98 Vai trò kiểm toán độc lập đối với các Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân - Pdf 21

Lời mở đầu
Trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang dần dần từng bớc chuyển nền kinh tế
nớc ta từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản
lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, với một nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, quan hệ sản xuất ngày càng trở nên phức tạp thì đòi hỏi vai trò
quản lý của Nhà nớc cũng phải đổi mới để điều khiển nền kinh tế vĩ mô của đất n-
ớc sao cho hoạt động lành mạnh và không ngừng phát triển.
Qua các kỳ Đại Hội Đảng đã xác định phấn đấu dân giầu, nớc mạnh, xã hội
công bằng văn minh. . . Đó là trách nhiệm và cần có sự cố gắng của toàn Đảng,
toàn dân. Trong khi cả nớc đang chuyển dần vào guồng quay của kinh tế thị trờng,
tìm mọi cách hạn chế tối đa những khuyết tật vốn có của kinh tế thị trờng nhằm đa
đất nớc thoát khỏi cảnh đói nghèo, thì một số các cán bộ có chức có quyền lạm
dụng quyền chức để tham nhũng, chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, nhiều doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ trong nhiều năm liền làm thiệt hại cho Nhà nớc đến hàng
nghìn tỷ đồng mà các cơ quan chức năng không hề hay biết chỉ đến khi mà các
doanh nghiệp này phá sản thì mới hay. Hơn thế nữa chính những lỗ hổng trong các
văn bản đã quy định về chế độ kế toán tài chính cũng là những nguyên nhân để
các con mọt tha hồ hoành hành, đục khoét của cải của nhân dân. Nh vậy phải
chăng vai trò kiểm tra - kiểm soát của Nhà nứơc đã không phát huy hết hiệu lực,
chính những thực trạng đó và nhu cầu phát triển của kinh tế thị trờng đã đặt ra đòi
hỏi cấp bách đó là sự ra đời và phát triển của kiểm toán. Kiểm toán ra đời và đặc
biệt là sự ra đời của kiểm toán độc lập có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh
nghiệp, các Nhà đầu t trong mọi thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân và
đặc biệt là sự phát triển của nền kinh tế đất nớc.
Với quy mô là đề án môn học nghiên cứu về vấn đề kiểm toán nói chung và
hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng, trong phạm vi bài viết này của em gồm có
3 phần chính.
Phần 1 : Những lý luận chung về kiểm toán và kiểm toán độc lập.
Phần 2 : Vai trò và ý nghĩa của kiểm toán độc lập ở Việt nam đối với các
doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
Phần 3 : Thực trạng và phớng hoàn thiện hệ thống kiểm toán độc lập ở nớc ta.

nghiệp đảm nhiệm đã đợc xác định trong đạo luật về các công ty thơng
mại ngày 24/07/1966, và năm 1960 kiểm toán nội bộ ở Pháp chính thức đ-
ợc thành lập nhằm mở rộng, tăng cờng, ổn định và hiệu quả của các xí
nghiệp. Đến năm 1965 đã thành lập Hội kiểm soát viên nội bộ của Pháp,
sau này trở thành viện nghiên cứu kiểm toán và kiểm soát viên nội bộ
( IFACI) vào năm 1973. Ơ Mỹ sau cuộc khủng hoảng về kinh tế thế giới
(1929-1933), năm 1934 uỷ ban bảo vệ và trao đổi tiền tệ (SEC) đã đợc
thành lập và quy chế kiểm toán viên bên ngoài đã bắt đầu có hiệu lực,
đồng thời trờng đào tạo kế toán viên công chứng (AICPA) đã in ra mẫu
chuẩn đầu tiên về báo cáo kiểm toán Tài khoản của các công ty và đặc biệt
là sự ra đời của văn phòng kế toán trởng (GAO). ở Trung Quốc việc cải
cách mở cửa bên cạnh công tác kiểm tra kiểm soát mạnh mẽ nên đã tạo ra
đơc những thành tựu lớn, kiểm toán Nhà nớc đợc xây dựng từ năm
1983,kiểm toán Độc Lập đợc xây dựng từ năm 1981.. .
Nh vậy có thể nói hầu hết ở các nớc trên thế giới song song với việc
quản lý đều có một hệ thống kiểm tra kiểm soát độc lập ở bên cạnh. Còn
đối với Việt nam chúng ta từ những năm 1945 Bác Hồ đã ký Sắc lệnh tổ
chức thanh tra đặc biệt (SL 64/SL ngày 23/11/1945) tiếp theo đó là sắc
lệnh 57 ngày 04/06/1946 quy định tổ chức bộ máy cán bộ trong đó lập ra
các nha thanh tra , sắc lệnh số 76/SL ngày 25/08/1946 về tổ chức bộ máy
Tài chính và nha thanh tra Tài chính thuộc Bộ. Giai đoạn này Đất Nớc
đang đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá
tập trung với các thành phần kinh tế trong đó kinh tế Quốc Doanh là chủ
yếu thì các biện pháp đó là phù hợp. Nhng chuyển sang cơ chế thị trờng
(1986) xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp dới sự quản lý của Nhà
nớc làm xuất hiện nhiều thành phần kinh tế mới với các mối quan hệ đa
dạng và phức tạp thì hệ thống thanh tra kiểm tra kiểm soát cũng phải thay
đổi để phù hợp trong điêù kiện mới và đặc biệt với sự ra đời của các công
ty kiểm toán độc lập, cơ quan kiểm toán Nhà nớc, và gần đây đó là sự ra
đời của kiểm toán nội bộ đã chứng tỏ kiểm toán ở Việt nam đang từng b-

