VÀI SUY NGHĨ VỀ TRÁCH NHIỆM
XÃ HỘI CỦA DOANH NHÂN VÀ
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Việt Nam là một quốc gia chịu ảnh hưởng của văn
hóa nho giáo, nơi mà quan niệm về buôn bán không
phải là một giá trị được khuyến khích thể hiện trong
việc đề cao người quân tử, một mẫu hình con người
sống thanh đạm, văn hay chữ tốt cốt cách phong lưu
và đặc biệt xa rời những nhu cầu vật chất tầm
thường. Nhưng trong lịch sử dân tộc vẫn có những
doanh nhân xứng tầm với địa vị là một nhân vật văn
hóa, không chỉ thành công trong việc buôn bán giao
thương mà vượt lên lợi ích kinh tế là quá trình giao
lưu văn hóa thể hiện trách nhiệm xã hội cao cả đối với
dân tộc.
Trong thời kỳ Phong kiến, cái giai đoạn được
nhiều người nhận định là sự thịnh hành nhất của
chính sách “bế quan tỏa cảng” thì vai trò của những
nhà buôn đất Việt không chỉ đem đến sự giàu có sung
túc cho gia đình mà còn là một nhân tố kích thích nền
thương mại, mở đầu cho quá trình giao lưu văn hóa
sâu rộng hơn với thế giới phương Tây.
Lịch sử thì luôn tuân theo quy luật khách quan
của nó. Khi mà các giá trị văn hóa phương Tây đang
có một sức hút mạnh mẽ vươn cái vòi Bạch tuộc của
mình đến những vùng đất xã xôi Viễn Đông. Thì sự
ảnh hưởng của nó không chỉ là kiểm soát quyền lực
nhà nước mà âm mưu về một sự đồng hòa văn hóa
đã được thực hiện và thành công ngoài sự mong đợi.
Quả thực không thể ngờ được rằng Nho giáo, cái hệ
giá trị, nền tảng học thuyết chính trị - xã hội dẫn
tiếc. Đáng tiếc đối với chúng ta đã để lỡ đi một cơ hội
phát triển bằng chính nguồn lực sẵn có của mình với
giai đoạn ý chí chính trị bao trùm lên mọi mặt đời
sống bằng cơ chế bao cấp. Cái cơ chế mà nó không
bao giờ đứng cùng phe với yếu tố sáng tạo và sự đột
phá, một trong những đặc trưng của doanh nhân.
Chính vì vậy, chúng ta đã không phát huy được vai trò
to lớn của những người tạo ra và khuyến khích sự
trao đổi vật chất trong xã hội.
Tuy nhiên, chúng ta không bao giờ chịu dừng lại,
một lần nữa minh triết dân tộc lại được tỏa sáng bằng
công cuộc đổi mới vào cuối thập niên 80. Thực sự
đây là một làn gió mới thổi vào xã hội, cởi trói cho
những ý chí làm giàu vốn xưa nay còn nung nấu.
Song hành cùng thành phần kinh tế nhà nước, các
thành phần kinh tế khác đại diện cho nhiều hình thức
sở hữu khác nhau có hội tỏa sáng thể hiện sức mạnh
và vẻ đẹp của mình. Khía cạnh kinh tế không bao giờ
là một sự xa cách, lại càng không thể là sự đối chọi
với giá trị nhân văn mà ngược lại nó bổ trợ cho nhau
rất đồng điệu. Kinh tế đảm bảo nền tảng vật chất cho
nhân văn, đồng thời nhân văn làm cho kinh tế trở nên
thân thiện và bền vững hơn. Điều đó đã nói rõ sự cần
thiết song hành tồn tại hai nhiệm vụ quan trọng của
doanh nghiệp là chức năng lợi ích và trách nhiệm đối
với xã hội.
Hậu kỳ đổi mới nền kinh tế nước ta như một thiếu
nữ thanh xuân tràn đầy nhựa sống, năng động và sẵn
sàng vươn lên. Đây cũng là lúc các triết lý quản trị
doanh nghiệp cũng cần đổi mới để phù hợp với điều
• Việc một công ty áp dụng đồng thời nhiều bộ quy
tắc ứng xử không mang lại hiệu quả.
• Thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các
chuẩn mực trách nhiệm xã hội (đặc biệt là đối với các
DNNVV)
• Sự khác biệt giữa Bộ luật lao động và bộ quy tắc
ứng xử của khách đặt hàng gây nhầm lẫn cho doanh
nghiệp, ví dụ trong vấn đề giờ làm thêm hay hoạt
động của công đoàn.
• Sự thiếu minh bạch trong việc áp dụng trách nhiệm
xã hội trên thực tế đang cản trở lợi ích thị trường tiềm
năng mang lại cho doanh nghiệp.
• Mâu thuẫn trong các quy định của nhà nước khiến
cho việc áp dụng bộ quy tắc ứng xử không đem lại
hiệu quả mong muốn, ví dụ như mức lương, phúc lợi
và các điều kiện tuyển dụng.
