bảo hiểm vượt mức bồi
thường dựa vào số tiền bồi thường.
Trách nhiệm của tổ chức nhận tái bảo hiểm được xếp theo các lớp.
động tái bảo hiểm sẽ giúp doanh nghiệp có khả năng nhận các hợp
đồng có giá trị lớn, đảm bảo doanh thu cho doanh nghiệp, đồng
thời tránh tình trạng từ chối các hợp đồng có lợi do năng lực tài
chính không đảm bảo.
• Tái bảo hiểm đảm bảo khả năng chỉ trả các thiệt hại lớn, đồng loạt
đòi hỏi phí bồi thường cao. Điều này giúp các doanh nghiệp nhỏ
không bị phá sản…
2.1 Tình hình thị trường tái bảo hiểm Việt Nam
Kể từ khi quy định các doanh nghiệp buộc phải tái ít nhất 20% qua
Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Việt Nam (Vinare) bị bãi bỏ đã khiến
cho lĩnh vực này trở nên cạnh tranh hơn. Không chỉ nhận/nhượng tái
trong nước, một số doanh nghiệp bảo hiểm đã mạnh dạn nhận/nhượng tái
từ thị trường bảo hiểm nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ đang tích cực tăng vốn với mục tiêu nâng tỷ lệ giữ lại và mở
rộng họat động kinh doanh tái bảo hiểm. Tuy nhiên, hoạt động này cũng
đặt ra không ít vấn đề cần chấn chỉnh kịp thời.
Theo số liệu từ Bộ Tài chính, năm 2009, phí bảo hiểm giữ lại của thị
trường bảo hiểm phi nhân thọ là 9.366 tỷ đồng, chiếm 68,5% phí bảo
hiểm gốc, tăng 1,5% so với tỷ lệ phí bảo hiểm giữ lại năm 2008. Phí
nhượng tái toàn thị trường năm 2009 đạt 4.302 tỷ đồng, trong đó phí tái
trong nước khoảng 1.937 tỷ đồng và phần lớn được tái qua Vinare.
Theo đánh giá của Vinare, sở dĩ hoạt động tái bảo hiểm năm 2009
sôi động là do kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng khá tốt (5,32%), cho dù
khủng hoảng kinh tế thế giới chưa chấm dứt. Đây là cơ sở để thị trường
bảo hiểm tiếp tục phát triển mạnh mẽ (phi nhân thọ tăng 21%). Bên cạnh
đó, các doanh nghiệp bảo hiểm đã linh hoạt hơn trong việc tái bảo hiểm
trên cơ sở phân tích đánh giá rủi ro các mảng nghiệp vụ. Sau đây là bảng
số liệu về tình hình tái bảo hiểm ở các công ty bảo hiểm Việt Nam trong
năm 2009.
Trang 12
Insurance of good transported 953,095 94,201 11,836
3 BH hàng không/Aviation Insurance 435,192 17,069 4,130
4 BH xe cơ giới/ Motor Vehicle Insurance 4,375,229 30,778 1,788
5
Bảo hiểm cháy nổ và mọi rủi ro tài
sản/Fire,Explosion
and property all risk Insurance. 1,164,542 126,935 70,449
5.1 BH cháy nổ/Fire and Explosion Insurance 181,534 2,223
5.2 BH mọi rủi ro tài sản khác 983,008 124,712 70,449
6
BH gián đoạn kinh doanh/Business
Interruption
Insurance 25,303 4,281 1,074
7
BH thân tàu và TNDS chủ tàu/ Hull and
P&I Insurance 1,544,809 222,952 24,075
8
BH trách nhiệm chung/Public liability
insurance 314,291 26,932 2,887
9 BH nông nghiệp /Agricultural insurance 1,701
10
BH tín dụng và rủi ro tài chính/Credit &
financial risk
insurance 7,590 1,098
11
BH tài sản và thiệt hại/Property &
Casualty Insurance 2,861,873 286,546 62,260
Bao gồm/Including
11.1 BH XDLĐ/Car & EAR insurance 1,572,407 202,850 17,228
11.2
cũng lựa chọn các công ty tái bảo hiểm có uy tín trên thị trường quốc tế
đạt tiêu chuẩn xếp hạng BBB trở lên (theo quy định của Luật Kinh doanh
bảo hiểm) như Munich Re, Swiss Re. Chính đặc trưng này đã nâng cao
hiệu quả hoạt động của hoạt động tái bảo hiểm tại Việt Nam.
