MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
Chương I: Những vấn đề chung về thuế và quản lý thuế 3
I. Khái quát chung về thuế 3
1. Lịch sử hình thành, khái niệm, đặc điểm, phân loại thuế 3
2. Các yếu tố cơ bản của một sắc thuế 6
3. Vai trò của
thuế 7
4. Hệ thống thuế ở Việt
Nam 7
II. Khái quát chung về quản lý thuế 8
1. Khái niệm, đặc điểm 8
2. Vai trò của quản lý
thuế 9
3. Nguyên tắc quản lý thuế 9
4. Nội dung quản lý thuế 10
5. Mục tiêu, yêu cầu quản lý thu thuế 13
Chương II: Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay 14
I. Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam giai đoạn 2007-
2011 14
1. Chính sách thuế và việc thực hiện chính sách thuế 14
2. Hoạt động của bộ máy quản lý thuế 15
3. Thủ tục hành chính và thực hiện các chức năng quản lý thuế 17
II. Những hạn chế và nguyên nhân quản lý thuế kém hiệu quả 20
1. Một số hạn chế 20
2. Nguyên nhân 22
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện
nay 23
I. Định hướng hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay 23
II. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện
nay 23
1.1. Lịch sử hình thành:
Lịch sử xã hội loài người chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách
quan, gắn với sự hình thành và phát triển của nhà nước. Để duy trì sự tồn tại đồng
thời với việc thực hiện các chức năng của mình, nhà nước cần có nguồn vật chất
để thực hiện những chi tiêu có tính chất xã hội. Bằng quyền lực chính trị, nhà nước
thu một bộ phận của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó. Quan hệ thu nộp
những nguồn vật chất này chính là thuế. Thu thuế được thực hiện bằng hình thức
thu bằng hiện vật chuyển dần sang thu dưới hình thức giá trị. Điều đó cũng có
nghĩa thuế xuất hiện ban đầu có hình thức biểu hiện rất đơn giản. Quan hệ thu
phen,, cống nạp là những loại thuế thể hiện dưới hình thức hiện vật dần có sự phức
tạp hơn - hình thức sưu, thuế được cắt đặt một cách thống nhất trong phạm vi lãnh
thổ. Đến khi tiền tệ ra đời, hình thức thuế thu bằng tiền làm giảm nhẹ sự nghiệt
ngã của các hình thức cống nộp.
Đối với Việt Nam, "thuế má" cũng đã bắt đầu xuất hiện thời kì đầu của chế độ
phong kiến nhằm tập trung nguồn công quỹ cho nhà vua nhưng chủ yếu dưới dạng
cống vật. Mặc dù vậy, cho đến năm 1013 vào đời vua Lý Thái Tổ, việc đánh thuế
mới được hình thành một cách có tổ chức, hệ thống. Đến thế kỉ thứ XVI, ngoài các
loại thuế đã được thu ổn định, các triều đại còn đặt thêm những loại thuế mới (thuế
mỏ, thuế đò, thuế chợ, thuế tuần tuy, thuế muối, thuế xuất cảng, thuế nhập cảng).
Bên cạnh một số triều đại có chính sách thuế hợp lòng dân như thời Lý, Trần, Lê
sơ, hệ thống thuế trong thời kì phong kiến có điểm chung là thiếu chuẩn mực về
đạo lý và pháp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu và lợi ích của nhân dân. Sử cũ ghi
lại:"Thuế má thu đến tơ tóc, mà dùng của cải như bùn đất". Đến thời kì Pháp
thuộc, chính phủ thuộc địa Pháp đặt ra rất nhiều loại thuế, tiêu biểu là: thuế rượu,
thuế muối, thuế quan, thuế môn bài, thuế thổ trạch. Sau khi nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa ra đời, song song với việc xóa bỏ hệ thống thuế phi nhân đạo nhà
nước dần hình thành hệ thống thuế mới. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội,
yêu cầu đặt ra trong từng giai đoạn cụ thể, hệ thống thuế của Việt Nam ngày càng
đi tới sự ổn định và hoàn thiện.
3
Thuế có 3 đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, thuế là khoản thu mang tính chất bắt buộc vào ngân sách nhà nước.
