Nghiên cứu việc triển khai kiểm toán nội bộ đối với các Doanh nghiệp nhà nước - Pdf 63

§Ò ¸n m«n häc Líp KiÓm to¸n 40B
LỜI NÓI ĐẦU
Có thể nói doanh nghiệp là “tế bào” trong “cơ thể” nền kinh tế quốc dân.
ở đó hàng ngày, hàng giờ luôn diễn ra các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo
ra của cải vật chất làm thoả mãn nhu cầu của mỗi cá nhân cũng như của toàn
bộ xã hội. Với tư cách là thành viên chính trong nền kinh tế quốc doanh, các
doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã và đang có vai trò rất quan trọng trong
việc điều tiết và phát triển kinh tế.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình một trong những
yếu tố để các doanh nghiệp nhà nước sử dụng là xây dựng và phát triển hệ
thống kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, hoạt động kiểm
toán nội bộ tạo các doanh nghiệp nhà nước diễn ra không đồng bộ và chưa có
hiệu qủa do trong công tác triển khai còn gặp một số khó khăn nhất định.
Chính vì lý do trên, em đã chọn đề tài: “Nghiên cứu việc triển khai kiểm
toán nội bộ đối với các doanh nghiệp nhà nước” để làm đề án môn học của
mình.
Với đề tài này, em xin chỉ ra những tác dụng, lợi ích mà hệ thống kiểm
toán nội bộ đem lại cho các doanh nghiệp nhà nước đồng thời tìm hiểu và
phân tích những thuận lợi cũng như những khó khăn trong việc triển khai
kiểm toán nội bộ đối với các doanh nghiệp nhà nước hiện nay.
Đề tài của em được chia làm ba phần với các nội dung sau:
Phần I: Triển khai kiểm toán nội bộ – Một phương pháp hữu hiệu để
nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước.
Phần II: Những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai kiểm toán
nội bộ tạo các doanh nghiệp nhà nước.
Phần III: Một số kiến nghị và giải pháp khắc phục.
1
§Ò ¸n m«n häc Líp KiÓm to¸n 40B
PHẦN I. TRIỂN KHAI KIỂM TOÁN NỘI BỘ – MỘT PHƯƠNG PHÁP
HỮU HIỆU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

trách nhiệm về sự trung thực, chính xác của báo cáo đó. Báo cáo tài chính của
doanh nghiệp nhà nước phải được kiểm toán của kiểm toán viên nội bộ hoặc
kiểm toán viên độc lập và chỉ được coi là hợp pháp, hợp lệ khi có đủ chữ ký
của người lập, người kiểm toán, kế toán trưởng, giám đốc và đóng dấu
củadoanh nghiệp. Nếu các báo cáo tài chính không đúng sự thật, không đủ các
chứng cứ hợp pháp hoặc không kịp thời thì người lập và những người ký báo
cáo tài chính phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, mỗi cá nhân, mỗi thành viên trong
doanh nghiệp luôn đặt lợi ích của bản thân mình lên đầu, họ luôn tìm cách
đạt được những lợi ích lớn nhất cho dù để đạt được lợi ích này họ sẽ có những
hành vi sai trái đi ngược lại với những chế độ, quy định của nhà nước cũng
như của doanh nghiệp. Ngoài ra, do những nguyên nhân khác nhau như tính
chất phức tạp của công việc, trình độ năng lực của bản thân mà các thành viên
trong doanh nghiệp có thể những sai sót trong công việc của mình. Tất cả
những điều trên sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Để ngăn ngừa những hành vi sai trái và phát hiện một cách
nhanh chóng kịp thời những sai sót trên thì mỗi doanh nghiệp phải có một hệ
chuyên thực hiện công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của toàn bộ doanh
nghiệp.
Như vậy một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu trong môi trường kiểm
soát nội bộ mạnh là điều kiện cần thiết để ban giám đốc điều khiển, quản lý
kinh doanh một cách có hiệu quả cũng như mang lại sự đảm bảo chắc chắn,
đáng tin cậy cho các quyết định và chế độ quản lý. Kiểm toán nội bộ là một
bộ phận cơ bản và quan trọng trong hệ thống kiểm soát nội bộ, nó cung cấp
những thông tin về giám sát và đánh giá thường xuyên toàn bộ hoạt động của
doanh nghiệp (trong đó có báo cáo tài chính).
Do vậy hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay cũng như
trong tương lai phải luôn gắn liền với hoạt động kiểm toán nội bộ. Kiểm toán
nội bộ có ý nghĩa rất quan trọng và tồn tại một cách tất yếu trong các doanh
nghiệp đặc biệt là trong điều kiện môi trường, đối tác kinh doanh được mở

Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh nhưng lại có nhiều đơn vị trực thuộc tại các tỉnh,
thành phố khác trong cả nước. Khiến cho đôi khi việc nắm bắt tình hình hoạt
động tại các đơn vị thành viên gặp khó khăn do sự xa cách về mặt địa lý. Do
vậy các doanh nghiệp này cần có kiểm toán nội bộ để đánh giá tình hình hiệu
quả, hiệu năng của các đơn vị thành viên để những nhà quản lý doanh nghiệp
có thể nắm bắt và ra những quyết định kịp thời.
4
§Ò ¸n m«n häc Líp KiÓm to¸n 40B
2.3. Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.
Ở những doanh nghiệp có nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh thường
có những sai sót, rủi ro trong quá trình hoạt động bởi vì các nhà quản lý
thường chỉ ra những thủ tục, quy tắc thống nhất cho tất cả các lĩnh vực hoạt
động trong khi đó có thể những quy tắc thủ tục này là chặt chẽ với lĩnh vực
hoạt động này nhưng lại lỏng lẻo, thiếu hiệu quả với lĩnh vực hoạt động khác,
và tại những lĩnh vực hoạt động trên thường tồn tại những sai sót, gian lận mà
các nhà quản lý không phát hiện được. Một bộ phận kiểm toán nội bộ được
thành lập sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra các thủ tục quy trình kiểm soát riêng
cho từng lĩnh vực hoạt động để hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót và
gian lận có thể có.
2.4. Năng lực, trình độ của nhân viên.
Ngay ở những doanh nghiệp có quy mô, phạm vi hoạt động lớn và có
nhiều lĩnh vực hoạt động thì tất cả các thông tin đều có thể tin cậy nếu như
doanh nghiệp có một đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn cao,
tư cách đạo đức tốt. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có đội ngũ
cán bộ nhân viên có đủ những điều kiện trên.
Đối với các doanh nghiệp này thì các thông tin về quá trình hoạt động
luôn ẩn chứa những sai sót rủi ro do trình độ năng lực cũng như đạo đức nghề
nghiệp yếu kém của các nhân viên gây ra. Bộ phận kiểm toán nội bộ trong
quá trình hoạt động có thể phát hiện ra các sai sót và rủi ro này và có những
kiến nghị, giải pháp nhằm ngăn ngừa những sai phạm trên.

thông tin ở bên ngoài doanh nghiệp. Vì vậy đối với doanh nghiệp nhà nước
với chủ sở hữu là nhà nước, kiểm toán nội bộ chịu trách nhiệm trước giám
đốc cũng có nghĩa là chịu trách nhiệm với nhà nước. Vì lẽ này các kiểm toán
viên nội bộ tiến hành kiểm tra báo cáo tài chính giúp ban giám đốc tự chịu
trách nhiệm về tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính đối với nhà nước
như quy định trong Nghị định 59/CP và thông tư 73/TC/TCDN là hoàn toàn
hợp lý.
Ngoài ra khi xem xét chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ, các đặc
trưng sau đây của kiểm toán nội bộ cần được quán triệt sâu sắc để hướng dẫn
các hành động trong thực tiễn.
Một là: Kiểm toán nội bộ có tính chất bắt buộc và cưỡng chế theo yêu
cầu của ban giám đốc đối với các đơn vị, các hoạt động thuộc quyền. Kiểm
toán nội bộ có thẩm quyền kiểm tra đối với các hoạt động của đơn vị chính
6
§Ò ¸n m«n häc Líp KiÓm to¸n 40B
cũng như đơn vị phụ thuộc. Thẩm quyền này không chỉ đối với lĩnh vực kế
toán – tài chính mà bao gồm mọi lĩnh vực trong hoạt động của doanh nghiệp.
Đây là tiêu chí cơ bản để nói rằng kiểm toán nội bộ khác với kiểm tra kế toán
nội bộ hay nói cách khác kiểm toán nội bộ có phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều
so với kiểm tra kế toán nội bộ.
Hai là: Theo yêu cầu quản lý của ban giám đốc, kiểm toán nội bộ là hoạt
động không thu phí đối với các đơn vị, bộ phận trực thuộc được kiểm toán.
Ba là: Cũng giống như kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ có mục
đích lớn là thông qua kiểm toán để cải tiến và hoàn thiện các hoạt động ở
doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu quả sử dụng vốn
và hiệu quả sản xuất kinh doanh, khắc phục những khâu yếu, giúp ban giám
đốc phát hiện, ngăn chặn và xử lý các gian lận, sai sót trong hoạt động của
doanh nghiệp.
Bốn là: Tuy kiểm toán nội bộ được tổ chức độc lập với những bộ phận
được kiểm tra nhưng kiểm toán nội bộ là một bộ phận của đơn vị, không thể