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy nhiều vấn đề trắc
trở trong tiến trình thực hiện trách nhiệm xã hội của
các doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay. Trong đó có
những nguyên do từ chính nhận thức chưa cao của
chính các doanh nghiệp, đến sự thiếu hộ trợ về thể
chế của nhà nước cũng chưa tạo được cơ chế hợp
tác của cộng đồng.
Phần lộn xộn
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR - Corporate Social
Responsibility) đang là xu thế ngày càng lớn mạnh trên thế giới
nhưng vẫn còn rất mới mẻ ở Việt Nam, mới chỉ tập trung chủ yếu ở
ngành da giầy và may mặc do yêu cầu của các khách đặt hàng nước
ngoài.
Rõ ràng hàng hóa Việt Nam khó có thể cạnh tranh về giá cả hay số
Vậy phải hiểu chính xác CSR là gì? Đã có rất nhiều định nghĩa được
đưa ra như “Trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh
nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã
hội đang phổ biến” (Prakash, Sethi, 1975: 58-64). Hay “Trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế,
luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời
điểm nhất định” (Archie.B Carroll, 1979). Maignan và Ferrell cũng
đưa ra khái niệm súc tích của riêng họ về CSR: “Một doanh nghiệp có
trách nhiệm xã hội khi quyết định và hoạt động của nó nhằm tạo ra
và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên
quan”. Tuy nhiên theo quan điểm cá nhân tác giả, định nghĩa của
Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới về CSR là
hoàn chỉnh và rõ ràng nhất.
Theo đó, CSR là “sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc
phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng
cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia
đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh
nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”. Khi cạnh tranh ngày
càng khốc liệt, đòi hỏi yêu cầu từ khách hàng ngày càng cao và xã
hội có cái nhìn ngày càng khắt khe đối với doanh nghiệp thì các
doanh nghiệp muốn phát triển bền vững phải luôn tuân thủ những
chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường lao động,
bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, đào tạo và
phát triển nhân viên, góp phần phát triển cộng đồng,…
Lợi ích của hoạt động CSR trong doanh nghiệp
Tục ngữ Trung Hoa có câu: “ Cho người một con cá, bạn nuôi người
đó một ngày. Dạy người đó câu cá, bạn nuôi sống anh ta một đời”.
Nếu chỉ tính trong ngắn hạn, lợi ích mà CSR có thể đem lại là các đơn
đặt hàng từ những công ty mua hàng đòi hỏi các tiêu chuẩn về CSR.
Tuy nhiên chi phí để áp dụng chương trình CSR có thể làm ảnh
công.
• CSR cần được áp dụng trong mọi khía cạnh hoạt động của công
ty và tất cả các nhóm có quyền lợi liên quan.
Doanh nghiệp cần hiểu rõ về CSR
Tuy nhiên công ty không thể chỉ sống nhờ vào CSR. Để phát triển lâu
dài, công ty cần tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận và CSR có thể song
hành, thực tế là trong dài hạn, việc quản lý doanh nghiệp theo hướng
có trách nhiệm với xã hội thường đem lại tăng trưởng bền vững và
lợi nhuận lớn hơn.
Một số điều doanh nghiệp cần hiểu rõ về CSR:
• CSR không phải là một mánh khóe Marketing để quảng cáo hình
ảnh cho doanh nghiệp.
• CSR không chỉ là hành động từ thiện.
• CSR không phải chỉ áp dụng được ở một bộ phận trong tổ chức
mà không áp dụng được ở các bộ phận khác.
• CSR không thể thay thế cho các sản phẩm và dịch vụ chất
lượng tốt của doanh nghiệp.
• CSR không thay thế được cho lợi nhuận.
Có những e ngại rằng áp dụng CSR ở doanh nghiệp vừa và nhỏ
(DNVVN) gặp nhiều khó khăn hơn những doanh nghiệp lớn vì các
nguồn tài nguyên của DNVVN quá hạn chế không thể đáp ứng được
những chương trình CSR đắt tiền. Quan điểm đó không hoàn toàn
chính xác, một doanh nghiệp nhỏ mới thành lập nếu muốn thành
công và phát triển bền vững thì không thể không tham gia vào các
hoạt động mang tính trách nhiệm đối với xã hội ngay từ đầu.
Hơn nữa, chương trình CSR không nhất thiết phải tốn kém. CSR là
quan trọng nhưng không phải ở tờ giấy chứng nhận mà ở chính quy
trình thực hiện nó. Nếu doanh nghiệp chỉ chạy theo hình thức mà
không thực thi nghiêm túc thì CSR không còn ý nghĩa. Doanh nghiệp
sẽ thành công trong việc áp dụng CSR nếu có sự cam kết của ban
dựng năng lực sản xuất.