Tính bắt buộc thể hiện đó là đối với người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyển
giao tài sản của họ cho nhà nước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ
thanh toán dù trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Đối với các cơ quan thu thuế,
khi thay mặt nhà nước thực hiện các hành vi nhất định cũng không được phép lựa
chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế, có sự phân biệt đối xử đối
với người nộp thuế. Đặc tính bắt buộc của thuế là một trong những dấu hiệu quan
trọng để phân biệt thuế với các khoản thu trên cơ sở tự nguyện hình thành ngân
sách nhà nước. Điều này có ý nghĩa pháp lý quan trọng khi ban hành pháp luật về
4
thuế và chi phối phương pháp thực hiện thu thuế của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
Thứ hai, thuế là một khoản thu của ngân sách nhà nước mang tính chất không
hoàn trả trực tiếp.
Thuế không phải là khoản phải trả khi các đối tượng nộp thuế đã nhận được
một lợi ích hay quyền lợi cụ thể nào từ phía nhà nước. Bất kì ai khi đủ điều kiện
đều phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước không phân biệt họ đã nhận
được những lợi ích công cộng nào. Điều này cho phép phân biệt thuế với các
khoản thu nộp do đối tượng nộp chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình đã nhận được
một lợi ích nhất định từ phía nhà nước. Đó là các khoản thu từ phí, lệ phí. Thuế
xuất hiện do nhu cầu chi tiêu của nhà nước, của các chủ thể quản lý xã hội. Kết
quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công - những
lợi ích không thể xác định chính xác được theo giá trị vật chất. Điều đó lý giải vì
sao thuế là các khoản thu mang tính chất không hoàn trả. Tuy vậy, những sản
phẩm do nhà nước sử dụng các khoản thu từ thuế lại được thụ hưởng bởi chính
những đối tượng nộp thuế, đó là sự an toàn xã hội, chế độ phúc lợi công cộng,
Thứ ba, thuế là một hình thức phân phối của cải xã hội chứa đựng các yếu tố
chính trị, kinh tế, xã hội.
Nhà nước không chỉ dùng quyền lực chính trị của mình để tập trung một phần
sinh trong quá trình sử dụng tài sản của mình hay do kết quả của lao động.
- Thuế đánh vào tiêu dùng: phần lớn là các loại thuế gián thu như thuế giá trị
gia tăng, thuế tiêu thu đặc biệt. Đặ điểm của các loại thuế trong nhóm thuế này đối
tượng tính thuế chính là phần thu nhập của người chịu thuế được mang tiêu dùng
vào thời điểm chịu thuế.
- Thuế đánh vào tài sản: là thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không phải đánh
vào phần thu nhập phát sinh từ tài sản đó. Các loại thuế như thuế nhà đất, thuế
vốn, thuế chuyển nhượng tài sản, chuyển nhượng vốn là loại thuế tài sản.
2. Các yếu tố cơ bản của một sắc thuế:
Mỗi sắc thuế có mục đích, yêu cầu riêng nhưng đều được cấu thành bởi những
yếu tố sau:
1- Tên gọi của thuế.
2- Đối tượng chịu thuế, đối tượng không thuộc diện chịu thuế: Xác định thuế
được đánh trên loại đối tượng nào (hàng hóa, dịch vụ ) hoặc thuế không đánh vào
đối tượng nào. Yếu tố này thường được sử dụng trong các sắc thuế gián thu.
3- Đối tượng nộp thuế, đối tượng không phải nộp thuế: Xác định tổ chức hay
cá nhân nào có nghĩa vụ phải nộp hoặc không phải nộp một loại thuế nhất định.
4- Cơ sở tính thuế:Xác định mức thuế được tính trên cơ sở nào.
5- Thuế suất, mức thuế, biểu thuế
Thuế suất là linh hồn của một sắc thuế ,biểu hiện mức độ động viên đối với các
đối tượng.
+Thuế suất cố định: là một loại thuế áp dụng cho một đối tượng tính thuế nhất
định
+ Thuế suất lũy thoái là loại thuế ngược lại với thuế suất lũy tiến, thuế suất
giảm dần khi cơ sở thuế tăng dần.
+ Thuế suất tỉ lệ: không thay đổi theo qui mô của cơ sở thuế
+Thuế suất lũy tiến:Thuế suất tăng dần theo mức độ tăng của đối tượng tính
thuế. Gồm hai loại:
Thuế suất lũy tiến từng phần: Thuế được tính từng phần theo từng bậc thu
nhập chịu thuế theo thuế suất tương ứng. Số thuế phải nộp cuối cùng là tổng cộng
chính sách kinh tế đối ngoại của nhà nước (xây dựng lộ trình giảm thuế khi gia
nhập WTO).