đơn vị, kiểm tra tính trung thực của các thông tin và tính pháp lý của việc
thực hiện các nghiệp vụ. Mặt khác Nhà nớc có thể sử dụng kết quả kiểm tra
của các chuyên gia hoặc các tổ chức kiểm tra độc lập để thực hiện điều tiết
vĩ mô qua các chính sách của mình hoặc tham gia đầu t hay với cơng vị là
khách hàng của đơn vị. Đối với các đơn vị cơ sơ để đảm bảo hiệu quả
hoạt động thì cơ sở đều phải tự kiểm tra mọi hoạt động của mình trong tất
cả các khâu: Rà soát các tiềm lực, xem xét lại các dự báo, các mục tiêu và
định mức, đối chiếu và truy tìm các thông số về sự kết hợp soát xét lại các
thông tin thực hiện để điều chỉnh kịp thời trên quan điểm bảo đảm hiệu
năng của mọi nguồn lực và hiệu quả kinh tế cuối cùng cuả các hoạt động.
Nh vậy :
- Kiểm tra gắn liền với quản lý, đồng thời gắn liền với mọi hoạt
động ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm tra
- Quản lý gắn với cơ chế kinh tế, với điều kiện xã hội cụ thể . . .
Khi các điều kiện tiền đề thay đổi thì hoạt động kiểm tra cũng thay đổi
theo
- Kiểm tra nảy sinh và phát triển từ chính nhu cầu quản lý. Khi
nhu cầu kiểm tra cha nhiều, cha phức tạp, kiểm tra đợc thực hiện đồng
thời với các chức năng quản lý khác trên cùng một bộ máy thống nhất và
khi nhu cầu thay đổi tới mức độ cao, kiểm tra cũng cần đợc tách ra thành
một hoạt động độc lập và đợc thực hiện bằng một hệ thống chuyên môn
độc lập
B : Bản chất của kiểm toán.
Kiểm toán đó là một lĩnh vực còn mới mẻ do vây việc nêu ra kiểm toán
là gì còn là một vấn đề phải bàn luận. Đã có nhiều quan điểm về kiểm
toán chẳng hạn có 3 quan điểm sau:
Quan điểm 1: Quan điểm về kiểm toán của Vơng Quốc Anh.
Kiểm toán đó là một sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những
bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên đợc bổ nhiệm
để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định