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh và
cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội và không ít thách thức. Khi lợi thế về
giá nhân công rẻ hay nguồn tài nguyên phong phú không còn là của
riêng Việt Nam nữa thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn tham gia
sân chơi lớn buộc phải bổ sung thêm cho mình năng lực cạnh tranh
mới. Nếu sớm được nhận thức và áp dụng, CSR chính là một công cụ
đắc lực giúp cho doanh nghiệp nội địa chiếm được ưu thế so với các
đối thủ cạnh tranh trong khu vực.
Theo 360.chungta.com
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gì?
Khái niệm này có vẻ mới lạ nhưng thực ra các hoạt động vì trách nhiệm xã hội đã được các doanh nhân
thực hiện từ lâu. Ngay trong lịch sử Việt Nam, các doanh nhân như Lương Văn Can, Trịnh Văn Bô đã từng
lấy mục đích phụng sự xã hội làm đạo lý cho các hoạt động kinh doanh của mình. Trên thế giới, các doanh
nhân như Bill Gates, các chính trị gia như Bill Clinton cũng đang nỗ lực thực hiện trách nhiệm xã hội. Người
ta cũng đã thể chế hóa khái niệm và hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thông qua việc xây
dựng và áp dụng các bộ tiêu chuẩn như: SA8000 (Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội); WRAP (Trách nhiệm
toàn cầu trong ngành sản xuất may mặc); ISO 14001 (Hệ thống quản lý môi trường trong doanh nghiệp;
hay FSC (Hệ thống tiêu chuẩn bảo vệ rừng bền vững.)
Một định nghĩa đang được sử dụng phổ biến tại Việt Nam: “
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết
đóng góp cho sự phát triển bền vững của xã hội thông qua các hoạt động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng
cuộc sống con người, an sinh cho cộng đồng
”. Theo định nghĩa này, trách nhiệm xã hội có phạm vi rộng, đa
dạng hóa về hình thức: từ việc tuân thủ pháp luật đến việc tôn trọng các cam kết với đối tác, khách hàng
hay việc tuân thủ những ưu tiên trong hành động để bảo tồn và phát triển cộng đồng.
Tại sao doanh nghiệp nên thực hiện trách nhiệm xã hội?
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách
Bài viết tập trung phân tích nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, vai trò của việc thực hiện trách
nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và một số vấn đề đặt ra trong việc thực thi trách nhiệm xã hội của các
đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định” (Archie. B Carroll, 1979), v.v
Hiện đang tồn tại hai quan điểm đối lập nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Những người ủng hộ quan
điểm thứ nhất cho rằng, doanh nghiệp không có trách nhiệm gì đối với xã hội mà chỉ có trách nhiệm với cổ đông
và người lao động của doanh nghiệp, còn nhà nước phải có trách nhiệm với xã hội; doanh nghiệp đã có trách
nhiệm thông qua việc nộp thuế cho nhà nước. Trái lại, những người khác lại có quan điểm cho rằng, với tư cách là
một trong những chủ thể của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đã sử dụng các nguồn lực của xã hội, khai
thác các nguồn lực tự nhiên và trong quá trình đó, họ gây ra những tổn hại không tốt đối với môi trường tự nhiên.
Vì vậy, ngoài việc đóng thuế, doanh nghiệp còn có trách nhiệm xã hội đối với môi trường, cộng đồng, người lao
động, v.v
Còn ở Việt Nam, trong những năm gần đây, người ta thường sử dụng định nghĩa của Nhóm phát triển kinh tế tư
nhân của Ngân hàng thế giới về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Theo đó, “Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh
tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên
gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã
hội”(1).
Nói cách khác, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân theo những chuẩn mực về bảo vệ môi
trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân
viên và phát triển cộng đồng. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thể hiện một cách cụ thể trên các yếu tố,
các mặt, như: 1. Bảo vệ môi trường; 2. Đóng góp cho cộng đồng xã hội; 3. Thực hiện tốt trách nhiệm với nhà
cung cấp; 4. Bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; 5. Quan hệ tốt với người lao động; và 6. Đảm bảo
lợi ích cho cổ đông và người lao đông trong doanh nghiệp. Trong đó, bốn yếu tố đầu tiên thể hiện trách nhiệm bên
ngoài của doanh nghiệp, còn hai yếu tố cuối thể hiện trách nhiệm bên trong, nội tại của doanh nghiệp. Tất nhiên,
sự phân chia thành trách nhiệm bên ngoài và trách nhiệm bên trong chỉ có ý nghĩa tương đối và không thể nói
trách nhiệm nào quan trọng hơn trách nhiệm nào.
Với những nội dung cụ thể như vậy về trách nhiệm xã hội thì việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
không chỉ làm cho doanh nghiệp phát triển bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội nói
chung.
Như chúng ta đều biết, ở Việt Nam, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến lược và được đề ra từ những
năm 80 của thế kỷ XX. Cùng với thời gian, khái niệm phát triển bền vững đã có sự thay đổi về nội hàm và ngày
càng được bổ sung thêm những nội dung mới.
phát triển nhanh và bền vững(4).