Thứ ba, thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong
phân phối.
Do các khuyết tật của thị trường, các nguồn lực trong xã hội có thể không được
phân bố hiệu quả. Các chính sách thuế tác động đến cung cầu nguyên vật liệu hàng
hóa, điều chỉnh quá trình phân phối của thị trường, ảnh hưởng đến quá trình tái sản
xuất xã hội. Thuế góp phần điều chỉnh phân phối các nguồn lực, tham gia vào quá
trình phân phối thu nhập từ kết quả sản xuất kinh doanh. Người có thu nhập thấp
sẽ không phải chịu thuế, người có thu nhập cao sẽ chịu thuế càng cao. Điều đó làm
giảm chênh lệch khoảng cách giàu nghèo tiến tới công bằng xã hội.
4. Hệ thống thuế ở Việt Nam:
Hệ thống thuế của một nước là tập hợp các sắc thuế cụ thể của nước đó. Ở Việt
7
Nam, hệ thống thuế bao gồm:
- Thuế giá trị gia tăng
- Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thuế tiêu thụ đặc biệt
- Thuế xuất nhập khẩu
- Thuế môn bài
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Thuế tài nguyên
- Thuế thu nhập cá nhân
- Thuế nhà đất (hết hiệu lực 1/1/2012)
- Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (có hiệu lực 1/1/2012)
- Thuế bảo vệ môi trường (có hiệu lực 1/1/2012)
II. Khái quát chung về quản lý thuế:
1. Khái niệm, đặc điểm:
1.1. Khái niệm:
Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.
Như đã biết thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Trong quản lý
thu ngân sách nhà nước thì việc đảm bảo quản lý thu thuế là quan trọng nhất và
mang tính quyết định. Điều đó xuất phát từ vai trò của quản lý thuế:
Thứ nhất, quản lý thuế quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được
tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào ngân sách nhà nước.
Công tác quản lý thuế hiệu quả, đảm bảo được các yêu cầu và nguyện vọng
của nhân dân thì việc thu thuế được tiến hành một cách nhanh chóng, dễ dàng.
Nguồn thu từ thuế kịp thời, ổn định góp phần phát triển kinh tế xã hội bởi nhà
nước có đủ kinh phí để chi trả cho những chi tiêu của mình, phục vụ lợi ích công
cộng, lợi ích xã hội. Vì vậy, quản lý thuế sẽ đảm bảo được các nguồn thu được
thực hiện hiệu quả, tập trung một lượng lớn nguồn thu vào ngân sách nhà nước.
Thứ hai, quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các
quy định về quản lý thuế.
Thông qua công tác quản lý thuế có thể có những yêu cầu phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh thực tế nhưng cũng có những quy định không khả thi. Quản lý là
quá trình tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Thông
qua quản lý, chủ thể hay các cơ quan quản lý có thể hiểu được đối tượng quản lý
của mình. Từ đó có những phương pháp phù hợp để tác động lên đối tượng là
những người nộp thuế, đạt được hiệu quả quản lý. Như vậy, quản lý thuế giúp
hoàn thiện hơn các chính sách, pháp luật đã đề ra sao cho phù hợp với hoàn cảnh
thực tế, đảm bảo ổn định, công bằng xã hội.
Thứ ba, quản lý thuế làm phát huy việc kiểm soát và điều tiết các hoạt động
kinh tế xã hội.
Đới với mỗi lĩnh vực khác nhau, nhà nước có những sắc thuế khác nhau để
kiểm soát sự tăng trưởng hay kìm hãm sự phát triển của hoạt động đó. Quản lý
thuế cũng chính là quản lý trên những lĩnh vực mà nhà nước đánh thuế. Khi nền
kinh tế trong thời kì lạm phát, nhà nước sẽ tăng thuế và cắt giảm chi tiêu của chính
phủ. Ngược lại, khi nền kinh tế trong giai đoạn thiểu phát thì nhà nước sẽ giảm
thuế và tăng chi tiêu chính phủ. Có thể nhận thấy, khi nhà nước tăng thuế sẽ làm
giảm sự phát triển của các hoạt động sản xuất kinh doanh và khi giảm thuế thì các
công khai, minh bạch trong quản lý thuê có tác dụng tránh sự nhũng nhiễu của cán
bộ thuế đối với người dân nộp thuế và tạo điều kiện cho người nộp thuế dễ dàng
thực hiện nghĩa vụ của mình.
