Điều kiện lao động trong doanh nghiệp vừa và nhỏ - Pdf 14

Điều kiện lao động trong doanh nghiêp vừa và nhỏ
Phần nội dung
Chương I:Cơ sở lý luận
1.1Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ(DNNVV)
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn,
lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng
căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và
doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu
nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số
lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300
lao động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009
của Chính phủ, qui định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở
xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được
coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh
nghiệp vừa. [1].
1.2 Ý nghĩa của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường
chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ
xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 96%). Vì thế, đóng góp của họ
vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể.
Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ
và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng
thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì thế, doanh
nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế.
Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ, nên
dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động.
Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và
vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp
thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
Sv : Lê Hữu Công Page 1

nhập” do Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ
Sv : Lê Hữu Công Page 2
Điều kiện lao động trong doanh nghiêp vừa và nhỏ
lao động tổ chức đã có nhiều báo cáo tham luận và ý kiến của các chuyên gia và
nhà khoa học về vấn đề này.
Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức về tăng trưởng kinh tế và bảo
vệ môi trường. Nền sản xuất công nghiệp còn mang nặng dấu ấn của một nền công
nghiệp lạc hậu về công nghệ và thiết bị. Đa số là các cơ sở sản xuất (CSSX) vừa và
nhỏ nằm rải rác trong các đô thị và khu dân cư, cơ cấu ngành công nghiệp không
hoàn chỉnh. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay nước ta có khoảng 200.000
doanh nghiệp với gần 10 triệu người lao động hoạt động trong mọi lĩnh vực sản
xuất. Trước sự gia tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp, ngành nghề sản
xuất mà phần nhiều có công nghệ chắp vá, nhà xưởng chật chội cộng với việc phân
bố các cơ sở sản xuất thiếu qui hoạch đã đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, ẩn chứa
nhiều nguy cơ gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Kết quả điều tra, khảo sát trong 7 năm vừa qua của Viện NCKHKTBHLĐ đối với
2.000 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề trên toàn quốc
với nhiều ngành sản xuất, nhiều loại hình doanh nghiệp (quốc doanh, ngoài quốc
doanh, liên doanh ) cho thấy, trừ một số ít các CSSX có môi trường lao động ở
mức hợp vệ sinh (có giá trị các yếu tố gây ô nhiễm nhỏ hơn hoặc bằng tiêu chuẩn
cho phép) đa số đều bị ô nhiễm từ mức độ ô nhiễm nhẹ đến ô nhiễm rất nhiều. Kết
quả đo đạc các yếu tố trong môi trường lao động từ năm 2005-2008 với tần suất là
100 CSSX/năm, yếu tố độc hại vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép chủ yếu là bụi,
tiếng ồn, ánh sáng, hơi khí độc, nhiệt ẩm, rung động và các bức xạ có hại.
Công nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là công nghệ lạc hậu, chỉ có rất ít CSSX có thiết
bị làm giảm bụi còn hầu như chưa có thiết bị xử lý khí thải độc hại. Các CSSX
thường phân tán, nhiều cơ sở lại nằm trong khu vực nội thành đông dân cư nên vấn
đề ô nhiễm môi trường là đáng lo ngại.
2.2 nguyên nhân Điều kiện lao động tại doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ
Trong đó nhấn mạnh đến các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất

Đây là việc làm nhằm tạo điều kiện thuận lợi, qua đó sẽ làm giảm được những chi
phí cơ hội cho cả các doanh nghiệp cũng như các cơ quan chức năng. Để thực hiện
được tốt công việc này, trước hết cần phải chú ý đến khâu bồi dưỡng và đào tạo
cán bộ. Trình độ chuyên môn yếu và ý thức kém của cán bộ thực thi công vụ là sự
tồn tại khá phổ biến hiện nay. Đây là nguyên nhân trực tiếp tác động đến hiệu quả
quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng. Để khắc phục tồn tại này, ngoài việc
nâng cao trình độ cán bộ, cần có chế tài hợp lý đối với cán bộ khi thực hiện công
vụ mà mắc phải các sai phạm.
Giải pháp thứ ba: Nâng cao chất lượng của các cơ sở đào tạo
Đây là cơ sở để nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng nguồn lao động, tạo điều
kiện cho người lao động tìm kiếm việc làm ngay tại địa bàn khi các doanh nghiệp
có nhu cầu; điều này cũng giúp thu hút đầu tư khi nguồn nhân lực của địa phương
có chất lượng, nguồn cung của địa phương ổn định. Để có thể thực hiện tốt giải
pháp này, tỉnh nên khuyến khích sự liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp với các cơ
sở đào tạo. Có như vậy các cơ sở đào tạo mới có nắm bắt được nhu cầu thực tế về
lao động, đồng thời mới nâng cao được chất lượng của nguồn cung lao do đào tạo
đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tỉnh cũng cần phải có
chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các giáo viên học tập, nâng cao trình độ,
khuyến khích những công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao.
Sv : Lê Hữu Công Page 4
Điều kiện lao động trong doanh nghiêp vừa và nhỏ
Bên cạnh việc chăm lo nâng cao chất lượng nguồn lao động, hiện nay chúng Nghệ
An đang có chương trình đào tạo, hỗ trợ kỹ năng kinh doanh cho các doanh nhân.
Có thể nói, đây là một chương trình thiết thực, đáp ứng được nhu cầu của các
doanh nhân trong việc nâng cao kiến thức quản lý doanh nghiệp, trau dồi kỹ năng
kinh doanh, nâng cao kiến thức trong việc lập và thực thi các dự án kinh doanh.
Phổ biến được các thông tin về các chính sách của Nhà nước, các chính sách của
địa phương; các cam kết của Việt Nam trong quá trình hội nhập WTO. Hiện nay
chương trình này đã được khởi động. Vì vậy chưa thể có kết luận về hiệu quả của
nó đối với các doanh nhân Nghệ An cũng như đối với các doanh nghiệp. Dù vậy,