đó.
Lĩnh vực 2: Kiểm toán quy tắc hớng vào việc đánh giá tình hình thực
hiện các thể lệ, chế độ, luật pháp ở đơn vị đợc kiểm toán trong quá trình
hoạt động.
Lĩnh vực 3: Kiểm toán hiệu quả có đối tợng trực tiếp là sự kết hợp giữa
các yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh : mua,
bán, sản xuất hay dịch vụ. . . Giúp ích trực tiếp cho việc hoạch định chính
sách và phơng hớng, giải pháp cho việc hoàn thiện hay cải tổ hoạt động
kinh doanh của đơn vị đợc kiểm toán.
Nh vậy quan điểm hiện đại đã khắc phục đợc các yếu điểm của 2
quan điểm trên đó là không chỉ giới hạn ở các bản khai Tài chính, các Tài
liệu kế toán mà còn đi sâu vào các lĩnh vực khác
C. Chức năng của kiểm toán.
Kiểm toán có 2 chức năng cơ bản đó là chức năng xác minh và chức
năng bày tỏ ý kiến, đây là 2 chức năng quan trọng để đa ra những ý kiến
thuyết phục, tạo niềm tin cho những ngời quan tâm vào những kết luận
của kiểm toán cho dù là kiểm toán hớng vào lĩnh vực nào trong 4 lĩnh vực
chủ yếu trên.

Chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài
liệu và tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bản
khai tài chính. . . xem có tuân thủ theo chế độ tài chính hiện hành hay
không .
Theo thông lệ Quốc tế thì chức năng xác minh đợc cụ thể hoá thành các
mục tiêu và tuỳ thuộc vào đối tợng hay loại hình kiểm toán mà mục tiêu
có thể khác nhau : VD có 6 mục tiêu về kiểm toán bản khai tài chính :
1.
Xác minh tính hiệu lực
2.
Xác minh tính trọn vẹn

chung theo chức năng và chủ thể kiểm toán. Ra đời do yêu cầu cung cấp
thông tin tin cậy của nền kinh tế thị trờng đòi hỏi qua quá trình phát triển
của nền kinh tế nói chung, kiểm toán độc lập đợc tách ra và phát triển
mạnh mẽ cùng với sự phát triển của kinh tế thị trờng. Nền kinh tế thị tr-
ờng đòi hỏi các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế muốn quản lý
và điều hành sản xuất kinh doanh cần phải có thông tin chính xác, kịp thời
và tin cậy. Để đáp ứng đợc yêu cầu đó, đòi hỏi phải có một bên thứ 3 độc
lập khách quan có trình độ chuyên môn cao, dợc pháp luật

cho phép, cung
cấp thông tin tin cậy cho các đối tợng quan tâm. Vì vậy nó đã hình thành
nên loại kiểm toán độc lập này. Luật pháp nhiều Quốc gia quy định chỉ có
các báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán độc lập mới có giá trị pháp lý và
độ tin cậy
.
Hơn thế nữa kiểm toán độc lập đó là một hoạt động đặc trng của kinh
tế thị trờng đó là các tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và t vấn theo
yêu cầu của khách hàng, khi kinh tế thị trờng phát triển thì các mối quan
hệ giữa các tổ chức kinh doanh ngày càng nhiều và tính cạnh tranh ngày
càng cao giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải quản
lý tốt, để quản lý đợc tốt thì thông tin trung thực cũng góp phần quan
trọng. . . Do vậy kiểm toán độc lập ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của nền
kinh tế, cụ thể là các tổ chức các, đơn vị kinh doanh. ở các nớc trên thế
giới, đặc biệt là các nớc có nền kinh tế sớm phát triển thì kiểm toán độc
lập đợc ra đời sớm. Ngày nay trên thế giới quy mô và chất lợng của các tổ
chức kiểm toán độc lập ngày càng lớn mạnh, điều đó đợc thể hiện qua các
tổ chức kiểm toán độc lập điển hình sau.
1. Công ty kiểm toán Deloitte Touche Tohmastu (DTTI)
2. Đây là một công ty trong 6 công ty kiểm toán lớn nhất Thế giới, hiện có
khoảng 600 văn phòng trên thế giới, cung cấp các dịch vụ kế toán, kiểm

