MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG THẦN KINH CẤP CAO Ở NGƯỜI:
1. Sự có mặt hệ thống tín hiệu trong hoạt động thần kinh cấp cao ở người:
Hoạt động thần kinh cấp cao ở người có sự khác biệt so với động vật. Điều này
không chỉ do sự phát triển và hoàn thiện liên tục của bộ não cũng như chức năng
của nó trong quá trình tiến hóa của thế giới động vật mà còn do ở loài người xuất
hiện một cơ chế hoạt động mới đó là tiến nói-phương tiện giao tiếp giữa người với
người được hình thành trong quá trình lao động.
Như vậy, ở người trong hoạt động thần kinh cấp cao có sự tham gia của hai hệ
thống tín hiệu: một hệ thống các tín hiệu gồm tất cả những sự vật , những hiện
tượng khách quan và những thuộc tính của chúng được gọi là hệ thống tín hiệu thứ
nhất và một hệ thống khác gồm tiếng nói và chữ viết chỉ có ở người được gọi là hệ
thống tín hiệu thứ hai.
Hệ thống tín hiệu thứ nhất
* Khái niệm
Hệ thống tín hiệu thứ nhất là những tín hiệu xuất phát từ bản thân sự vật hiện
tượng cụ thể, khách quan và tác động trực tiếp vào các giác quan đặc trưng của
người và động vật.Ví dụ: khi nhìn thấy một con bò đang cày ruộng, tức là ta đang
nhìn thấy một con bò cụ thể có kích thước, hình dạng cụ thể (cao, thấp, to, nhỏ),
màu sắc lông cụ thể (đen, đỏ, nâu, ) chứ không phải là một con bò chung chung
nào đó, thậm chí còn có thể biết được chủ sở hữu của con bò đó là ai. Tóm lại, ta
đã tiếp nhận được các thông tin cụ thể, khách quan về con bò qua cả tai nghe
(về tiếng kêu của con bò, tiếng thở khi kéo cày ), mắt nhìn thấy màu sắc của
lông con bò, được nghe kể về tính tình của con bò, thậm chỉ còn có thể sờ vào
lông bò v.v , hay nói nôm na là ta đã trực tiếp tiếp nhận các thông tin một cách
khách quan của một con bò cụ thể mà không có sự can thiệp hay tô vẽ thêm từ
ngoài vào.
* Đặc điểm của hệ thống tín hiệu thứ nhất
- Là tín hiệu của sự vật và hiện tượng: Như vậy đã là hệ thống tín hiệu thứ nhất thì
luôn phải là những kính thích thuộc sự vật hiện tượng tác động vào giác quan của
người và động vật.Ví dụ: Cây chuối, cây dừa, con bò, con chó, trời mưa, máy bay
đang bay v.v
đầu “Ngày xưa có một bác nông dân và một con bò, ” với nội dung trên học sinh
bắt đầu liên tưởng đến một người mặc áo nâu vai vác cày, tay dắt một chú bò lông
mượt, màu nâu, sừng nhọn (hay cong vòng, ) đang đi đến thửa ruộng đầu làng,
Có em có thể tưởng tượng phong phú hơn là một bác nông dân lực lưỡng, mặc
quần xà lỏn, cởi trần, một chú bò sọc trắng đen, có cặp sừng to và dài, mắt đỏ trông
rất dữ tợn vv Như vậy chỉ một vài thông tin mà tùy theo mỗi em, hình ảnh được
tạo ra sẽ không hoàn toàn giống nhau, kết quả tùy thuộc vào trước đó em đã thấy
bác nông dân và con bò cụ thể như thế nào.
* Đặc điểm của hệ thống tín hiệu thứ 2
- Hệ thống tín hiệu hai mang tính khái quát và chung nhất về sự vật và hiện tượng
khách quan.Ví dụ: Khi nghe thầy giáo dạy về quy đinh đi trên đường “nếu có tín
hiệu tiếng còi xe có nghĩa là có xe xin vượt đường, cần phải tránh cho xe qua”,
tiếng còi xe là tín hiệu chung cho mọi xe cơ giới hay thô sơ sử dụng để thông tin
cho người đi đường khi xin vượt đường.