Tuy nhiên, hiện có không ít thách thức có thể ảnh hưởng đến hiệu
quả của nghiệp vụ tái bảo hiểm. Do ảnh hưởng của khủng hoảng toàn
cầu, nhà nhận tái bảo hiểm sẽ thận trọng, thắt chặt điều kiện và thu phí
cao hơn. Khó khăn trong việc thu xếp tái bảo hiểm do cạnh tranh về phí,
điều kiện bảo hiểm trong nước, về dịch vụ với nhà tái bảo hiểm và môi
giới nước ngoài. Trong khi đó, xu hướng tổn thất tiếp tục gia tăng làm
giảm lợi tức nghiệp vụ, môi trường đầu tư tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Ngoài các nguyên nhân khách quan còn có nguyên nhân từ chính các
doanh nghiệp bảo hiểm làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của
hoạt động tái bảo hiểm. Năm 2010 được xác định là năm cạnh tranh quyết
liệt ở tất cả các dịch vụ bảo hiểm, trong đó có tái bảo hiểm. Hiệu quả kinh
doanh bảo hiểm là vấn đề đáng lo ngại (chi phí, tỷ lệ bồi thường tăng, phí
bảo hiểm giảm và điều kiện bảo hiểm mở rộng) khi các doanh nghiệp đẩy
mạnh doanh thu phí, mở rộng điều kiện bảo hiểm. Việc giảm phí dẫn đến
tình trạng các doanh nghiệp bảo hiểm khó chuyển tái bảo hiểm ra nước
ngoài, các doanh nghiệp trong nước chia sẻ dịch vụ với điều kiện và phí
bảo hiểm không thuận lợi hơn so với chuyển tái bảo hiểm ra nước ngoài.
Bên cạnh đó, mức giữ lại trên một đơn vị rủi ro của một số doanh nghiệp
vượt quá quy định (10% nguồn vốn chủ sở hữu). Vẫn có doanh nghiệp
bảo hiểm không xây dựng chương trình tái bảo hiểm và xem xét, đánh
Trang 15
Môn học: Nguyên lý và thực hành bảo hiểm Đề tài số 05
giá, điều chỉnh chương trình tái bảo hiểm định kỳ hàng năm, không ban
hành quy trình, hướng dẫn nội bộ về tái bảo hiểm theo quy định.
Hiện nay, có một số công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm trên mức
được giữ lại và thực hiện tái lại phần giữ lại vượt mức (Retrosession) cho
Son, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Cục xe máy Trong lĩnh vực quốc
phòng, bên cạnh các sản phẩm thông thường, Công ty đã nghiên cứu và
cung cấp một số sản phẩm mang tính đặc thù cho lực lượng vũ trang như
sản phẩm “ Bảo hiểm tai nạn quân nhân”.
Trang 16
Môn học: Nguyên lý và thực hành bảo hiểm Đề tài số 05
So với các “đại gia” trong làng bảo hiểm phi nhân thọ, MIC còn khá non
trẻ với hơn 2 năm hoạt động, nhưng tình hình hoạt động kinh doanh của
công ty lại khá khả quan.
Doanh thu và lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2008-2009:
(Đvt: VNĐ) Năm 2008 Năm 2009
Tổng doanh thu 223.146.946.977 204.720.264.500
Lợi nhuận sau
thuế
573.919.851 36.909.768.890
(Nguồn www.mic.vn)
2.3.2 Tầm quan trọng của hoạt động tái bảo hiểm đối với công
ty.
Để minh họa ta lấy sự kiện ngày 9/4/2010 MIC ký hợp đồng bảo
hiểm công trình xây dựng và ban quản lý dự án giao thông Bắc Cạn bảo
hiểm cho 24 gói thầu : từ gói thầu số 15 đến gói thầu số 38 thuộc dự án
cải tạo, nâng cấp quốc lộ 3B đoạn Xuất Hóa- cửa khẩu Pô Mã (đoạn
tuyến thuộc địa phận Bắc Cạn. Giá trị tham gia bảo hiểm hơn 1.255 tỷ
VNĐ. Với giá trị hợp đồng bảo hiểm lớn như vậy, để đảm bảo an toàn tài
chính MIC đã ký hợp đồng nhượng tái bảo hiểm cho các nhà nhận tái bảo
hiểm uy tín hàng đầu thế giới, có hệ số tín nhiệm cao như Munich Re
(Đức), CCR (Pháp), Asia Capital Re…
Việc nhượng tái bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm khác đã giúp cho
MIC tăng năng lực tài chính để chấp nhận các dịch vụ với số tiền bảo
hiểm lớn gấp nhiều lần so với khả năng tài chính của công ty thay vì từ
Phí thu được vào lúc ký kết hợp đồng, nhưng những thiệt hại lại xảy
ra sau này nên công ty có thể đầu tư vốn của mình. Tuy nhiên, việc
đầu tư vốn vào các tài sản tài chính như tín phiếu, cổ phiếu, bất động
sản…rất khó luân chuyển nhanh. Nhờ có tái bảo hiểm, MIC có thể
giữ lại khoản tiền lớn hơn nhiều để đầu tư, tăng doanh thu hoạt động
tài chính cho công ty, là phần chiếm không nhỏ trong tỷ trọng doanh
Trang 18
Môn học: Nguyên lý và thực hành bảo hiểm Đề tài số 05
thu toàn công ty (chiếm 22% tổng doanh thu toàn công ty năm
2008).