Có thể nói, đây là những nội dung cơ bản trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam. Chiến lược đó đã
thể hiện khá rõ sự kết hợp giữa quan điểm truyền thống, kinh điển và quan điểm mới, riêng của Việt Nam.
Trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy rằng:
Thứ nhất , yếu tố ổn định chính trị – xã hội được xem là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững.
Thứ hai , chiến lược phát triển nhanh, bền vững tập trung nâng cao chất lượng phát triển, kết hợp giữa phát triển
kinh tế với việc phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm,
cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, với việc coi trọng bảo vệ và
cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển.
Thứ ba , chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam đã đề cập một cách khá toàn diện các khía cạnh khác nhau
của sự phát triển, trong đó nổi lên việc giải quyết hài hòa các mối quan hệ, như hài hòa giữa phát triển nhanh và
bền vững, giữa tăng trưởng về số lượng và nâng cao chất lượng, giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo
chiều sâu; hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ và
cải thiện môi trường, v.v Hài hòa là một trong những nội dung quan trọng của chiến lược phát triển bền vững.
Thứ tư , vấn đề trọng tâm, mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển bền vững chính là vấn đề dân sinh. Điều đó
được thể hiện trong nội dung của chiến lược mà chúng tôi vừa trình bày. Chiến lược phát triển nhanh và bền vững
đã chú trọng đến chất lượng của sự tăng trưởng kinh tế, những mục tiêu của sự tăng trưởng hướng tới sự phát triển
toàn diện của con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống,
khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, với việc coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường
ngay trong từng bước phát triển. Rõ ràng, mục tiêu của sự tăng trưởng như vậy là nhằm giải quyết ngày càng tốt
hơn vấn đề dân sinh, bảo đảm cho mọi người dân có cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Trên thực tế, chiến lược phát
triển nhanh, bền vững là phương thức hữu hiệu bảo đảm cho sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Rõ ràng là, với mục tiêu của phát triển bền vững như vậy, việc thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp góp phần
quan trọng vào chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam.
Mặt khác, khi tiếp cận trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, chúng ta cần tiếp cận cả trên phương diện đạo đứclẫn
phương diện pháp lý. Chúng ta không nên chỉ hiểu trách nhiệm của doanh nghiệp ở khía cạnh đạo đức của chủ
doanh nghiệp, ở công tác từ thiện của doanh nghiệp, mà cần hiểu cả ở khía cạnh pháp lý, tức thực thi trách nhiệm
xã hội là một yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp. Việc kết hợp cả hai phương diện đạo đức và pháp lý là
cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
trong những chi nhánh kinh doanh lãi nhất tập đoàn(6).
Thứ ba , thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của công ty. Trách nhiệm
xã hội có thể giúp doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu và uy tín đáng kể. Đến lượt nó, uy tín giúp doanh nghiệp
tăng doanh thu, hấp dẫn các đối tác, nhà đầu tư và người lao động. Trên thế giới, những công ty khổng lồ đang chi
một khoản tiền rất lớn để trở thành hình mẫu kinh doanh lý tưởng. Chẳng hạn, hãng điện tử dân dụng Best Buy đã
có chương trình tái chế sản phẩm; hãng cà phê nổi tiếng Starbucks đã và đang bắt tay vào các hoạt động cộng
đồng; hãng nước khoáng nổi tiếng của Pháp Evian phân phối sản phẩm của mình trong những chai nước thân
thiện với môi trường. Những tập đoàn đa quốc gia như The Body Shop (tập đoàn của Anh chuyên sản xuất các sản
phẩm dưỡng da và tóc) và IKEA (tập đoàn kinh doanh đồ dùng nội thất của Thụy Điển) là những ví dụ điển hình.
Cả hai công ty này đều nổi tiếng không chỉ vì các sản phẩm có chất lượng và giá cả hợp lý của mình, mà còn nổi
tiếng là các doanh nghiệp có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội(7).
Thứ tư , thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần thu hút nguồn lao động giỏi. Nguồn lao động giỏi, có năng lực là
yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Có một thực tế là, ở các nước đang phát
triển, nguồn nhân lực được đào tạo có chất lượng cao không nhiều. Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là làm
thế nào thu hút, giữ chân họ và phát huy hết khả năng của họ trong hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Do vậy, việc thu hút và giữ được nhân viên có chuyên môn tốt là một thách thức lớn đối với các
doanh nghiệp. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, những doanh nghiệp trả lương thỏa đáng và công bằng,
tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, có chế độ bảo hiểm y tế và môi trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút và
giữ được nguồn nhân lực có chất lượng cao.