- Hệ thống tín hiệu hai có tính trừu tượng
Do mang tính khái quát, chung nhất nên hệ thông tín hiệu hai cũng mang tính trừu
tượng vì nó không phải là một sự vật hiện tượng nào cụ thể, nhưng lại là nhằm để
gọi tên, sự vật hiện tượng cụ thể, có thể dùng để phân biệt với sự vật hiện tượng
khác.Ví dụ: Khi nói “sáng nay tôi ăn bánh”có nghĩa là người đó đã ăn một loại
thực phẩm chế biến sẵn, được đóng thành bánh, có hình thù cụ thể, chứ không phải
là ăn cơm hay ăn phở v.v
- Hệ thống tín hiệu hai mang tính khách quan và bản chất, nó bao hàm được cả nội
dung và ý nghĩa của sự vật và hiện tượng mà nó biểu thị.Ví dụ: khi nói “cây xanh
có hoa” là người ta đang nói đến một loại sinh vật có những đặc điểm chính như:
có rễ, thân, lá và hoa, thân và lá (đặc biệt là lá) có màu xanh. Màu xanh đó được
tạo ra do diệp lục, là cơ quan quang hợp, có chức năng biến các chất vô cơ thành
chất hữu cơ tính lũy trong cây. Cơ quan có chức năng sinh sản là hoa v.v
- Hệ thống tín hiệu thứ hai chỉ riêng cho loài người và chỉ chung với những người
có cùng ngôn ngữ: vì là ngôn ngữ nên nó chỉ có ở loài người và ta thấy rằng nó chỉ
có thể đóng vai trò tín hiệu kích thích khi mà hiểu được bản chất của nó mà thôi.
Đặc điểm này của tiếng nói rất dễ nhận thấy trong cuộc sống hàng ngày. Ví
dụ, khi ta nói về các loại quả chua trước một số trẻ em, ta sẽ quan sát thấy ở các em
nước bọt được tiết ra giống như khi đưa các loại quả chua vào miệng. Tiếng nói
gây được tác dụng này vì nó có mối liên hệ chặt chẽ với các đối tượng, hiện tượng
nhất định. Các dấu vết của tiếng nói và dấu vết của các sự vật cụ thể được biểu thị
bởi tiếng nói liên kết với nhau trong vỏ não thành một cấu trúc động hình. Do đó,
cũng như kích thích cụ thể, tiếng nói có khả năng gây hưng phấn trong cấu trúc
động hình này. Nhờ khả năng thay thế tác dụng của các kích thích cụ thể của tiếng
nói mà sự phản ảnh hiện thực khách quan trong não được thực hiện không chỉ bằng
con đường vận dụng các cảm giác trực tiếp, mà còn bằng cách vận dụng tiếng nói
nữa. Chính nhờ khả năng này mà trong não người có được khả năng tách rời các sự
vật, hiện tượng khỏi thực tiển, nghĩa là tạo ra cho con người khả năng tư duy trừu
tượng.
Quá trình tư duy trừu tượng giúp cho con người nhận thức được thực tiễn
mà không cần tiếp xúc với nó. Tuy nhiên, nhận thức đó đạt đến mức nào còn phụ
thuộc vào mức độ phản ánh chính xác và đầy đủ thực tiễn khách quan của tiếng
nói. Trong cuộc sống có lúc chúng ta có những nhận thức sai lầm về thực tiễn, vì
thực tiễn đó chỉ được phản ánh bằng tiếng nói. Vì thế để đảm bảo tính chính xác
của các khái niệm, của tiếng nói chúng ta phải lấy thực tiễn làm thước đo, phải
tăng công việc thực hành, phải thường xuyên liên hệ trực tiếp với thế giới khách
quan.
- Tiếng nói có thể tăng cường, ức chế, thay đổi tác dụng của kích thích cụ
thể.
Tiếng nói tăng cường, ức chế, thay đổi tác dụng của kích thích cụ thể
thường quan sát được trong trường hợp não bị thôi miên hay khi con người bị ám
ảnh bởi một ý tưởng nào đó. Ví dụ, ở người bị thôi miên khi ta đưa cho họ xách
một chiếc túi nhẹ, nhưng nói với họ rằng đây là một vật rất nặng. Kết quả là họ
không thể xách được lâu chiếc túi trên tay. Điều này chứng tỏ rằng tiếng nói đã
làm tăng khối lượng của chiếc túi. Ngược lại, đưa cho họ xách một chiếc túi rất
nặng và nói với họ rằng vật này rất nhẹ. Kết quả là người bị thôi miên có thể xách
thế được cho toàn bộ phức hợp kích thích. Tiếng nói đã trở thành tín hiệu có điều
kiện độc lập,có khả năng thay thế cho cả hệ thống tín hiệu cụ thể. Quá trình chuyển
tiếng nói thành kích thích độc lập và giải phóng nó khỏi các yếu tố đồng hành diễn
ra khoảng cuối năm thứ nhất khi trẻ sắp tròn một tuổi .
