Đề tài tho lun:
Lm pht Vit Nam
t năm 2010 đn nay
1. Phm Trung Hiu - NT - 01649.727.456
2. Phm Trí Trung
3. Nguyễn Văn Hi
4. Phm Bùi Vit Phương
5. Nguyễn Tin Lâm
6. Nguyễn Hoàng Long
7. Lê Đức Hoàng
8. Lê Phương Toan
9. Hồ mu Lượng
!"#$
%&%'( )*
+,%*
+- ./012
+3!4 562
+3!7'.8
9:,;<=>>8
9:,;?4 =>@
$$$-ABCD--EF-GH3IJ#EKLMN$OL-HJLPQRB-SJ>>QT--HC>
- ./5( 1>
- ./0( 1
-U( .;V>V-WX#0170Y; Z>X3VL[01\)7<U]Y
"]^5;Y&U5;_`La,b,
#++234<&*%=3<*>&?64,@
Chỉ số giảm phát GDP là chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả
các loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước. Chỉ số điều chỉnh GDP cho biết một đơn vị GDP
điển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêu phần trăm so với mức giá của năm cơ
sở.
• 96/:&Phản ánh được sự thay thế giữa các hàng hoá, dịch vụ với nhau.
• -;,/:&: Chỉ phản ánh mức giá của những hàng hoá sản xuất trong nước (vì GDP
chỉ tính sản phẩm trong nước) , không phản ánh được sự giảm sút phúc lợi của người tiêu
dùng trong trường hợp phải tiêu dùng ít hơn một loại hàng nào đó.
#+A234()&*%,.B<
Chỉ số lạm phát cơ bản có cách tính tương tự như chỉ số CPI nhưng loại trừ một số mặt
hàng dễ thay đổi giá như lương thực và năng lượng.Hiện nay trên thế giới có nhiều phương pháp
đo lường lạm phát cơ bản nhưng có thể cho chúng vào 3 nhóm chính:
Nhóm phương php cơ học: Việc tính toán theo phương pháp này được thực hiện bằng
cách loại bỏ 1 số mặt hàng khỏi rổ CPI với nguyên tắc loại bỏ những hàng hoá đặc trưng bởi
những cú sốc mạnh ( có tính mùa vụ hay liên quan tới cung và giá cả không được hình thành bởi
thị trường).
Nhóm phương php thống kê: Loại bỏ tác động của những thay đổi thái quá của giá cả
ảnh hưởng tới tỷ lệ lạm phát chung. Nhóm mặt hàng bị loại trừ thay đổi theo từng tháng và phụ
thuộc vào độ biến động giá cả của hàng hoá đó. Các phương pháp thống kê phổ biến nhất bao
gồm pp bình quân thu gọn và pp bình quân gia quyền cộng dồn.
Phương php hồi quy: Sử dụng mô hình hồi quy trong kinh tế lượng để đưa các số liệu
thực tế của các biến số vào đánh giá lạm phát cơ bản.
*
#A6C5,DE()&*%
#A# )&*%70,F6GH0
Nguyên nhân do tổng cầu AD – tổng chi tiêu của xã hội tăng lên – vượt quá mức cung
ứng hàng hóa của xã hội dẫn đến áp lực làm tăng giá cả. Nói cách khác, bất kỳ lí do nào làm cho
tổng cầu tăng lên đều dẫn đến lạm phát về ngắn hạn.
lao động khan hiếm, yêu cầu tăng lương của công đoàn, lạm phát dự tính tăng).
- Sự tăng lên của mức lợi nhuận ròng của người sản xuất đẩy giá cả hàng hóa tăng lên.
- Do giá cả nội địa của hàng nhập khẩu tăng lên.
- Tăng thuế và các nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước
JKL !"MNOPQR+S#SPLT
#UBV()&*%W0X&+S#S
Năm 2010, lm pht c nước mức 11,75%:Chỉ số tiêu dùng (CPI) tháng 12/2010 của cả
nước tăng 1,98%, qua đó đẩy mức lạm phát năm của cả nước 2010 lên 11,75% so với năm 2009.
Con số này vượt gần 5% so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra hồi đầu năm (khoảng 8%).
Trong khi đó, nếu tính bình quân theo từng tháng (cách tính mới của Tổng cục thống kê) thì
lạm phát năm 2010 tăng 9.19% so với năm 2009.