Thứ năm, quản lý thuế phải tuân thủ và phù hợp với các thông lệ quốc tế.
Quản lý thuế không những đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân trong
nước mà còn phải phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, tuân thủ các hiệp định đã
được kí kết nhằm xây dựng mối quan hệ hợp tác trong xu thế hội nhập và toàn cầu
hóa. Quản lý để tránh mắc phải những vi phạm chung đã được thỏa thuận tạo môi
trường ổn định cho sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế xã hội.
4. Nội dung quản lý thuế:
Quản lý thuế bao gồm 3 nội dung chủ yếu sau:
4.1. Thiết kế chính sách thuế và thể chế hóa thành pháp luật thuế:
Nội dung đầu tiên quan trọng của quản lý thuế là việc thiết kế chính sách và
pháp luật thuế. Chính sách thuế là hệ thống quan điểm, đường lối, phương châm
điều tiết thu nhập của các tổ chức và cá nhân xã hội thông qua thuế. Việc tạo ra các
chính sách về thuế sẽ định hướng cho việc thực hiện các nhiệm vụ trong những
10
năm tới. Chiến lược tài chính đến năm 2020 tỉ lệ động viên từ nền kinh tế vào ngân
sách nhà nước ở mức hợp lý, cân đối ngân sách nhà nước tích cực, giảm dần tỉ lệ
bội chi ngân sách nhà nước. Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-
2020, QĐ732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011. Mở rộng cơ sở thuế để phát triển nguồn
thu mới phát sinh và cơ cấu lại theo hướng tăng nguồn thu nội địa (không kể thu từ
dầu thô) đến năm 2015 đạt trên 70% tổng thu ngân sách nhà nước và đến năm
2020 đạt trên 80% tổng thu ngân sách nhà nước.
Pháp luật thuế phải đảm bảo các yêu cầu về công bằng, hiệu quả, ổn định, đơn
giản.Tính hiệu quả đó là hiệu quả trong phân bổ và hiệu quả về kinh tế. Về hiệu
quả trong phân bổ thể hiện qua việc thuế không làm bóp méo các hành vi kinh tế.
Thuế quá nặng, các cá nhân và đơn vị sản xuất kinh doanh sẽ giảm sản xuất kinh
doanh để mức lợi nhuận thu được không nằm trong khoảng phải chịu thuế. Như
vậy thuế đã gián tiếp làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh để mức thuế phải
Để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhằm phục vụ cho việc thực
hiện các nhiệm vụ và chức năng của nhà nước trong từng thời kì nhất định, nhà
nước ban hành pháp luật thuế để huy động một bộ phận thu nhập quốc dân thông
qua điều tiết một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào tay
nhà nước. Các luật thuế muốn được thực thi trong đời sống xã hội phải thông qua
hoạt động của bộ máy thu thuế. Bộ máy thu thuế là tổng thể các cơ quan hành
chính có quan hệ hữu cơ với nhau trên cơ sở chức năng, nhiệm vị và quan hệ công
tác được quy định để tổ chức thưc thi các luật thuế.
Bộ máy thu thuế được phân chia thành các cấp khác nhau từ trung ương, đến
tỉnh, huyện. Tổng cục thuế đề ra chế độ, chính sách về thuế. Cục thuế và chi cục
thuế tham gia trực tiếp vào việc thu thuế. Để bộ máy thu thuế dạt hiệu quả cần chú
ý đến các nội dung về xây dựng cơ cấu tổ chức các cơ quan trong bộ máy thu thuế,
xây dựng hệ thống các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ trong bộ
máy và xây dựng lực lượng cán bộ. Về mô hình tổ chức bộ máy thu thuế có nhiều
loại khác nhau như: mô hình tổ chức bộ máy thu thuế theo đối tượng, mô hình tổ
chức bộ máy thu thuế theo sắc thuế, mô hình tổ chức bộ máy thu thuế theo sắc
thuế, mô hình tổ chức bộ máy thu thuế theo chức năng, mô hình tổ chức bộ máy
thu thuế hỗn hợp. Mỗi mô hình có những ưu, nhược điểm nhất định, tùy vào điều
kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia mà áp dụng các mô hình cho phù hợp. Ở Việt
Nam, tổ chức bộ máy thu thuế theo mô hình hỗn hợp giữa mô hình chức năng và
mô hình theo sắc thuế. Tuy nhiên mô hình theo chức năng là nổi trội hơn cả. Việc
xây dựng hệ thống các quy định về chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ trong bộ
máy được phân chia theo các cơ quan trong bộ máy, mỗi bộ phận nắm giữ một
chức năng riêng và có nhiệm vụ nhất định để hoàn thành tốt việc thu thuế hiệu
quả, công bằng.