Bước 4: Ổn định
Cơ chế chuyển tiếng nói thành kích thích độc lập liên quan với sự phối hợp
tiếng nói vói các kích thích cụ thể. Trong quá trình phối hợp tiếng nói thường được
cố định còn các thành phần khác thì biến động ,cho nên hưng phấn do tiếng nói gây
ra dần dần trở nên mạnh hơn , tập trung hơn so với hưng phấn do các kích thích cụ
thể gây ra. Nhờ thế mà tiếng nói bắt đầu gây ảnh hưởng theo kiểu cảm ứng âm tính
đối với các thành phần khác trong phức hợp kích thích. ảnh hưởng của tiếng nói sẽ
tăng dần và cuối cùng làm mất tác dụng của các thành phần khác trong phức hợp
kích thích.
Trong quá trình chuyển tiếng nói thành tín hiệu độc lập, thành tín hiệu của các
tín hiệu cụ thể các cơ quan phân tích cảm giác ( thính giác, thị giác và xúc giác) và
cơ quan phân tích vận động đều đóng vai trò rất quan trọng. Do vậy các trẻ bị
khiếm khuyết chức năng của các cơ quan phân tích, trước hết là chức năng của cơ
quan phân tích thính giác sẽ rất khó khăn trong việc hình thành tiếng nói. Sự hình
thành tiếng nói ở người còn liên quan với sự hoàn thiện chức năng của các vùng võ
não (vùng Wernicke, vùng Broca và vùng đọc ở các bán cầu ưu thế). Các vùng
liên quan với tiếng nói phát triển chức năng rất nhanh trong thời gian từ 1-5 tuổi ,
có lẽ do quá trình in vết của tiếng nói trong các cấu trúc nói trên. Nhờ vậy mà trẻ
em đến 5 tuổi đã thành thạo tiếng mẹ đẽ.
4. Các loại thần kinh:
4.1.Các tiêu chuẩn phân loại:
Loại hình thần kinh được phân biệt dựa trên tính chất các quá trình thần kinh (hưng
phấn và ức chế), cường độ, tương quan và tính linh hoạt của chúng.
- Cường độ các quá trình thần kinh phụ thuộc vào sự hoạt động mạnh hay yếu của
trung ương thần kinh, thể hiện ra bằng 2 quá trình là hưng phấn và ức chế. Có thể
cả hai đều mạnh, có thể chỉ có một trong hai quá trình mạnh và quá trình còn lại
vật thuộc loại này thường có bề ngoài chậm chạp nhưng trông chắc chắn. Những
người thuộc tuýp này có đặc điểm khác với loại mạnh cân bằng linh hoạt là xử lý
tình huống tương đối chậm nhưng chắc chắn, tỷ mỉ và hoàn hảo. Tuy
nhiên họ thường là người bảo thủ, khó thích nghi với thay đổi của môi trường hơn.
- Loại yếu (melancholic):
Là loại hình thần kinh có cả 2 quá trình đều yếu, khó thành lập các phản xạ có điều
kiện. Những người thuộc tuýp này là những người không có khả năng tự
lập, thường phụ thuộc người khác, dễ bị khuất phục khi khó khăn.
4.3.Các loại thần kinh riêng ở người :
Từ thời thượng cổ, Hypocrat bằng kinh nghiệm của mình đã chia loại hình thần
kinh người ra làm 4 loại như sau:
-Loại nhiều máu:Gồm những người dễ tiếp thu kiến thức, hoạt bát, nhanh nhẹn, dễ
thích ứng với hoàn cảnh. Loại này tương tự với loại nhanh nhẹn của Pavlov.
- Loại thản nhiên:Là những người kém linh động, ít thể hiện tình cảm, khi đã hưng
phấn thì khó ức chế và ngược lại. Loại này tương ứng với loại bình thản của
Pavlov.
- Loại nhiều mật: Là những người tương đương với loại hăng của Pavlov:
can đảm, nóng nảy, dám làm mọi việc, nhưng lại dễ chán nản, không kiên trì.