Tất cả những điều nói trên là cơ sở để luận chứng cho sự cần thiết phải thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp nói chung, đồng thời là những kinh nghiệm bổ ích, có giá trị tham khảo cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Trên thực tế, ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mặc dù là vấn đề mới mẻ, nhưng bước đầu
đã được một số bộ, ngành quan tâm, chú ý. Bằng chứng là, từ năm 2005, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương cùng với các hiệp hội Da giày, Dệt may trao giải
thưởng “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hướng tới sự phát triển bền vững” nhằm tôn vinh các doanh nghệp
thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn ở
Việt Nam đã nhận thấy rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã trở thành một trong những yêu cầu không
thể thiếu được đối với doanh nghiệp, bởi lẽ, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nếu doanh nghiệp
không tuân thủ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ không thể tiếp cận được với thị trường thế giới. Nhiều
doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội đã mang lại những hiệu quả thiết thực trong sản xuất kinh doanh.
việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng gây ra những khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp
do thiếu nguồn vốn và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội. Điều này đặc biệt khó khăn cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khi đó hầu hết các doanh nghiệp ở Việt Nam là những doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
Nói một cách toàn diện hơn, theo nghiên cứu năm 2002 của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, những rào cản và
thách thức lớn nhất cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm:
1. Nhận thức về trách nhiệm xã hội trong và giữa các doanh nghiệp Việt Nam còn có sự khác nhau khá lớn.
2. Năng suất lao động bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng bộ nhiều bộ quy tắc ứng xử (CoC).
3. Thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (đặc biệt là
��ối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ).
4. Sự khác biệt giữa Bộ luật lao động và bộ quy tắc ứng xử của khách đặt hàng gây nhầm lẫn cho doanh nghiệp,
chẳng hạn như vấn đề làm thêm hay hoạt động của công đoàn.
5. Sự thiếu minh bạch trong việc áp dụng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trên thực t�� đang cản trở lợi ích thị
trường tiềm năng mang lại cho doanh nghiệp.
6. Mâu thuẫn trong các quy định của nhà nước khiến cho việc áp dụng bộ quy tắc ứng xử không đem lại hiệu quả
mong muốn, ví dụ như mức lương, phúc lợi và các điều kiện tuyển dụng(9).
Những nguyên nhân được liệt kê ra trên đây có thể quy lại thành ba nguyên nhân chính, đó là nguyên nhân về
nhận thức,nguyên nhân kinh tế và nguyên nhân pháp lý. Do đó, để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, cần
bám sát những nguyên nhân nói trên để đề ra những giải pháp phù hợp. Cụ thể là:
Thứ nhất , cần tuyên truyền, giáo dục cho tất cả các doanh nghiệp, trước hết là các chủ doanh nghiệp về trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp, phải làm cho họ hiểu rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không phải chỉ
bó gọn trong công tác từ thiện. Công tác tuyên truyền, giáo dục rất quan trọng, bởi tất cả những hành vi của con
người đều thông qua ý thức của con người, đều do ý thức của họ điều khiển. Do đó, vấn đề đặt ra là, phải làm sao
cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trở thành động cơ bên trong của các chủ doanh nghiệp.
Việc thực hiện trách nhiệm xã hội trước hết cần được xem là một hành vi đạo đức và được điều khiển bằng động
cơ đạo đức. Đây chính là giải pháp bên trong đạo đức.
Thứ hai , cần xây dựng một hành lang pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp phải thực thi trách nhiệm xã hội một
cách đầy đủ và nghiêm túc. Điều này liên quan đến trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo môi trường và khung
pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động. Khung pháp lý chính là biện pháp có hiệu lực nhất đối với việc thực hiện
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; đồng thời, là giải pháp hỗ trợ đắc lực cho giải pháp về đạo đức, làm cho các
mình tức là để làm nên cái Tầm của mình thì bản thân mình phải có cái Tâm. Cái Tài của một
người làm kinh doanh giỏi là tạo được chỗ đứng không những vững chắc mà còn phải nổi bật
cho sản phẩm của mình trong lòng khách hàng, và để làm được mục tiêu đó thì nhà kinh
doanh phải có cái Tâm tức - Trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh. Hai chữ T đầu tiên sẽ
xây dựng cho chữ T thứ ba.
GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU VÀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
Thương hiệu trong nền kinh tế thị trường
Theo cơ chế cạnh tranh của thị trường tự do, trong bất cứ ngành hàng nào, từ hàng tiêu dùng
nhanh, hàng điện máy, ngành quần áo thời trang hay các ngành dịch vụ,… các thương hiệu
luôn xuất hiện, cạnh tranh và tồn tại trong những phân khúc giá khác nhau.
Lấy ví dụ tại thị trường Việt Nam. Trong ngành dầu gội, giá bán của Sunsilk đắt gần gấp 3 lần
giá bán của dầu gội đầu Mỹ Hảo. Trong ngành điện máy, giá bán của tivi Sony đắt gấp đội so
với giá của nhãn hiệu nội địa Darling. Trong ngành dịch vụ quảng cáo hay trong dịch vụ về
luật, giá dịch vụ của các hãng nước ngoài đắt hơn từ 3 đến 10 lần so với giá của các công ty
của Việt Nam.