8
JKLYPR"+S#S
Ta có thể thấy lạm phát tăng cao trong các tháng đầu năm và cuối năm, mức tăng có độ vênh
lớn, tháng cao nhất so với tháng thấp nhất lệch nhau đến hơn 1,5%. 3 tháng đầu năm CPI tăng
cao nhưng ngay sau đó có liền 5 tháng tăng thấp về gần mức 0%, sau đó lại vượt lên trên 1% vào
4 tháng còn lại của năm. Các tháng từ tháng 9 đến tháng 11, mức tăng đều đạt mức kỉ lục của 15
năm trở lại đây.
Tính chung CPI năm 2010, CPI giáo dục tăng mạnh nhất gần 20%. Tiếp đó là hàng ăn
(16,18%), nhà ở - vật liệu xây dựng (15,74%). Các ngành Giao thông, hàng hóa & dịch vụ khác,
thực phẩm đều có mức tăng trên 10%. Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá với mức
giảm gần 6% trong năm 2010. Chỉ số giá vàng tăng 36,72%, chỉ giá USD tăng 7,63%.Về CPI
của các vùng miền, đáng chú ý là chỉ số CPI khu vực nông thôn tháng 12 tăng 2,04%; cao hơn
1,87% của khu vực thành thị.
+UBV()&*%Z%/F6X&+S##
Tính chung từ đầu năm, lạm phát của cả nước đã tăng 15,68% so với thời điểm cuối năm
2010. So với cùng kỳ năm ngoái, mặt bằng giá hiện tại đã cao hơn 23,02%. Nhìn chung lạm phát
nước ta đã có xu hướng tăng đáng kể từ đầu năm. Chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng mạnh từ tháng 1
với 1,78% so với tháng trước và đỉnh điểm mức 3,32 ở tháng 4. Thời gian tiếp theo chỉ số CPI có
xu hướng giảm khi các thời điểm tháng 5, 6, 7 có giá trị lần lượt so với tháng trước là 2,21%,
#6C5G%,?6E
Năm 2010 và 9 tháng đầu năm 2011, lạm phát trong nước vẫn nối đà tăng cao của các năm
trước đó. Không thể phủ nhận, lạm phát tăng cao như vậy một phần là do những nguyên nhân
khách quan đến từ thị trường thế giới cũng như trong nước:
- Giá nhiều loại hàng hóa nguyên, nhiên vật liệu chủ chốt như xăng dầu, phôi thép, khí
dầu mỏ trên thị trường thế giới tăng cao đã tác động đến giá xăng dầu, thép xây dựng,
gas, phân bón trong nước tăng cao, điều này ảnh hưởng đến cho chi phí sản xuất, hay
còn gọi là “chi phí đẩy”.
- Giá vàng trên thị trường thế giới tăng đột biến cũng khiến giá vàng trong nước tăng
mạnh gây tâm lý tăng giá lan tỏa sang các hàng hóa tiêu dùng khác trên thị trường.
- Dịch bệnh trên vật nuôi lan rộng và kéo dài (có thời kỳ cả nước có 30/63 tỉnh thành có
dịch bệnh) làm giảm mạnh nguồn cung thực phẩm và gia tăng chi phí chăn nuôi. Ngoài
ra, tình hình thời tiết khắc nghiệt trong một số giai đoạn cũng ảnh hưởng đến hoạt động
sản xuất nông nghiệp và vì vậy ảnh hưởng đến nguồn cung nông sản thực phẩm tại một
số thời điểm gây tăng giá hàng hóa.
- Sức hút từ thị trường các nước lân cận (Trung Quốc, Lào, Campuchia) do chênh lệch
giá một số mặt hàng khi trong nước thực hiện các chính sách bình ổn giá. Thời gian
qua, nhiều mặt hàng, nhất là ở các mặt hàng lương thực, xăng dầu, thực phẩm như thịt
lợn, thủy sản, đã bị thu gom và xuất khẩu qua biên giới cũng góp phần làm mất cân đối
nguồn cung hàng hóa trong nước.
- Việc điều chỉnh lương cơ bản làm chi phí sản xuất bị đẩy lên gây ra lạm phát
>
Tuy nhiên, nu lp lun cho rằng đây là những nguyên nhân chủ yu dẫn tới tình
trng lm pht cao thì hoàn toàn sai toàn sai lầm, do:
- Thứ nhất, khi so sánh lạm phát của Việt Nam với lạm phát của các nền kinh tế khác, ta
có số liệu ở bảng dưới:
Tính đến tháng 9 năm 2011, tốc độ tăng CPI của Việt Nam đã lên đến 16,63%, tiệm cận
mục tiêu 18% đặt ra cho cả năm, cũng là cao hơn các nước khác rất nhiều. Các nước
trên thế giới đều chịu tác động tiêu cực đến từ các thị trường xăng dầu hay thị trường
vàng, vậy tại sao lạm phát của Việt Nam cao hơn một cách đáng xấu hổ như vậy?