- Loại âu sầu:Là loại tương ứng với loại yếu của Pavlov.Hiện nay người ta thấy
rằng, mặc dù các loại hình thần kinh ở người và động vật có thể tương đương nhau
và chia ra 4 loại cơ bản như trên, nhưng do đặc thù ở người là sự có mặt của 2 hệ
thống tín hiệu, trong đó vai trò của tín hiệu ngôn ngữ hết sức quan trọng, nó tác
động làm thay đổi loại hình theo hướng tồn tại riêng của xã hội loài người, trong
đó theo Pavlov có thể chia loại hình thần kinh người ra làm 3 loại là : loại hình
nghệ sĩ, loại hình tư tưởng và loại hình trung gian.
- Loại hình nghệ sĩ: Biểu hiện rõ nhất là sự hoạt động mạnh của hệ thống tín hiệu
thứ nhất, sự tư duy cụ thể chiếm ưu thế. Loại hình này khả năng tiếp nhận các hành
động, các thao tác cụ thể rất tinh vi và sâu sắc, nhưng khả năng tư duy trừu tượng
có hạn chế hơn. Đây là tuýp của các nhạc sĩ, hoạ sĩ, thi sĩ, diễn viên v.v
- Loại hình tư tưởng: Biểu hiện là khả năng tư duy trừu tượng ở loại hình này phát
dụng kìm hãm hoạt động của cơ thể. Dựa theo mức phức tạp và nội dung người ta
còn chia cảm xúc thành cảm xúc thấp (thô sơ) và cảm xúc cao (phức tạp). Cảm xúc
thấp là những cảm xúc phát sinh trên cơ sở các phản xạ không điều kiện liên quan
với hoạt động của tín hiệu thứ nhất và có tính chất sinh học nhiều hơn so với cảm
xúc cao. Cảm xúc cao xuất hiện trên cơ sở các phản xạ có điều kiện và xây dựng
trên thượng tầng các cảm xúc cấp thấp cùng với sự tích luỹ kinh nghiệm của cá thể
trong cuộc sống. Cảm xúc cao chỉ có ở người, ví dụ ta rung động khi nhìn một bức
tranh, khi nghe một bản nhạc. Do đó, nhiều khi người ta dùng chung một thuật ngữ
để chỉ cả cảm xúc cao lẫn tình cảm, tuy nội dung của chúng có khác nhau.
5.3. Cơ sở sinh lý của cảm xúc
Cảm xúc được gây ra do các kích thích từ môi trường sống tác dụng lên các
thụ cảm thể và do đó, trên các tận cùng của các cơ quan phân tích nằm trong
não bộ. Các quá trình sinh lý đặc trưng phát sinh khi cảm xúc là các phản xạ.
Trung khu của các phản xạ này là vỏ não vùng trán, thông qua các trung khu
thần kinh thực vật, hệ limbic và thể lưới. Hưng phấn từ các trung khu này
truyền theo các dây thần kinh thực vật có tác dụng làm thay đổi chức năng
của các cơ quan bên trong cơ thể, gây ảnh hưởng dinh dưỡng lên hệ cơ xương
và có tác dụng chuyển vào máu các hormon, các chất trung gian hoá học và
các chất được tạo ra trong quá trình chuyển hoá vật chất. Các chất này, đến
lượt lại tác động lên các cơ quan do hệthần kinh thực vật chi phối.Nhiều thí
nghiệm trên động vật và các quan sát trong lâm sàng đã xác nhận vai trò của
não trung gian (đặc biệt là các nhân không đặc hiệu trong đồi thị, thểlưới và
các nhân thuộc vùng dưới đồi), của não giữa, não khứu giác và các nhân
thuộc phức hợp hạnh nhân trong hệ limbic trong việc điều hoà các phản ứng
cảm xúc.Kích thích hay phá huỷcác trung khu trong các cấu trúc nói trên gây
ra các phản ứng như giận dữ, lo lắng, sợ hãi, hài lòng, không hài lòng v.v
Ví dụ, phá huỷphần nằm trước vùng dưới đồi hay kích thích vỏ não thuỳ quả
lê, phức hợp hạnh nhân, hồi cá ngựa quan sát được ở con vật thí nghiệm phản
ứng tấn công, giận dữ. Con vật trở nên hung hăng, mở rộng đồng tử, dựng
lông, dương vuốt, nhe răng, đập đuôi, gầm gừ Kích thích dòng điện vào
6.2. Phân loại trí nhớ :
• Theo sự hình thành trí nhớ :
Dựa vào quá trính hình thành người ta chia trí nhớ thành các loại sau: trí nhớ
hình tượng, trí nhớ vận động, trí nhớ cảm xúc, trí nhớ ngôn ngữ- logic, trí nhớ phản
xạ có điều kiện.