t vấn nh mọi công ty kiểm toán quốc tế lớn khác.
AA vào Việt nam từ tháng 05/1991 thông qua chi nhánh Philippin và
Thái lan, công ty giúp Việt nam đào tạo các khoá về đào tạo kiểm toán
và kế toán. Kết hợp với thực hiện một số dịch vụ chuyên ngành ở Việt
nam. Tháng 08/1995 AA đợc phép thành lập chi nhánh ở Việt nam có tên
Công ty trách nhiệm hữu hạn Arthur Andersen Việt nam.
4. Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC).
IFAC đợc thành lập từ năm 1977 có khoảng 100 tổ chức thành viên với
mục tiêu là phát triển và tăng cờng sự phối hợp nghiệp vụ kế toán và kiểm
toán độc lập trên phạm vi toàn thế giới với những nguyên tắc và chuẩn mực
phổ biến, tiến dần thành thông lệ của hầu hết các nớc trên thế giới, đáp
ứng đợc yêu cầu của các chính phủ, các doanh nghiệp, các Nhà tín dụng,
các cổ đông cũng nh đáp ứng mối quan tâm của công chúng trên thế giới.
Mục tiêu của IFAC là thúc đẩy các nớc trên thế giới tiến dần đến sự thống
nhất và hoà hợp với xu hớng phát triển của nền kinh tế thế giới với các tập
đoàn xuyên quốc gia, toàn cầu.
Qua trên ta thấy đợc hoạt động kiểm toán độc lập của các tổ chức
kiểm toán độc trên thế giới ngày càng lớn mạnh và phát triển không
ngừng với mục tiêu là kết hợp rộng rãi giữa các quốc gia trên thế giới để
trao đổi, bồi dỡng kinh nghiệm về kế toán, kiểm toán và t vấn. Các tổ
chức trên cũng có các chi nhánh ở Việt nam. Còn ở Việt nam chúng ta
kiểm toán độc lập ra đời muộn so với các nớc trên thế giới, băng sự ra
đời của các tổ chức kiểm toán độc lập.
Ngày 13/05/1991 công ty kiểm toán Việt nam (VACO) chính thức đợc
thành lập và một loạt các tổ chức kiểm toán độc lập khác nh : Công ty
dịch vụ kế toán, kiểm toán và t vấn Tài chính (AASC), công ty t vấn và
kiểm toán (A and C), công ty kiểm toán đà nẵng (ĐAC), công ty kiểm
toán và dịch vụ tin học (ATSC), công ty kiểm toán Hạ long (HAACO).
Các công ty 100% vốn nớc ngoài gồm :Cong ty Ernst and Young (E and
Y), KPMG Peat Marwick Việt nam, Price waterhouse Việt nam (PW),

thiết để tập trung phân bổ đồng vốn một cách phù hợp với quy luật và đạt
hiệu quả kinh tế cao nhất để lành mạnh hoá và ổn định thị trờng. Hơn thế
nữa Nhà nớc dạ vào kết quả của kiểm toán độc lập để đề ra các chính sách
vĩ mô điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Đặc biệt trong thời gian gần đây các
doanh nghiệp trong nuớc làm ăn thua lỗ không phải là ít bên cạnh đó là
việc tham nhũng của các cán bộ có chức có quyền ,móc ngoặc với nhau để
chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa ,tài sản của nhân dân điển hình là các
vụ án nh Nhà máy dệt Nam Định và gần đây là vụ án Minh phụng
EFCO, Tân Trờng Xanh. . . đã làm thiệt hại cho nhà nớc hàng nghìn tỷ
đồng. Những vấn đề đó cũng là do các cỏ quan quản lý của nhà nớc lỏng
lẻo trong kiểm tra kiểm soát ,do vậy hoạt động kiểm toán cần phải phát
huy trách nhiệm của mình hơn nữa để giúp nhà nuớc ngăn chặn những
thiệt hại không đáng có.
Có thể nói kiểm toán độc lập có một vai trò rất quan trọng trong nền
kinh tế thị trờng, điều đó đợc thể hiện thông qua các tổ chức kiểm toán
độc lập trên thế giới ngày một hùng mạnh cả về số lợng các công ty kiểm
toán, các kiểm toán viên độc lập, về chất lợng các cuộc kiểm toán, đặc
biệt phạm vi kiểm toán và t vấn ngày càng đợc mở rộng trong mọi lĩnh vực
và mọi khía cạnh của nền kinh tế, việc kiểm toán độc lập ra đời là một tổ
chức trung gian độc lập khách quan với các bên có liên quan đó là một tất
yếu khách quan và thiết thực đối với sự phát triển kinh tế đất nớc.
Đối với các đơn vị có liên quan thì hoạt động kiểm toán cũng góp
phần quan trọng cho việc quản lý và tổ chức thực hiện. Bởi vì các chủ
doanh nghiệp, ngời có nghĩa vụ và trách nhiệm lập báo cáo tài chính đều
muốn giấu các phần yếu kém và khuyếch chơng kết quả của mình trên bản
báo cáo tài chính đó. Trái lại các cổ đông những ngời quan tâm đến kết
quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp lại đòi hỏi sự trung
thực chính xác của bản báo cáo tài chính, do đó họ cần những thông tin
trung thực và chính xác thông qua kiểm toán độc lập
Bản báo cáo Tài chính của doanh nghiệp đă đợc kiểm toán viên độc