Do nghiệp vụ thu thuế là một nghiệp vụ mang tính chuyên ngành vì vậy các cán bộ
làm việc trong các cơ quan, tổ chức cần phải có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ để
đảm bảo thực hiện đúng quy trình thu thuế. Vấn đề xây dựng lực lượng cán bộ dáp
ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của bộ máy thu thuế được quy định trong Điều 18
Luật quản lý thuế.
Về quản lý đăng ký, kê khai và nộp thuế gồm các nội dung về cấp mã số thuế,
thu thập,xử lý thông tin về đối tượng nộp thuế, quản lý kê khai và nộp thuế. Đây là
chức năng mang tính nghiệp vụ cụ thể và thực hiện theo quy trình quản lý.
Kiểm tra, thanh tra thuế dưới nhiều hình thức khác nhau: kiểm tra hồ sơ thuế
tại trụ sở cơ quan quản lý thuế, kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế với mục đích
đánh giá tính chính xác, đầy đủ của thông tin chứng từ trong hồ sơ thuế và sự tuân
thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế. Thanh tra thuế cũng được thực hiện dưới các
hình thức khác nhau và các đối tượng khác nhau để giải quyết các khiếu nại, tố
cáo, ngăn cặn những dấu hiệu vi phạm về thuế.
Đôn đốc thu nộp thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế khi
không nộp thuế khi đã hết hạn, hết thời gian gia hạn hoặc còn nợ tiền thuế, tiền
phạt nhưng có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn. Các biện pháp cưỡng chế được
thực hiện là: trích tiền từ tài khoản, yêu cầu phong tỏa tài khoản, khấu trừ một
phần tiền lương hoặc thu nhập, kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên, thu tiền
tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ,
dừng làm thủ tục hải quan với hàng hóa nhập khẩu, thu hồi mã số thuế, đình chỉ
việc sử dụng hàng hóa, thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh, giấy phép thành lập
và hoạt động, giấy phép hành nghề.
Xử lý vi phạm pháp luật vê thuế bằng biện pháp xử phạt hành chính hoặc có
13
thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đó là các vi phạm về thủ tục thuế, nộp tiền
thuế chậm, khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp nhưng được tăng số thuế được
hoàn, trốn thuế, gian lận thuế.
5. Mục tiêu, yêu cầu quản lý thu thuế:
Mục tiêu quản lý thu thuế thứ nhất là bảo đảm thực hiện tốt nhất dự toán thuế.
Dự toán thuế do chính những cơ quan sử dụng trực tiếp ngân sách nhà nước lập dự
toán thuế, được lập cùng thời điểm lập dự toán ngân sách nhà nước và được thực
hiện cùng thời gian của năm ngân sách. Thứ hai, quản lý thu thuế phải đảm bảo thi
hành nghiêm pháp luật về thuế và phát huy được vai trò tích cực của thuế.
Yêu cầu quản lý thu thuế gồm các yêu cầu về thu đúng, thu đủ, thu kịp thời.
lý thuế về việc đăng ký thuế. Công văn số 3267/TCT–CS của Tổng cục thuế ngày
14 tháng 8 năm 2007 Về việc hướng dẫn áp dụng mẫu tờ khai thuế GTGT thực
hiện theo Luật Quản lý thuế. Công văn số 10490 /BTC–TCT của Bộ Tài chính
ngày 07 tháng 8 năm 2007 Về việc áp dụng mẫu tờ khai theo ứng dụng phần mềm
hỗ trợ kê khai.
Hơn 20 năm qua, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, mở cửa và
hội nhập, hệ thống chính sách thuế đã được cải cách và hoàn thiện để đáp ứng nhu
cầu phát triển của đất nước. Các luật thuế đã được Quốc hội ban hành tương đối
đồng bộ và có phạm vi điều chỉnh toàn diện đến các hoạt động kinh tế - xã hội.