- Trí nhớ hình tượng: Là trí nhớ được hình thành trên cơ sở tiếp nhận các
kích thích thông qua các giác quan, hình thành trên cơ sở những biểu tượng
về sự vật và các đối tượng cụ thể như một con người, một bức tranh, một
âm thanh,mùi, vị nào đó. Tùy theo đối tượng tiếp nhận và cơ quan phân
tích nào tiếp nhận mà người ta phân trí nhớ thành trí nhớ hình tượng thị
giác, trí nhớ hình tượng thích giác, trí nhớ hình tượng xúc giác, trí nhớ
hình tượng vị giác.
Trong việc ghi nhớ đối tượng, sự kiện nào đó có sự tham gia không phải
một mà nhiều cơ quan phân tích. Trí nhớ hình tượng được chóng hình
thành và bền vững khi có sự tham gia của nhiều cơ quan phân tích. Ví dụ
như trong việc học ngoại ngữ vừa nghe vừa đọc bằng mắt vừa viết bằng
tay và phát âm thành tiếng, thường có kết quả nhanh hơn và nhớ lâu hơn so
với trường hợp chỉ đọc bằng mắt.
- Trí nhớ vận động: Được hình thành trên cơ sở thực hiện những động tác cụ
thể. Ví dụ như đánh đàn ,điều khiển máy móc,tập thể dục dụng cụ, cuốc
đất, lái xe Trong quá trình học tập nhờ có trí nhớ vận động mà ta có thể
hình thành được kỹ năng,kỹ xão trong nhiều nghề nghiệp khác nhau.
- Trí nhớ cảm xúc: Được biểu hiện bằng các phản ứng cảm xúc và được hình
thành trong những điều kiện cơ thể bị tác động bởi các kích thích có khả
năng gây ra các cảm xúc như vui, buồn, bực tức , thõa mãn Các tác nhân
gây ra trí nhớ cảm xúc có thể là các kích thích , các sự kiện cụ thể,có thể là
tiếng nói.
- Trí nhớ ngôn ngữ -logic:Được hình thành khi tiếp nhận ngôn ngữ (tiếng
nói, chữ viết,kí hiệu). Đây là loại trí nhớ chủ đạo của con người và cũng
chỉ có ở con người, nó giúp cho con người có thể tiếp nhận được các tri
và làm giảm trí nhớ logic. Phức hợp hạnh nhân bị tổn thương sẽ làm cho thời gian
duy trì trí nhớ ngắn hạn ngắn lại. Trường hợp hồi cá ngựa bị tổn thương ở cả hai
phía các rối loạn vềtrí nhớ sẽ rất trầm trọng: mất trí nhớ ngắn hạn, không nhớ được
những sự kiện vừa xảy ra (giống hội chứng Korsakov), giảm trí nhớ logic. Đối với
vỏ não liên hợp, thì Penfield và Jasper cho thấy khi kích thích vào vùng “đỉnh -
thái dương - chẩm” bệnh nhân cho biết là trước mắt họ đang hiện ra những hình
ảnh xa xưa hoặc nghe lại được các bản nhạc mà họ đã được nghe từ lâu. Tuy nhiên
các tác giả này nhận định rằng các vùng nói trên chỉlà phần ngoài của hệ thống
giữtrí nhớ. Riêng vềvùng trán thì đa số tác giả cho rằng nó có chức năng duy trì
dấu vết trong trường hợp các kích thích của môi trường sống tác dụng một lần
(không tham gia vào quá trình giữtrí nhớphản xạcó điều kiện).
Như vậy, trí nhớ có liên quan với nhiều vùng của não bộ, và có lẽ thế, nên khi cắt
bỏ nhiều vùng não rộng lớn (ở động vật) cũng không làm mất hoàn toàn trí
nhớ(Isaak).
6.4. Cơ chế hình thành trí nhớ
Cơ chế hình thành trí nhớ ngắn hạn
Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng trí nhớ ngắn hạn liên quan với sự tuần hoàn các
xung động thần kinh trong các vòng hay các chuỗi neuron và do quá trình khử cực
kéo dài tại các synap thuộc các vòng hay các chuỗi neuron đó. Các luồng xung
động trong các vòng neuron dễ bị ức chế dưới ảnh hưởng của các yếu tố khác
nhau. Do đó, trí nhớ ngắn hạn bị mất khi bịshock điện, não bị tổn thương, bị làm
lạnh, bị tác dụng của các thuốc gây mê hoặc các hỗn hợp khí (CO2, N, Cl) Tuần
hoàn các xung động thần kinh trong các vòng neuron không bị ảnh hưởng của các
chất có tác dụng ức chế sự tổng hợp ARN, protein và các chất trung gian hoá học.