Tuy có mức chênh lệch giá rất lớn giữa các thương hiệu ở phân khúc thấp so với phân khúc cao
cấp, nhưng càng ngày, chất lượng sản phẩm (hay dịch vụ) giữa các phân khúc càng bớt khác
biệt. Ngày nay, nếu bỏ nhãn hiệu đi và cho người khách hàng dùng thử, nhiều loại sản phẩm
và dịch vụ có giá rất chênh nhau những lại hầu như không tạo ra sự khác biệt.
Trên thực tế các tập đoàn đa quốc gia đã chuyển khâu sản xuất của nhiều loại sản phẩm và
các ngành dịch vụ sang các nước đang phát triển, nơi mà giá nhân công rẻ hơn tại thị trường
tiêu thụ nhiều lần.
Chuyện gì đã xảy ra khi mức chênh lệch giá không thể hiện ở các ích lợi của sản phẩm hay của
dịch vụ? Và tại sao người ta phải bỏ thêm những khoản tiền lớn để được sử dụng thương hiệu
mà họ yêu thích?
Vấn đề về lợi nhuận và đạo đức kinh doanh? Hiện nay bất cứ nhà kinh doanh nào cũng đều
muốn nâng giá của sản phẩm, hay của dịch vụ lên càng cao càng tốt. Khi một sản phẩm có giá
cao, rõ ràng khả năng mang lại lợi nhuận sẽ tăng lên đáng kể, mà công sức và thời gian và chi
phí kinh doanh sẽ giám xuống. Còn gì bằng khi mà một chai bia Heineken có giá bán gần gấp
3 lần chai bia Sài Gòn (trên thực tế mức lợi nhuận sẽ chênh nhau đến cả chục lần). Tại sao
tiền luôn được ưa chuộng, và ngày càng được ưa chuộng hơn. Trong một đợt phỏng vấn bỏ túi
với khoảng 60 phụ nữ được hỏi ý kiến, tất cả mọi người đều chọn Sunsilk làm dầu gội thay vì
chọn một nhãn dầu nội địa khác có chất lượng tốt và giá rẻ hơn. Trong cuốn “The Cult of The
Luxury Brand” (tạm dịch Mốt Xài Hàng Hiệu Sang Trọng) nêu ra một số dẫn chứng về xu
hướng thích xài hàng hiệu của người tiêu dùng. Đặc biệt tại Châu Á, người dân ngày càng thích
chọn mua những loại hàng hóa có nhãn hiệu rất đắt tiền (có đến 94% phụ nữ ở Tokyo sử dụng
sản phẩm của Louis Vuitton – một nhãn hiệu hàng hóa thuộc loại đắt nhất thế giới). Hẳn việc
ưa chuộng các sản phẩm giá cao sẽ cho cảm nhận là sản phẩm tốt hơn, dẫn đến việc sẽ hài
lòng hơn khi sử dụng.
Dựa trên những phân tích về giá trị của sản phẩm và giá trị của thương hiệu, chúng ta dễ thấy
được là một sản phẩm mang thương hiệu sẽ tạo ra 2 loại giá trị khác biệt rất rõ ràng: giá trị lý
tính và giá trị cảm tính.
Giá trị lý tính: Đây chính là những lợi ích mà một loại hàng hóa, hay một loại dịch vụ mang lại
cho người tiêu dùng. Cà phê đơn thuần là một loại thức uống gây nghiện và giúp người uống
tỉnh táo hơn, sảng khoái hơn. Uốn tóc là một dịch vụ giúp cho các bà các cô có mái tóc kiểu
cách và đẹp hơn. Nếu một sản phẩm không có thương hiệu, nó được gọi là hàng hóa.
Giá trị cảm tính: Là một loại giá trị do các thương hiệu mang lại. Khi một loại hàng hóa với
những đặc điểm cụ thể tạo nên sự khác biệt, người bán hàng sẽ được gắn thêm tên gọi cho
hàng hóa đó để người tiêu dùng dễ phân biệt, dễ nhận biết. Chính cái tên mà người bán hàng
gắn cho loại sản phẩm có những đặc điểm khác biệt là lý do để cho chúng ta phải trả thêm tiền
để mua sản phẩm đó. Nói một cách khác, sản phẩm đó có kèm theo thương hiệu. Thương hiệu
cà phê Highland có giá trên dưới 20 ngàn một ly, trong khi ly cà phê của dì Ba bán ở góc
đường (cũng ngon không kém) thì giá chỉ có 4 ngàn đồng. Dịch vụ cũng vậy, uốn một cái đầu
tại tiệm uốn tóc bình dân Hồng ở trong xóm giá chỉ 100 ngàn đồng, nhưng cũng uốn một kiểu
tóc tương tự ở tiệm Khôi sang trọng thì giá suýt soát 1 triệu đồng. Tuy nhiên, sự khác biệt về
giá cả không chỉ bởi cái tên thương hiệu. Trên thực tế, sự chênh lệch về giá ở đây thể hiện mức
độ cảm nhận, hay nói cách khác là lượng cảm xúc tốt mà người khách hàng có được từ sản
phẩm hay dịch vụ có cái tên đặc thù đó.