Đồng thời trong từng luật thuế đã quy định nội dung quản lý thuế mang tính chất
khung, trên cơ sở đó Chính phủ, Bộ Tài chính đã có những quy định cụ thể để
hướng dẫn, tổ chức công tác quản lý thuế đảm bảo việc thực thi chính sách thuế
theo quy định của pháp luật. Luật Quản lý thuế đã tạo khung pháp lý chung để thực
thi tất cả các luật, pháp lệnh về thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách Nhà
nước do cơ quan quản lý thuế thu. Sự ra đời của Luật Quản lý thuế khắc phục
được tình trạng chia cắt tách biệt về phương thức quản lý giữa các loại thuế. Từ đó
15
tạo nền tảng cho việc áp dụng một cơ chế quản lý thuế tiên tiến, hiện đại theo
hướng tự tính, tự khai, tự nộp thuế.
Về chính sách thuế, hệ thống chính sách đạt được xây dựng đồng bộ có cơ cấu
hợp lý bao quát hầu hết các nguồn thu, thực sự trở thành công cụ quan trọng của
Đảng và Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo hướng khuyến khích đầu tư,
khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất
kinh doanh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Hệ thống chính sách thuế được sửa đổi, bổ sung kịp thời đã góp phần đảm bảo
cho nền kinh tế tăng trưởng khá, bình quân 7%/năm, góp phần ổn định và nâng cao
đời sống nhân dân. Quy mô thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2006-2010 tăng gấp
2 lần so với giai đoạn 2001-2005. Tỷ lệ động viên thu NSNN bình quân đạt 23%
GDP (không bao gồm yếu tố tăng giá, do giá dầu thô ở mức cao và thu từ đất đai)
so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đặt ra là 21-22% GDP, trong
chức năng nhiệm vụ của các Ban, đơn vị thuộc Tổng cục Thuế; quy định về chức
năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Cục Thuế các tỉnh, thành phố, của Chi cục
thuế các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc Cục thuế; quy định về chức năng,
nhiệm vụ các phòng thuộc Cục thuế và các Đội thuộc Chi cục thuế.
Chức năng và nhiệm vụ của từng cấp cơ quan thuế được phân cấp như sau:
Tổng cục Thuế thực hiện các nhiệm vụ: Tham gia nghiên cứu, xây dựng các
văn bản quy phạm pháp luật về thuế, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế
theo phân cấp của Bộ Tài chính để hướng dẫn thực hiện trong phạm vi cả nước;
Nghiên cứu, xây dựng các quy trình nghiệp vụ quản lý thuế; hướng dẫn, chỉ đạo, tổ
chức thực các quy trình, biện pháp nghiệp vụ, quản lý biên chế, kinh phí, bảo đảm
thống nhất trong toàn ngành thuế. Tổng cục thuế cũng thực hiện chỉ đạo cơ quan
thuế các cấp thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật thuế,
trực tiếp tổ chức thanh tra thuế đối với những đối tượng nộp thuế lớn, có phạm vi
kinh doanh đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương hoặc quốc tế.
Cục Thuế bên cạnh nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo các Chi cục Thuế thực hiện
các chức năng quản lý thuế trên địa bàn, còn trực tiếp quản lý thuế đối với các
doanh nghiệp lớn và vừa, có phạm vi kinh doanh liên quan đến nhiều quận huyện,
tỉnh, thành phố; các doanh nghiệp thuộc diện phải hoàn thuế giá trị gia tăng; quản
lý những nguồn thu lớn, quan trọng, gồm các sắc thuế: giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc
biệt, thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân theo phương pháp khấu trừ tại
nguồn, các khoản phí, lệ phí của các tổ chức, doanh nghiệp thuộc tỉnh, thành phố
quản lý. Thực hiện chức năng thanh tra đối với tất cả các doanh nghiệp trên địa
bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Chi cục Thuế trực tiếp quản lý thuế đối với các tổ chức, cá nhân nộp thuế còn
lại, đó là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, các đối tượng nộp thuế thu nhập cá
nhân (không qua khấu trừ tại nguồn), các khoản thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển
quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, các loại phí, lệ phí phát sinh trên địa bàn quận,
huyện, thị xã và các sắc thuế mới theo chương trình cải cách của Nhà nước. Chi
cục Thuế thực hiện tất cả các chức năng quản lý thuế, trừ nhiệm vụ thanh tra thuế.