Đó là cơ sở để phân biệt cơ chế hình thành trí nhớ ngắn hạn với cơ chế hình thành
trí nhớ trung hạn và dài hạn.
6.5 Cơ chế hình thành trí nhớ trung hạn
Trí nhớ trung hạn được hình thành do có sự thay đổi tạm thời các quá trình lý - hoá
ởcác tận cùng thần kinh trước synap cũng như ởmàng sau synap, tạo điều kiện cho
sự dẫn truyền các xung động thần kinh trong thời gian dài (vài ba tháng). Điều này
ở đây là chất P, thyreoliberin, cholecystokinin. Khi được hoạt hoá bởi các xung
động truyền đến, các neuropeptid sẽ làm tăng khả năng dẫn truyền qua synap, cũng
có nghĩa là làm tăng thời gian mở đường qua synap.
Như vậy, cơ chế hình thành trí nhớ trung hạn là khử cực màng kéo dài, tạo điều
kiện cho các xung động thần kinh truyền qua synap trong thời gian dài.
6.6. Cơchế hình thành trí nhớdài hạn
Cơ chế hình thành trí nhớ dài hạn cũng gồm các quá trình biến đổi lý - hoá ở màng
trước và màng sau synap giống như cơ chế hình thành trí nhớ trung hạn, ngoài ra
còn có quá trình tạo ra các protein mới - chất giữtrí nhớ. Nhiều công trình nghiên
cứu cho thấy ở chuột sự tuần hoàn các xung động thần kinh trong các vòng neuron
kéo dài khoảng 30-50 phút đã có thểlàm thay đổi các protein và ARN trong thân
các neuron và các synap và trí nhớ ngắn hạn được chuyển thành trí nhớ dài hạn.
Quá trình chuyển trí nhớ ngắn hạn thành trí nhớ dài hạn được gọi là quá trình củng
cố (consolidation). Quá trình này được hình thành trong một thời gian nhất định và
phụ thuộc vào đặc điểm của phản ứng phản xạ, vào thời gian và cường độ của kích
thích, vào trạng thái chức năng của các cấu trúc liên quan với trí nhớ trong não bộ,
vào đặc điểm di truyền, vào từng loài động vật và phụ thuộc vào phản ứng cảm
xúc. Thí nghiệm đầu tiên phát hiện chất liên quan với trí nhớ à thí nghiệm của Mc
Connel. Tác giả tiến hành thành lập phản xạ có điều kiện trên giun dẹp (Planarium
turbil). Kích thích có điều kiện là ánh sáng, kích thích củng cố là dòng điện chạy
qua 2 điện cực đặt trong bể nước, trong đó có con giun dẹp (hình 6.12). Sau khi
phản xạ có điều kiện được hình thành, tác giảcắt đôi con giun và chờ cho hai nửa
của con giun tái sinh thành hai con giun mới. Đem hai con giun mới này kiểm tra
xem ở chúng có phản xạ có điều kiện hay không. Kết quả cho thấy ở cả hai con
giun này đều xuất hiện phản xạ đối với kích thích ánh sáng (con giun co lại như bị
điện giật). Như vậy, có chất gì đó có khả năng nhớ phản xạcó điều kiện ở trong cơ
thể con giun? Câu hỏi này được trả lời khi cắt những con giun được thành lập phản
xạcó điều kiện thành từng mảnh và cho những con giun khác ăn. Kết quả cho thấy
ở những con giun được ăn những mảnh của con giun có phản xạ có điều kiện đều
xuất hiện phản xạvới ánh sáng ngay từ lần tác dụng thứ nhất, nghĩa là không cần
dần. Điều này chắc chắn có liên quan với các quá trình tổng hợp và phân giải các
ARN và các protein vì hoạt tính của ribonuclease - chất phân giải ARN tăng lên
theo tuổi. Đến tuổi 60 hoạt tính của enzym này tăng lên khoảng 45% so với người
ở tuổi 20. Sự giảm trí nhớ hay là sự quên, ngoài cơ chế giảm tổng hợp các ARN và
protein “nhớ”, còn do một nguyên nhân nữa là quá trình ức chế. Chính vì vậy mà
trí nhớ của con người có trong não nhiều hơn kiến thức mà họcó thể tái hiện được.