biệt trong kinh tế thị trờng có nhiều ngơig cần quan tâm tới tình hình Tài
chính và sự phản ánh của nó trong Tài liệu kế toán đó là:
- Các cơ quan Nhà nớc cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ
mô nền kinh tế... với mọi thành phần kinh tế, mọi hoạt động xã hội. Do
vậy Nhà nớc phải giám sát chặt chẽ theo đúng pháp luật và có hiệu quả.
- Các Nhà đầu t không chỉ có đầu t trong nớc mà còn có đầu t từ n-
ớc ngoài cần có thông tin tin cậy để có hớng đầu t đúng đắn, để điều hành
sử dụng vốn đầu t và sau đó là sự phân chia kết quả của hoạt động đầu t.
Trong cơ chế thị trờng do tính đa phơng hoá đầu t và đa dạng của các thành
phần kinh tế nên các Nhà đầu t cũng phong phú và đa dạng gồm: Nhà nớc,
t nhân, các đơn vị nớc ngoài, các cổ đông,xã viên. .. Do vậy để thu hút
vốn và các Nhà đầu t nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho họ, xây dựng hợp lý
mọi nguồn vốn đầu t, cần có những thông tin trung thực, khách quan về
tình hình tài chính mà chủ yếu là các bản khai về tài chính, tài sản thu
nhập, các bản thuyết trình kèm theo.
- Các Nhà quản trị doanh nghiệp và các Nhà quản lý khác vì công
việc kinh doanh mà không thể kiểm soát hết hàng ngàn, hàng vạn nghiệp
vụ tài chính, kế toán đã xảy ra trong doanh nghiệp. Các chủ doanh nghiệp
thờng uỷ quyền việc kiểm soát các nghiệp vụ tài chính, kế toán cho ngời
phụ tá hoặc một trong những cổ đông phụ trách, vì thế để biết đuợc một
cách chính xác, trung thực tình hình tài chính, kế toán của mình vào thời
hạn nào đó, các chủ doanh nghiệp đã mời các kiểm toán viên chuyên
nghiệp độc lập có uy tín thực hiện việc kiểm tra và nhận xét bản báo cáo tài
chính của doanh nghiệp mình do ngời phụ trách kế toán lập.
Những nhận xét của kiểm toán viên sẽ giúp cho các chủ doanh
nghiệp kịp thời phát hiện ra những sai sót, lãng phí, vi phạm pháp luật do
cố tình hay vô ý để xử lý kịp thời ngăn ngừa các tổn thất. Điều đó giúp
doanh nghiệp hạn chế đợc những rủi ro, biết phát hiện ra những thế mạnh,
tiềm năng tài chính nội tại đang có trong doanh nghiệp mà chỉ có những
kiểm toán viên với bề dày kinh nghiệm thực tế mới có thể phát hiện ra.