3. Thủ tục hành chính và tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế:
sử.
Thực hiện chủ trương của Đảng và nghị quyết của Quốc hội về cải cách hành
chính nói chung và thủ tục hành chính nói riêng, ngày 17/9/2001, Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tổng
thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 với mục tiêu chung là
“Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp,
hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc Nhà nước pháp
quyền Xã hội Chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” và một trong những mục tiêu
cụ thể là “Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà,
gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính
mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân”.
Với sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ sau khi triển khai Đề án 30
(tháng 7/2008), sự ủng hộ và quyết tâm của các bộ, ngành, địa phương và sự tham
gia tích cực của người dân và doanh nghiệp, cũng như huy động được các nguồn
lực trong xã hội để thực hiện nên cải cách thủ tục hành chính đã đạt được những
19
kết quả quan trọng, tích cực.
Đã công bố được Bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính tại 4 cấp
chính quyền và công khai trên mạng Internet, với trên 5.700 thủ tục hành chính,
trên 9.000 văn bản có quy định về thủ tục hành chính và trên 100.000 biểu mẫu
thống kê thủ tục hành chính.
Một số lượng lớn các thủ tục hành chính rườm rà, chồng chéo, không hợp lý,
dễ bị lợi dụng, lạm dụng đã được rà soát, loại bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung; nhiều thủ
tục hành chính mới được ban hành theo hướng công khai, minh bạch, thuận lợi,
hướng tới xây dựng một nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng
được yêu cầu quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, thu
hút đầu tư, được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Theo báo cáo đánh giá về môi trường kinh doanh năm 2011 của Ngân hàng thế
giới (WB) vừa được công bố, Việt Nam được xếp trong Top 10 nền kinh tế cải
cách tốt nhất, đứng thứ 78/183 quốc gia, tăng 10 bậc về môi trường kinh doanh.
cơ quan thuế trong những ngày cao điểm tiếp nhận tờ khai thuế và nhập dữ liệu,
lưu trữ hồ sơ của người nộp thuế. Từ tháng 8-2009, ngành Thuế đã thực hiện thí
điểm nộp hồ sơ khai thuế qua mạng cho gần 1.500 doanh nghiệp trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bà Rịa – Vũng Tàu, Ðà Nẵng và Vĩnh Phúc.
Ngoài ra, ngành Thuế đã tham gia thực hiện Dự án hiện đại hóa thu ngân sách
Nhà nước giữa các cơ quan thuế – kho bạc – hải quan – tài chính; phối hợp kho
bạc nhà nước và một số ngân hàng thương mại thực hiện dự án ‘Nộp thuế qua
ngân hàng’, giúp người nộp thuế giảm chi phí về thời gian, giấy tờ, bảo đảm tính
chính xác trong quá trình thu thuế vào ngân sách Nhà nước.
II. Những hạn chế và nguyên nhân quản lý thuế kém hiệu quả:
1. Một số hạn chế:
1.1. Về chính sách, pháp luật thuế:
Thủ tục hành chính còn rườm rà, gây khó khăn cho người nộp thuế; một số quy
định về thủ tục hồ sơ chưa đồng bộ với các văn bản pháp luật khác. Luật Quản lý
thuế hiện hành chủ yếu vẫn đảm nhiệm sứ mệnh giải quyết tình thế cho các luật về
chính sách thuế, nên không mang tính chất thực tiễn cao, chưa đáp ứng được
nguyện vọng của người nộp thuế, bởi vì nộp thuế không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là
quyền của người dân, doanh nghiệp đóng góp với Nhà nước, xã hội. Mối quan hệ
giữa người nộp thuế chưa trở thành mối quan hệ trung tâm của luật này nên các cơ
chế bảo đảm thực hiện vẫn dành quyền lợi hơn cho cơ quan thuế. Các quy định của
luật mang tính chất bắt buộc, cưỡng chế, chứ chưa khuyến khích thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế. Chính vì thế luật này chưa đạt được mục tiêu nâng cao nhận thức về
việc tuân thủ nghĩa vụ của hàng chục triệu người nộp thuế.