Chi tiêu công mà cụ thể là những khoản chi tiêu và đầu tư kém hiệu quả của Chính phủ
thông qua các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chính là nguyên nhân chủ quan quan trọng nhất:
Các DNNN này không chỉ được ưu tiên trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên của đất nước,
mà còn được phép sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước một cách dễ dãi hoặc nhận được rất nhiều
ưu tiên, trợ giúp của Nhà nước thông qua các hoạt động tín dụng cả trong và ngoài nước. Những
ưu tiên về nguồn vốn và việc trả nợ này đã khiến các DNNN không còn nhạy cảm với lợi nhuận,
tiết kiệm, tăng năng suất lao động. Từ đó đã dẫn tới hành vi sản xuất kinh doanh thiếu trách
nhiệm, đầu tư một cách tràn lan; tới khi thua lỗ, thậm chí chỉ kêu lỗ là Nhà nước lại “bơm tiền”
để giải cứu.
Trong khi những thông tin về tình hình hoạt động của các DNNN, việc sử dụng nguồn vốn
Nhà nước cấp hoặc ưu đãi cho vay còn quá bưng bít, thì chỉ khi các DN này rơi vào tình trạng
thua lỗ quá nặng, gẫn như vô phương cứu chữa, thì thông tin mới được truyền ra, trường hợp tiêu
biểu nhất có lẽ là của tổng công ty đóng tàu Việt Nam (VINASHIN) vào năm 2010.
Những khoản đầu tư thua lỗ, việc sử dụng đồng tiền một cách lãng phí khu vực kinh tế Nhà
nước đã dẫn đến tình trạng mặc dù là khu vực được tập trung nhiều vốn nhất nhưng chỉ đóng góp
khoảng 10% vào nguồn thu của Ngân sách Nhà nước mỗi năm, góp một phần không nhỏ cho
tình trạng thâm hụt ngân sách triền miên của Việt Nam:
Ngân sách không dư thừa, nhưng thời gian qua, đặc biệt là trong năm 2010 để phục vụ cho
mục tiêu tăng trưởng, Chính phủ lại tiếp tục hùn vốn cho chi tiêu công, cho khu vực hoạt động
kém hiệu quả của nền kinh tế. Tuy nhiên nếu các DN này đi vay một cách công bằng trên thị
trường tài chính, hiển nhiên theo lý luận kinh tế sẽ làm tăng cầu quỹ cho vay, đẩy lãi suất lên từ
đó có ảnh hưởng tích cực đến lạm phát, nhưng ở đây lại nổi lên vấn đề về tính độc lập của
NHNN. Chính sách tiền tệ của NHNN đưa ra trong các năm qua luôn gắn kèm hai mục tiêu gần
chẳng thế nào thực hiện được cùng lúc: tăng trưởng kinh tế, đi đôi với kiềm chế lạm phát; thế là
khi Chính phủ đánh tiếng thiếu vốn để tăng trưởng kinh tế, NHNN lại phải đi mua các trái phiếu
đã bán từ hệ thống NHTM, đưa thêm tiền vào hệ thống này, việc liên tục tung tiền ra lưu thông
trong khi lạm phát vẫn tăng cao là kịch bản lặp đi lặp lại trong nhiều năm trở lại đây:
Với các ưu đãi của mình, các DN thuộc khu vực kinh tế Nhà nước lại vay được vốn, vòng
xoáy thiếu hiệu quả lặp lại, tiền đưa ra nhiều trong khi sản lượng chẳng tăng lên là bao thì một
một cách đột ngột. Việc điều chỉnh tỷ giá một cách bất ngờ như trên đã có ảnh hưởng rất tiêu cực
đến mức giá cả nền kinh tế, đặc biệt với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều
vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, việc giảm giá đồng tiền làm chi phí đầu vào tăng lên đáng kể,
kết quả là tình trạng lạm phát leo thang do chi phí đẩy như thời gian vừa qua.