Hãy xem xét sự khác biệt.
Trước hết, tất cả mọi người đều phải công nhận rằng hàng hiệu thứ thật luôn luôn có những
ch nhiệm xã hội doanh nghiệp
Đặng Đình Cung
Thứ Ba, 25/8/2009, 09:07 (GMT+7)
(TBKTSG) - Nước ta có Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ môi trường và những nghị định hướng
dẫn thi hành nhưng doanh nghiệp Việt Nam chưa thể hiện một cách rõ ràng việc thực hành
những văn bản pháp quy đó bằng những tiêu chuẩn kiểm định và công bố hiệu quả thực hiện.
Ở các nước khác, mối quan tâm của lãnh đạo doanh nghiệp về lao động và môi trường được
gom chung vào một khái niệm gọi là trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.
Trong bài này, người viết xin trình bày trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, lợi ích của nó cùng một số tiêu
chuẩn và văn bản hướng dẫn thực hành.
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là gì?
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là phương pháp tiến hành tự nguyện có tầm nhìn về phát triển bền
vững, kết hợp xã hội và khả năng cạnh tranh. Khái niệm này bao gồm những tác động liên quan đến
xã hội, môi trường và kinh tế.
Thực ra những tổ chức quốc gia và quốc tế cũng như những tổ chức phi chính phủ chưa đồng thuận
về nội dung của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Các nước Anglo Saxon biểu hiện trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp với khái niệm PPP bao gồm ba lĩnh vực: con người (people), hành tinh (planet) và lợi
nhuận (profit). Một số tổ chức lại còn thêm lĩnh vực quản trị (governance). Nhưng ý kiến này bị đả phá
vì quản trị doanh nghiệp không có tính cách tự nguyện.
Trong quy chế và tiêu chí xét thưởng của Giải thưởng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp năm 2009,
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) giới hạn trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở hai
lĩnh vực lao động và môi trường nhưng cũng đặt thêm tiêu chí “hoạt động kinh doanh có hiệu quả kinh
tế”. Nói một cách khác, VCCI cũng dùng khái niệm PPP như đa số các tổ chức và doanh nghiệp quốc
tế.
Lợi ích của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Vào thập niên 90 thế kỷ trước, một bà ký giả nước ngoài khám phá một nhà máy ở Việt Nam sản xuất
giày gia công cho Nike, công nhân phải làm việc trong một môi trường không khí nguy hại đến sức
khỏe. Độc giả tờ báo của bà ngay tức khắc phổ biến tin này và kêu gọi tẩy chay không mua giày của
Nike nữa. Dĩ nhiên, Nike kiện tờ báo và đã thua kiện.
Trước doanh số xuống dốc, Nike đành phải công bố một chính sách trách nhiệm xã hội đối với những
doanh nghiệp thiết lập một chính sách toàn bộ chung cho cả hai hệ thống quản lý chất lượng và môi
trường.
Còn về khía cạnh quản lý nhân lực, vấn đề này phức tạp vì không phải là một vấn đề kỹ thuật. Mỗi
quốc gia có quan niệm khác nhau: (a) an toàn lao động là trách nhiệm cá nhân hay là trách nhiệm tập
thể, (b) quyền lợi tối thiểu của người lao động về nhân phẩm và tính dân chủ do phía thuê lao động tự
nguyện ban cho hay phải theo quy định của nhà nước và thương lượng tập thể.
Nhóm làm việc của ISO về trách nhiệm xã hội (WG SR) đã tham khảo rộng rãi mọi đối tác. Chỉ riêng
trong năm 2007 có 320 đại diện của 55 nước và 26 tổ chức quốc tế tham gia hội nghị của WC SR. Nếu
không có gì thay đổi thì tiêu chuẩn hướng dẫn ISO 26000 sẽ được công bố vào năm 2010. Điều cần
chú ý là tiêu chuẩn ISO 26000 chỉ là một tiêu chuẩn hướng dẫn nên không thể dùng làm cơ sở để
chứng nhận một doanh nghiệp.
Dưới đây là những tiêu chuẩn có thể dùng làm cơ sở để chứng nhận một doanh nghiệp: Các tiêu
chuẩn của ILO (International Labor Organization, Tổ chức Lao động quốc tế), ISO 9001 về hệ thống
quản lý chất lượng, ISO 14001 về hệ thống quản lý môi trường, OHSAS 8001 về an toàn lao động, và
SA 8000 về quản lý nhân sự.
Ngoài ra có một số tài liệu hướng dẫn cách trình bày một báo cáo về trách nhiệm xã hội như là GRI
(Global Reporting Initiative, khởi đầu báo cáo toàn diện) hay AA 1000 Asurance Standard của ISEA
(Institute of Social and Ethical Accountability, Viện Trách nhiệm xã hội và đạo đức).
Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đã dịch sang tiếng Việt các bộ tiêu chuẩn ISO 9000 và
ISO 14000. Để hoàn tất, tổng cục còn phải tiếp tục dịch và đưa ngay vào thực hành những tiêu chuẩn
và văn bản hướng dẫn khác vừa nêu trên.