Hiện nay, việc người nộp Thuế thực hiện các giao dịch với cơ quan thuế thông
qua môi trường điện tử ngày càng phổ biến ( nộp hồ sơ khai thuế qua mạng )
nhưng luật quản lý thuế chưa quy định tính pháp lý đối với các giao dịch thông qua
môi trường này. Thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp
trong luật quản lý thuế chưa phù hợp với người nộp thuế có thu nhập ở nước ngoài
21
thường dài hơn thời hạn khai thuế theo quy định tại văn bản pháp luật về thuế của
nhân, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế GTVT phụ thuộc rất nhiều vào luật
quản lý thuế. Để luật quản lý thuế đi vào cuộc sống, được thực thi một cách có
hiệu quả trong thực tế thì ngày từ khi thiết kế, xây dựng, các nhà hoạch định phải
xác định đúng quan điểm, định hướng xây dựng luật là phục vụ người dân, theo đó
bộ máy quản lý vận hành chỉ là để thực thi thể chế và phục vụ nhân dân, chỉ khi
22
được tạo dựng trên nền tảng cơ bản đó, các quy định cụ thể của luật quản lý thuế
mới được soạn thảo đúng hướng, đúng mục tiêu để trở thành một đạo luật hoàn
chỉnh, vừa đáp ứng đầy đủ kịp thời yêu cầu của công tác quản lý, vừa phù hợp với
ý nguyện của người nộp thuế.Tính pháp lý của các quy định về quản lý thuế chưa
cao, dẫn đến hạn chế trong việc tuân thủ pháp luật thuế; các quy định về quản lý
thuế còn phân tán tại nhiều văn bản pháp luật, có nội dung còn chưa thống nhất;
quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp luật của các chủ thế tham gia quản lý
thuế chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng, ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác
quản lý thuế, công tác phòng chống, xử lý các hành vi vi phạm phát luật thuế,
chống thất thu thuế còn hạn chế.
1.2. Thủ tục hành chính thuế:
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Báo cáo giám sát của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành
chính. Trong một số lĩnh vực vẫn còn nhiều thủ tục hành chính rườm rà, chồng
chéo, chưa hợp lý, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.
Việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính tại các địa phương, đơn vị mặc dù
đã có chương trình, kế hoạch, nhưng chưa tạo được bước đột phá mạnh mẽ. Có
loại thủ tục hàn chính hợp pháp nhưng không hợp lý, chưa phù hợp với thực tế, kể
cả những “giấy phép con” do các cơ quan quản lý tự quy định; còn tình trạng ban
hành văn bản chứa quy phạm pháp luật, trong đó có những quy định không phù
hợp cả về thẩm quyền, hình thức và nội dung theo quy định của Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật.
Mô hình cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” ở
một số nơi còn lúng túng, chưa thực sự hợp lý trong một số lĩnh vực; sự phối hợp
quản lý ở các địa phương. Nhiều cán bộ thuế chưa nắm được kiến thức cơ bản về
luật thuế ngay trong lĩnh vực chuyên môn mình đảm nhận.
Thứ ba, điều kiện vật chất ngành thuế còn lạc hậu, cơ sở làm việc còn chật
chội, hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý chưa được nâng cấp. Việc trao
đổi thông tin giữa các ngành thuế với các ngành liên quan chưa chặt chẽ, không
đầy đủ làm giảm tính khả thi, chính xác và hiệu quả trong công tác quản lý thu
thuế.
Thứ tư, do ý thức của người dân về nghĩa vụ thuế còn thấp. Nhiều người dân
chưa hiểu biết đầy đủ về các loại thuế và sự tự giác còn chưa cao, chưa có sự hiểu
biết cặn kẽ về quyền lợi và nghĩa vụ của người nộp thuế nên có nhiều những biểu
hiện trốn tránh, thoái thác việc thực hiện pháp luật thuế. Bản thân những người
hiểu biết cũng cố tình làm sai và không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.
24
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở
Việt Nam hiện nay
I. Định hướng hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay:
Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 do Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt ngày 17/05/2011 (theo hành Quyết định số 732/2011/QĐ-TTg) là
văn bản pháp lý quan trọng là kim chỉ nam để ngành Thuế thực hiện cải cách, triển
khai các giải pháp đồng bộ để đạt được mục tiêu của Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 -
2020.
Quyết định số 732/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 và quyết định số
2162/QĐ-BTC ngày 08/9/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về phê duyệt Kế
hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2015 và các đề án triển khai thực
hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020.
Trong lĩnh vực cải cách chính sách thuế, sẽ xây dựng và thực hiện chính sách
huy động từ thuế, phí và lệ phí hợp lý nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng khả
năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước, khuyến khích xuất