tỉnh, trung tâm xúc tiến đầu tư, trung tâm xúc tiến thương mại, các trung tâm
Sv : Lê Hữu Công Page 5
Điều kiện lao động trong doanh nghiêp vừa và nhỏ
khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm…Mục tiêu của các trung tâm này là hỗ trợ
doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất trên cơ sở các kế hoạch phát triển, và nhu
cầu thực tế của các doanh nghiệp. Vì thế, cần đa dạng hoá các hình thức hỗ trợ
kinh doanh: Hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ kiến thức về ngành nghề, hỗ trợ kiến thức về
phân tích thị trường, hỗ trợ về công nghệ và chuyển giao công nghệ, hỗ trợ bồi
dưỡng năng lực cho doanh nhân, doanh nghiệp…
Thực hiện Chỉ thị số 27/2003/CT-TTg, Quyết định 94/2002/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ, UBND tỉnh cần tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ, bộ máy,
cán bộ các trung tâm để sắp xếp, bổ sung, điều chỉnh hợp lý về tổ chức, về chức
năng nhiệm vụ. Qua đó sớm xây dựng cơ chế phối hợp trong việc trợ giúp phát
triển doanh nghiệp và nên tập trung một đầu mối theo tinh thần Quyết định
94/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
3.2. Về phía các DNN&V.
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường đầy biến động, tính cạnh tranh cao, tính
chất cạnh tranh gay gắt, nên những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả sẽ bị
đào thải, những doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, tính thích nghi cao sẽ tồn tại
và phát triển. Vì thế, để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải dần
hoàn thiện mình để thích nghi với thực tế.
Một là: Phát huy vai trò của chủ doanh nghiệp. Các DNN&V của Việt Nam, nhất
là các DNN&V Nghệ An nói riêng (nhất là các DNN&V thuộc khu vực kinh tế tư
nhân) có một đặc điểm là: Người chủ sở hữu vốn cũng đồng thời là người trực tiếp
quản lý, điều hành doanh nghiệp. Vì thế, người chủ doanh nghiệp cần biết dùng
đúng người, đúng việc, biết kết hợp các nguồn lực đầu vào một cách hợp lý. Khi
chất lượng các nguồn lực đầu vào không như nhau cả về tính chất và trình độ, nếu
không được sử dụng hiệu quả thì hoạt động của doanh nghiệp sẽ không đạt mục
đích, thậm chí có thể đến bờ vực của sự phá sản. Vì thế, trong vai trò đứng đầu
quản lý, người chủ doanh nghiệp phải coi yếu tố con người trong doanh nghiệp là

Thực tế cho thấy, khách hàng đánh giá lợi ích của mình thông qua những gì mà sản
phẩm của doang nghiệp mang lại. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải quan tâm cải tiến
tiện ích của sản phẩm. Doanh nghiệp cần rà soát và tìm ra khách hàng và thị trường
tiềm năng. Các DNN&V Nghệ An nói riêng đang có một thị trường được đánh giá
là có dung lượng rất lớn, trên 3 triệu dân với sức mua đang lên. Đổi mới và cải tiến
quy trình hoạt động và tổ chức của doanh nghiệp để có những bước đột phá trong
quy trình hoạt động nhằm đưa ra sản phẩm mới, đưa sản phẩm đến với người tiêu
dùng nhanh nhất, hiệu quả nhất. Với các giải pháp này, doanh nghiệp sẽ có cơ hội
tiếp cận với các nguồn lực đầu vào của sản xuất một cách dễ dàng hơn, hiệu quả
hơn. Qua đó doanh nghiệp sẽ ngày càng nâng cao hơn hiệu quả hoạt động, góp
phần cùng toàn tỉnh giải quyết những vấn đề về kinh tế-xã hội, sớm đưa Nghệ An
sớm trở thành một trong tỉnh “Khá” như lúc sinh thời Bác Hồ đã căn dặn ./.
Sv : Lê Hữu Công Page 7
Điều kiện lao động trong doanh nghiêp vừa và nhỏ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
điều tra của Cục An toàn lao động 2011(Bộ LĐ-TB&XH)
Theo PGS.TS. Lê Vân Trình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao
động (NCKHKTBHLĐ) bên cạnh những thành tựu về kinh tế - xã hội,
Theo êu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới
Sv : Lê Hữu Công Page 8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status