Các mâu thuẫn trên gây ra rất nhiều câu hỏi và các cuộc tranh luận trong xã hội. Trong đó có mấy câu hỏi
nổi bật. Thứ nhất, các mâu thuẫn trên tuy phổ biến nhưng có phải là đa số, chiếm ưu thế trong hoạt động
kinh doanh?
Thứ hai, các hiện tượng trên có phải là các khuyết tật của nền kinh tế thị trường hay nói khác đi có phải cứ
kinh doanh trên thương trường là phải trốn thuế, lừa đảo? Thứ ba, có thể dung hòa mâu thuẫn giữa lợi ích
xã hội và lợi ích kinh doanh của các doanh nghiệp?
Thật ra, không chỉ ở Việt Nam, các vấn đề này thu hút sự chú ý và tranh luận của hầu hết quốc gia trên thế
giới, nó dẫn đến các nghiên cứu lý luận và thực nghiệm ở nhiều quốc gia về vấn đề này. Từ đây hình thành
một trào lưu trong khoa học quản trị và tiếp thị - trào lưu trách nhiệm xã hội trong kinh doanh. Nội hàm chính
(1) nền kinh tế thị trường chưa phát triển một cách hoàn chỉnh với đầy đủ cơ chế, thể chế, tác nhân và
nguồn lực của nó (luật pháp chưa đầy đủ, đồng bộ, thị trường còn phân tán, qui mô nhỏ, thông tin thị trường
chưa minh bạch, can thiệp quá sâu của chính phủ vào thị trường thông qua các mệnh lệnh hành chính…),
và (2) đi kèm với sự non trẻ của cơ chế thị trường là nhận thức chưa chính xác và đầy đủ (một số trường
hợp thì cố tình lợi dụng để trục lợi) của các nhà kinh doanh và cả xã hội về chức năng và trách nhiệm kinh
doanh. Vậy để giải quyết các hiện tượng không lành mạnh hiện nay, yêu cầu đầu tiên là đầu tư phát triển
đồng bộ nền kinh tế thị trường. Một thị trường lành mạnh, khỏe khoắn chính là một cơ chế hoàn thiện để
nhận diện các khối u và loại trừ chúng.
Thực tế chúng ta có thể tự hào và tự tin về những đóng góp của các doanh nghiệp cho các hoạt động xã
hội. Rõ ràng chúng ta không thiếu những tấm lòng. Nhưng trách nhiệm xã hội không đơn thuần là lòng từ
thiện. Trách nhiệm xã hội phải gắn với một tầm nhìn xa để tạo ra những cơ hội phát triển.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) hiện nay đã phổ biến nhưng vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung và phạm vi của CSR. Trong số đó, mô hình “kim tự tháp” của A.
Carroll (1999) có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi nhất. Theo đó, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện.
(i) Trách nhiệm kinh tế, thể hiện qua hiệu quả và tăng trưởng, là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận của doanh nhân. Hơn thế, doanh
nghiệp là các tế bào kinh tế căn bản của xã hội. Vì vậy, chức năng kinh doanh luôn phải được đặt lên hàng đầu. Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh
nghiệp.
(ii) Trách nhiệm tuân thủ pháp luật chính là một phần của bản “khế ước” giữa doanh nghiệp và xã hội.
Nhà nước có trách nhiệm “mã hóa” các quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn
mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi ở họ. Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai bộ phận cơ bản, không thể thiếu của CSR.
(iii) Trách nhiệm đạo đức là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được “mã hóa” vào văn bản luật.
Thông thường, luật pháp chỉ có thể đi sau để phản ánh các thay đổi trong các quy tắc ứng xử xã hội vốn luôn mới. Hơn nữa, trong đạo đức xã hội luôn tồn tại những khoảng “xám”, đúng - sai
không rõ ràng; mà khi các cuộc tranh luận trong xã hội chưa ngã ngũ, chúng chưa thể được cụ thể hóa vào luật.
(ii) Trách nhiệm tuân thủ pháp luật chính là một phần của bản “khế ước” giữa doanh nghiệp và xã hội.
Nhà nước có trách nhiệm “mã hóa” các quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn
mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi ở họ. Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai bộ phận cơ bản, không thể thiếu của CSR.
(iii) Trách nhiệm đạo đức là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được “mã hóa” vào văn bản luật.
Thông thường, luật pháp chỉ có thể đi sau để phản ánh các thay đổi trong các quy tắc ứng xử xã hội vốn luôn mới. Hơn nữa, trong đạo đức xã hội luôn tồn tại những khoảng “xám”, đúng - sai
không rõ ràng; mà khi các cuộc tranh luận trong xã hội chưa ngã ngũ, chúng chưa thể được cụ thể hóa vào luật.
CSR ở Việt Nam
Ở đây, chúng tôi muốn đề cập và phân tích một số vấn đề mà Việt Nam đang gặp phải.