nghiệp, sự quan tâm đến tình hình tài chính của nhau ngày càng tăng hay
nói cách khác ngày càng có nhiều đối tợng quan tâm đến tin tức tài chính
của doanh nghiệp. Nhng không phải tất cả mọi ngời đều tin ngay vào bản
tự báo cáo của doanh nghiệp mà phải có sự kiểm tra độ tin cậy của bản báo
cáo đó. Điều đó dẫn đến nhu cầu về kiểm toán độc lập ngày càng cao và
khách thể của kiểm toán độc lập ngày càng mở rộng. ở Trung Quốc thì
đối tợng bắt buộc phải đợc kiểm toán độc lập xác nhận gồm:
- Tất cả các công ty có vốn đầu t nớc ngoài(Công ty 100% vốn nớc
ngoài, liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh).
- Tất cả các công ty có phát hành cổ phiếu(tham gia thị trờng chứng
khoán) đều phải đợc kiểm toán độc lập xác nhận trên báo cáo tài chính hai
năm liềnvà phải có lãi.
- Các doanh nghiệp Nhà nớc thực hiện t nhân hoá..
Riêng ngân hàng Thợng Hải quy định: Tất cả khách hàng muốn
vay tiền của ngân hàng Thợng Hải đều phải nộp báo cáo tài chính đã đợc
kiểm toán viên xác nhận. Nhng ở Việt nam ta, thông t số 22 quy định
khách thể kiểm toán độc lập gồm:
- Các doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
- Các doanh nghiệp liên doanh giữa các tổ chức trong và ngoài nớc.
- Các hợp tác xã và doanh nghiệp cổ phần.
- Các doanh nghiệp và xí nghiệp t (kể cả các công ty trách nhiệm
hữu hạn).
- Các công trình dự án có nguồn ngân sách từ bên ngoài ngân sách
Nhà nớc.
1.Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
(Gồm các doanh nghiệp giữa các tổ chức trong và ngoài nớc và các
doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài)
Đại hội Đảng 8 đã đề ra là đa đất nớc phát triển theo hớng công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc nhằm tiến nhanh, tiến mạnh, vững
chắc lên Chủ nghĩa xã hội . Do đó để thực hiện đợc những mục tiêu trên

. . Bên cạnh đó thông qua hợp tác liên doanh với nớc ngoài chúng ta còn
học đợc kinh ngiệm quản lý kinh doanh, học tập cách làm thơng mại và
phong cách làm việc trong điều kiện kinh tế thị trờng của các doanh nghiệp
nớc ngoài.
Thực trạng hơn 10 năm qua chúng ta đã đạt đợc những thành tựu hết
sức to lớn đó là không ngừng tăng trởng kinh tế đa đất nớc dần thoát ra
khỏi đói nghèo, đời sống của nhân dân từng bớc đợc cải thiện.. . Mặc dù
trong năm qua khu vực có những biến động, khủng khoảng lớn về kinh tế
nhng tốc độ tăng trởng của Việt nam vẫn đạt 5.6%(năm 1998) cao nhất
trong khu vực Đông Nam á. Có đợc thành tựu đó là nhờ sự lỗ lực của toàn
Đảng, toàn dân ta trong đó cũng có sự đóng góp của các doanh nghiệp Việt
nam có vốn đầu t nớc ngoài. Đặc biệt là nguồn vốn FDI trong 10 năm qua
không chỉ thay đổi về số lợng dự án mà tổng số vốn đầu t và chất lợng đầu
t cũng thay đổi đáng kể. Từ 1988-1990 FDI chỉ dừng lại ở những dự án
vừa và nhỏ với quy mô trung bình 8,5 triệu USD /1dự án. Cuối năm 1990
có khoảng 203 dự án với tổng số vốn 1726 triệu USD. Đến giai đoạn 91-
95 tỷ lệ tăng trung bình là 50 % tuy nhiên do ảnh hởng của khủng khoảng
kinh tế khu vực lên đầu t trực tiếp vào Việt nam bị ảnh hởng và chững lại
có suy giảm nên 1996 tổng FDI là 8,5 tỷ USD tăng 30% so với năm 95 với
độ lớn trung bình của dự án là 26,1 triệu USD thì đến năm 1997 tổng FDI
chỉ còn khoảng 4,4 tỷ với trung bình 13,1 triệu USD/dự án. Năm 1998 có
khoảng 260 dự án với tổng số vốn là 4827,6 triệu USD. Cũng theo số liệu
thống kê năm 1997 các doanh nghiệp có vốn đầu t nuớc ngoài đã tạo ra 7,8
% GDP cha kể xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt-Xô Petro. Tính đến hết
ngày 30/9/1998 có 1052 doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài ở Việt nam.
Những con số trên cho thấy FDI ở Việt nam ngày càng có xu hớng
gia tăng nhng để cho việc đầu t vào nền kinh tế trong nớc đảm bảo và đạt
hiệu quả cao, đôi bên cùng có lợi thì Đảng và Nhà nớc ta cũng đã quy định
về việc áp dụng chế độ kế toán Tài chính vào các doanh nghiệp có vốn đầu
t nớc ngoài đòi hỏi cấp bách đặc biệt là kiểm toán độc lập trong lĩnh vực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status