+ Điều chỉnh tăng giá đồng loạt điện và xăng dầu
Điện và xăng dầu là 2 yếu tố đầu vào quan trọng đối với bất kì ngành sản xuất nào, việc điều
chỉnh giá 2 mặt hàng này đòi hỏi phải xem xét dẫn thận trọng và có một thời gian tách biệt nhất
định để tránh ảnh hưởng đến mức giá cả chung. Trong năm 2010 và 2011, cả 2 mặt hàng này
đều được điều chỉnh tăng giá nhiều lần:
Giá xăng dầu liên tục được điều chỉnh, giá điện thì “đến hẹn lại lên”, đặc biệt, trong quý I
năm 2011, cả điện và xăng dầu đều tăng giá rất mạnh. Lý do mà EVN hay PVG đưa ra trong
mỗi lần tăng giá đều là để bù lỗ cho việc phải bán với giá thấp. Nhưng một điều dễ nhận thấy là
trong khi PVG là độc quyền trong lĩnh vực xăng dầu, thì EVN cũng gần như một mình một sân
trên thị trường điện, nếu đã độc quyền như vậy thì làm sao có thể thua lỗ được? Trong khi việc lỗ
lãi vẫn còn mập mờ thì hậu quả tăng giá đã thấy rõ , việc tăng giá đồng loạt trong tháng 3 đã
dẫn tới hậu quả ngay sau đó là mức lạm phát cao ngất ngưởng trong tháng 4 năm 2011.
*
k""PlP9mn"MP9o
Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh kiềm chế lạm phát là ưu tiên số 1 hiện
nay, ưu tiên nhất quán của Chính phủ, kiềm chế được lạm phát sẽ mang lại hiệu quả cho đời
sống, cho tăng trưởng, cho ổn định kinh tế vĩ mô, cho phát triển bền vững…
Đường biểu diễn chỉ số CPI 6 tháng như một trò chơi lao dốc, bò lên chậm chạp ở sườn
bên này nhưng lại cắm đầu lao dốc rất nhanh ở sườn bên kia. Mỗi dao động ở giai đoạn này đều
gắn với những thay đổi chính sách chóng mặt thời gian gần đây.
Cùng lúc chính phủ tung ra một loạt chính sách điều chỉnh giá xăng dầu, than, điên…
sau một thời gian dài kìm nén, CPI tháng 4 tăng đột biến hơn cả tháng Tết nguyên đán trước đó.
Ngay lập tức các giải pháp thắt chặt tiền tệ, tài khóa đã được sử dụng để kiềm chế lạm phát.
Để đối phó với lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã ban hành và thực thi
8
Tuy vậy, việc triển khai Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP và Kết Luận số 02-KL/TW cho
đến nay còn có một số khiếm khuyết sau đây:
• Các giải pháp về tiền tệ đã được thực hiện khá quyết liệt, bám sát nội dung và tinh
thần Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP và Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị. Nhưng, một số
giải pháp, nhất là giải pháp về lãi suất đã tỏ ra là chưa thật hợp lý.
• Khác với chính sách tiền tệ, các giải pháp về tài khóa chưa được thực hiện đúng
theo yêu cầu của Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP và Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị; và
chưa có tác dụng đáng kể. Các địa phương, các ngành vẫn khởi công mới hơn 5000 dự án mới
với số vốn được phân bố hơn 22 nghìn tỷ đồng. Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước 4
tháng đầu năm vẫn tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Số vốn đầu tư được báo cáo là sẽ
cắt giảm, đình hoãn và điều chuyển vẫn còn thấp hoặc chưa đủ độ tin cậy. Danh mục cụ thể các
dự án được cắt giảm vẫn chưa được xác định cụ thể và công bố công khai. Cũng tương tự như
vậy đối với danh mục các dự án sẽ được bổ sung thêm vốn từ việc điều chuyển vốn từ các dự án
bị cắt giảm.
• Một lần nữa, có sự thiếu hụt đáng kể trong phối hợp cần có giữa chính sách tài
khóa và chính sách tiền tệ trong cuộc chiến chống lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
• Các giải pháp được thực hiện cho đến nay còn mang nặng tính hành chính, ngắn
hạn và tình thế; chưa đặt trong tổng thể các giải pháp đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyển
đổi cơ cấu kinh tế; nên chưa hướng đến giải quyết nguyên nhân cơ bản của lạm phát và bất ổn
kinh tế vĩ mô ở nước ta.
Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP của Chính phủ và Kết luận số 02-KL/TW của Bộ chính
trị được đánh giá là phù hợp để kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Thực hiện các biện
pháp chống lạm phát, bên cạnh các kết quả bước đầu, cũng đã gây ra một số khó khăn ngắn hạn
đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, như lãi suất vay vốn cao, khó tiếp cận vốn tín
dụng, tiêu thụ hàng hóa khó khăn, tốc độ tăng trưởng năm nay sẽ thấp hơn so với chỉ tiêu kế
hoạch v.v…
@
Yk""$Lp
Dựa trên cơ sở phân tích những nguyên nhân dẫn tới tình trạng lạm phát cao ở Việt Nam
Nguyên nhân lạm phát đã được xác định, nhiều biện pháp kiềm chế đã đưa ra, song câu
hỏi lớn nhất vẫn là: lạm phát sẽ dừng lại ở mức nào. Sáng 23/9 trong cuộc hội thảo bàn về kinh tế
VN, các chuyên gia đưa ra hai kịch bản lạm phát cho năm 2011, đều e ngại khả năng lạm phát
cuối năm có thể lên 24% trước chính sách bơm tiền mạnh, giá vàng cao
Trong hội thảo kinh tế Việt Nam 2011 - triển vọng năm 2012 diễn ra ở TP HCM sáng
23/9, tiến sĩ Phạm Đỗ Chí, chuyên viên cấp cao chương trình Star Plus đưa ra hai kịch bản lạm
phát năm 2011:
Một là: Lạm phát có thể tăng tốc nhanh trong hai tháng cuối năm, ở mức 19-20%. Theo
số liệu của Tổng Cục thống kê, lạm phát 8 tháng đầu năm đã là 15,68%.Dự báo này dựa trên
nhiều yếu tố. Trước hết là do nhu cầu tiêu dùng cao trong mùa lễ tết sắp tới. Cùng với đó là
chính sách thắt chặt tiền tệ làm giảm nhu cầu khu vực tư nhân, nhưng không đủ để làm giảm tổng cầu
trong nền kinh tế.
Hai là: Lạm phát có thể lên tới 24% vào cuối năm nay, do giá vàng trong nước thời gian qua cao
hơn thế giới nhưng người ta vẫn đổ xô mua vào, cho thấy tâm lý lo ngại lạm phát vẫn rất nặng nề
trong lòng người dân. Bên cạnh đó, tỷ giá và việc điều chỉnh lương tối thiểu, giá xăng, dầu,
điện có thể tác động tiêu cực lên chỉ số giá tiêu dùng những tháng cuối năm do tâm lý "tát nước
theo mưa".
$i,B<+'()&*%^%,64+S##
Tháng 9 22,64%
Tháng 10 23,31%
Tháng 11 23,48%
Tháng12 24,11%
Câu hỏi “ Việt Nam nên chọn cái nào giữa lạm phát và tăng trưởng”. Việc ưu tiên cái
nào và hi sinh giữa cái gì và cái gì cần phải rất linh hoạt. Lạm phát cao, dẫn đến áp dụng biện
pháp kích cầu để kiềm chế lạm phát, và một tất yếu là tăng trưởng bị chậm lại.
>
Theo một số nghiên cứu trước đây thì ngư•ng lạm phát Việt Nam nên là 5-6%. Khi chọn
mức lạm phát 5-6% làm ngư•ng, thì nếu lạm phát Việt Nam ở dưới mức này để tăng tốc độ tăng
trưởng, Chính phủ có thể thực hiện các giải pháp tăng lạm phát và việc tăng lạm phát cho đến
ngư•ng 6% không quá nguy hại đến kinh tế. Nếu lạm phát trên ngư•ng 6%, để tăng trưởng kinh
pháp kích cầu để kiềm chế lạm phát, và một tất yếu là tăng trưởng bị chậm lại.
Theo một số nghiên cứu trước đây thì ngư•ng lạm phát Việt Nam nên là 5-6%. Khi chọn
mức lạm phát 5-6% làm ngư•ng, thì nếu lạm phát Việt Nam ở dưới mức này để tăng tốc độ tăng
trưởng, Chính phủ có thể thực hiện các giải pháp tăng lạm phát và việc tăng lạm phát cho đến
ngư•ng 6% không quá nguy hại đến kinh tế. Nếu lạm phát trên ngư•ng 6%, để tăng trưởng kinh
tế, Chính phủ lại phải điều tiết giảm lạm phát.
Kt lun:
Gim thiểu cc tc động tiêu cực của lm pht là một vấn đề mang tính chất vĩ mô,
đặc bit với nền kinh t Vit Nam khi mà tỷ l lm pht cao hơn rất nhiều so với cc
nước trong khu vực. Trong thời gian tới, vấn đề lm pht còn diễn bin khó lường.
Thit nghĩ giữa Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần có sự phối hợp đồng bộ hơn
nữa nhằm đt được mục tiêu đề ra, ngăn chặn sự tăng lên qu tầm kiểm sot của lm
pht, nh hưng tới toàn bộ nền kinh t, cũng như đời sống người dân.