- Khi phát hiện có hiện tượng vi phạm pháp luật hoặc những quyết định
trái với chủ trương, chính sách chế độ của doanh nghiệp phải có trách nhiệm
báo cáo các cấp có thẩm quyền đồng thời nghiên cứu đưa ra các giải pháp để
giải quyết kịp thời.
b. Nhóm trưởng kiểm toán
Nhóm trưởng kiểm toán là cấp trên của các kiểm toán viên thường có
nhiệm vụ trợ lý, giám sát quá trình tiến hành các cuộc kiểm toán, lãnh đạo
một nhóm các nhân viên kiểm toán, xem xét lại công việc của các thành viên
trong nhóm, là người giữ liên lạc giữa bộ phận được kiểm toán và bộ phận
kiểm toán, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm toán.
c. Kiểm toán viên nội bộ.
Các kiểm toán viên nội bộ là những thành viên không thể thiếu trong bộ
phận kiểm toán. Theo quy định tại QĐ 832/TC/CĐKT ngày 28 tháng 10 năm
1997 của Bộ tài chính, người được bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ làm kiểm
toán viên nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nước phải có đủ các tiêu chuẩn sau:
8
§Ò ¸n m«n häc Líp KiÓm to¸n 40B
Một là: có phẩm chất trung thực, khách quan chưa có tiền án tiền sự,
chưa bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên do có các sai phạm trong quản lý kinh
tế, tài chính, kế toán.
Hai là: Đã tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế, tài chính kế toán hoặc quản
trị kinh doanh.
Ba là: Đã công tác thực tế trong lĩnh vực quản lý tài chính kế toán từ
năm năm trở lên trong đó có ít nhất ba năm làm việc tại doanh nghiệp nơi
được giao nhiệm vụ kiểm toán viên.
Ban giám đốc có quyền đánh giá và lựa chọn kiểm toán viên nội bộ cho
doanh nghiệp dựa trên phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn của kiểm
toán viên.
Trách nhiệm của kiểm toán viên nội bộ:
- Kiểm toán viên nội bộ thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch kiểm toán đã

trực thuộc ban giám đốc. ở các nước Châu âu trong các công ty lớn, bộ phận
kiểm toán nội bộ trực thuộc uỷ ban kiểm toán hội đồng quản trị. Uỷ ban này
gồm một số thành viên của hội đồng quản trị nhưng không giữ chức vụ hay
đảm nhận một công việc nào trong công ty. Tính chất độc lập giúp cho uỷ ban
kiểm toán thực hiện tốt chức năng giám sát của mình đối với mọi hoạt động
của doanh nghiệp.
Mô hình hoạt động ở các tổng công ty được thành lập theo nghị định 90/
CP và 91/CP của nước ta khác so với các nước trên. Trong mỗi tổng công ty
còn có ban kiểm soát trực thuộc hội đồng quản trị. Ngoài các thành viên
chuyên trách, hội đồng quản trị còn có một số thành viên kiêm nhiệm, trong
bàn soát ngoài trưởng ban kiểm soát thì phần lớn các uỷ viên là thành viên
kiêm nhiệm trong đó có thành viên không thuộc tổng công ty. Với bộ máy
như vậy ban kiểm soát khó lòng thực hiện tốt các nhiệm vụ và trách nhiệm
theo quy định của nhà nước được ban hành theo điều lệ mẫu của tổng công ty
nhà nước. Vì vậy theo em ở các tổng công ty được thành lập theo nghị định
90/CP và 91/CP, bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc hội đồng quản trị
mà trực tiếp là ban kiểm soát.
Dưới đây em xin đưa ra mô hình bộ phận kiểm toán nội bộ tại các doanh
nghiệp nhà nước.
10
§Ò ¸n m«n häc Líp KiÓm to¸n 40B
Ngoài ra để thực hiện một cuộc kiểm toán đạt hiệu quả cao nhất thì việc
xác định số lượng các nhân viên kiểm toán là rất quan trọng, số lượng nhân
viên kiểm toán có thể được xác định qua công thức sau đây:
= ∑ ai x t + b
Trong đó:
+ ai: Thời gian cần thiết để tiến hành kiểm toán một hoạt động hoặc một
bộ phận của doanh nghiệp bao gồm cả thời gian kiểm toán dự tính, thời gian
đi lại (nếu có).
+ t: Tần suất kiểm toán các bộ phận hoặc hoạt động tương ứng/năm.

nội bộ trong các doanh nghiệp nhà nước, có thể coi kiểm toán nội bộ là “chân
rết” của Bộ tài chính để quản lý hệ thống ngay tại các đơn vị cơ sở.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status