(Đvt: tỷ VNĐ) Năm 2008 Năm 2009
Doanh thu hoạt
động tài chính
48.407.560.951 -
Tổng doanh thu 223.146.946.977 204.720.264.500
(Nguồn: www.mic.vn)
Thực tế trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam hiện nay, chỉ
có khoảng 50% doanh nghiệp có lãi từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm
gốc, các doanh nghiệp còn lại hầu như chỉ lấy thu nhập từ hoạt động đầu
tư bù lỗ cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Nhất là ở các công ty nhỏ
mới thành lập, để đáp ứng yêu cầu chiếm lĩnh thị phần và có được nguồn
khách hàng ban đầu, một số doanh nghiệp buộc phải lựa chọn biện pháp
cạnh tranh bằng cách hạ phí. Các doanh nghiệp bảo hiểm tự cắt đi các
phần chi phí hoạt động của mình và coi như không có lợi nhuận. Họ đơn
giản chỉ nhằm giành được hợp đồng, có doanh thu.
Ngoài việc trao đổi dịch vụ với thị trường bảo hiểm trong nước, MIC đã
xúc tiến nhận tái bảo hiểm từ thị trường nước ngoài nhằm mở rộng thị
trường và khẳng định sự hiện diện của công ty trên thị trường bảo hiểm
thế giới, nâng cao uy tín của công ty. Điều này mang đến sự ủng hộ tài
chính cho MIC do việc nhận hoa hồng tái bảo hiểm cao hơn chi phí thu
Tóm lại, tái bảo hiểm một mặt tăng khả năng tài chính còn giới hạn
cho các công ty nhỏ, mặt khác nâng cao uy tín, tăng khả năng cạnh tranh,
cân đối doanh thu-chi phí, cân đối ngoại tệ giúp cho các công ty bảo hiểm
nhỏ mới thành lập như MIC tồn tại và phát triển trong thị trường bảo
hiểm còn khá non trẻ đầy cạnh tranh như Việt Nam.
Trang 20
Môn học: Nguyên lý và thực hành bảo hiểm Đề tài số 05
3.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỊ TRƯỜNG TÁI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỊ TRƯỜNG TÁIBẢO HIỂM VIỆT NAM.
BẢO HIỂM VIỆT NAM.
Nhà nước cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát và giám sát hoạt động kinh
doanh bảo hiểm và các hoạt động tài chính có liên quan. Phát hiện và kịp
thời ngăn chặn từ xa sự đổ vỡ có tính dây chuyền giữa các ngành bảo
hiểm - ngân hàng - chứng khoán - kinh doanh bất động sản. Bởi lẽ, mỗi
ngành cũng như sự liên kết giữa các ngành này luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro
không lường trước được.
Tiếp tục hoàn thiện và ban hành mới các văn bản pháp luật về kinh doanh
bảo hiểm, tạo khung pháp lý minh bạch để thị trường tái bảo hiểm phát
triển lành mạnh, an toàn và ổn định, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là Luật
sửa đổi, bổ sung Luật kinh doanh bảo hiểm. Đưa ra mức phí tối thiểu,
doanh nghiệp sẽ không thể hạ thấp hơn thế, một mặt đảm bảo doanh
nghiệp không bị phá sản, mặt khác đảm bảo quyền lợi khách hàng; yêu
cầu lập quỹ dự phòng bảo hiểm để đảm bảo quyền lợi khách hàng.
Tăng cường công tác thông tin, cảnh báo kinh tế và quan hệ công chúng.
Thường xuyên cập nhật thông tin trong và ngoài nước liên quan đến lĩnh
vực bảo hiểm và tái bảo hiểm, liên quan đến các tập đoàn, các doanh
trường hợp xảy ra tổn thất lớn; bên cạnh đó, còn có xu hướng các dịch vụ
xấu được chuyển tái bảo hiểm cho thị trường trong nước với điều kiện
bảo hiểm và giá không thuận lợi hơn so với chuyển tái bảo hiểm ra nước
ngoài ngày càng phổ biến… nhưng không thể phủ nhận vai trò của tái bảo
hiểm đối với sự tồn tại và phát triển của các công ty bảo hiểm, nhất là
những công ty nhỏ mới thành lập.
Do vậy, chúng ta cần phải nâng cao trình độ của bộ phận tái bảo
hiểm và mở rộng hiểu biết thị trường nước ngoài, trước hết là thị trường
châu Á, để có thể tự tin nhận tái bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm nước
ngoài. Cũng phải nghĩ đến việc mở các chi nhánh ở nước ngoài để dàn
mỏng rủi ro, tăng thu nhập và cân đối ngoại tệ. Để làm được việc này, cần
phải sắp xếp, sáp nhập các doanh nghiệp bảo hiểm để tăng chất lượng cán
bộ bảo hiểm, tăng vốn và có chiến lược kinh doanh rõ ràng. Có thể thành
lập thêm một vài công ty tái bảo hiểm để nhận dịch vụ tái từ các công ty
bảo hiểm, tái bảo hiểm nước ngoài, vì các công ty tái bảo hiểm nước
ngoài chỉ tái cho các công ty tái bảo hiểm, họ không tái cho các công ty
bảo hiểm do không kiểm soát được dịch vụ của các đơn vị này.
Trang 22