SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG SÔNG RAY
Mã số: ………….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG GRAPH TRONG DẠY HỌC
VĂN HỌC SỬ Ở THPT Người thực hiện: Trần Văn Hưng
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục: £
Phương pháp dạy học bộ môn: £
Phương pháp giáo dục: £
Lĩnh vực khác: £
Có đính kèm:
£ Mô hình. £ Phần mềm. £ Phim ảnh. £ Hiện vật khác
Algorit, nó thuộc nhóm “phương pháp riêng rộng” và đã được một số nhà lý luận dạy học cải
biến theo những quy luật tâm lý và lý luận dạy học để sử dụng vào dạy học với tư cách là một
phương pháp dạy học. Như vậy, việc chuyển hóa lý thuyết Graph trong toán học thành Graph
trong dạy học nói chung được coi là hiện tượng xuyên môn trong giáo dục.
3. Đổi mới phương pháp dạy học không chỉ là một trong những yêu cầu lớn mà ngành giáo
dục và đào tạo đặt ra đối với người làm công tác giảng dạy. Trước hết, đây là yêu cầu của Đảng.
Nghị quyết BCH Trung Ương Đảng lần thứ II (khóa VIII) đã chỉ rõ “Đổi mới mạnh mẽ phương
pháp Giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo
của người học. từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy và học, đảm bảo
điều kiện và thời gian tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là
thanh niên”, khắc phục những hạn chế của lối truyền thụ kiến thức theo phương pháp thuyết trình
một chiều trước đây, phát huy hơn nữa năng lực tự học và tinh thần độc lập suy nghĩ, sáng tạo của
học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học còn là xu hướng mang tính toàn cầu theo ý kiến các chuyên
gia, hiện nay có một sự thống nhất tương đối đang được chấp nhận trong thực tiễn giáo dục ở phổ
thông (PT) và cũng ở nhiều nơi trên thế giới “ Chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu”.
Vấn đề đặt ra, người dạy- nhất là dạy Văn phải như thế nào để vừa đạt được chất lượng vừa đạt
được mục tiêu. Để nâng cao hiệu quả giáo dục, chất lượng được hình thành trong quá trình đào
tạo phải hướng mạnh vào việc sử dụng sau này, phải hướng vào mục tiêu sử dụng trong thực tế.
Chất lượng giáo dục chính là kết quả của việc tự học, tự rèn. Học không chỉ để biết mà còn để
thực hành, ứng dụng để tự học và học tập suốt đời. Nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh không chỉ là định hướng mà còn đòi hỏi bằng
những hoạt động cụ thể để tiến hành đổi mới phương pháp dạy học. Vì vậy cần nghiên cứu xác
định các nguyên tắc, quy trình vận dụng của những phương pháp dạy học tích cực, giúp cho giáo
viên sử dụng một cách thuận lợi và có hiệu quả. Việc nghiên cứu và áp dụng phương pháp Graph
trong dạy học Văn học sử (VHS) ở Trung học phổ thông (THPT) là một hướng nhằm góp phần
đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng và trong dạy học nói chung.
- Graph định hướng là Graph có sự xác định rõ đỉnh nào là đỉnh xuất phát trong Graph. Ở
loại này, mối liên hệ giữa các đỉnh của Graph sẽ được định rõ đi theo hướng nào, chiều nào; đi từ
đỉnh nào tới đỉnh nào trong Graph. Vì đặc tính này, nên các đoạn nối đỉnh trong Graph định
hướng đều được thể hiện bằng những đoạn nối có chiều mũi tên. Chiều của mũi tên chính là chiều
quan hệ, chiều phân chia, hoặc chiều vận động của các yếu tố.
Ví dụ:
Sơ đồ 1.1
- Graph vô hướng là Graph không chỉ rõ đâu là chiều liên hệ, chiều vận động của các yếu
tố. Vì đặc tính này, nên các đoạn nối đỉnh trong Graph vô hướng không cần thể hiện bằng những
đoạn nối có chiều mũi tên.
Ví dụ:
Sơ đồ 1.2
Trong hai loại Graph trên, chúng ta thường sử dụng Graph định hướng để biểu thị mối
quan hệ động, mối quan hệ trong sự phát triển của các yếu tố được đưa vào Graph. Còn Graph vô
hướng được sử dụng để biểu thị mối quan hệ tĩnh của các yếu tố. Trong dạy học VHS chúng ta
chủ yếu sử dụng Graph định hướng.
* Graph khép và Graph mở
Bên cạnh việc phân chia Graph thành hai loại Graph định hướng và Graph vô hướng,
chúng ta còn dựa vào đặc tính liên thông hay đặc tính treo của các đỉnh trong Graph để chia thành
Graph khép hay Graph mở.
Ví dụ:
Sơ đồ 1. 5
Graph khái quát về phần các giai đoạn phát triển của Văn học Trung đại Việt Nam
Ghi chú: A : Các giai đoạn phát triển của Văn học Trung đại Việt Nam
B : Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV
C : Từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII
D : Từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX
E : Nửa cuối thế kỉ XIX
- Graph câm là Graph mà tất cả các đỉnh của nó đều để trống. Điều này có nghĩa là tất cả
các đỉnh của nó chỉ là một ô trắng, không có bất kỳ một sự lấp đầy nào bằng ngôn từ, bằng kí
hiệu hay một sự ghi chú nào ở mọi đỉnh.
Ví dụ: Sơ đồ 1. 6
- Graph khuyết là một loại Graph trong đó có một hoặc một số đỉnh rỗng, các đỉnh còn lại
không rỗng.
Ví dụ:
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, trong mỗi hoạt động bao giờ cũng có hai mặt, đó là
mặt tĩnh và mặt động. Trong dạy học, mặt tĩnh là nội dung kiến thức, còn mặt động là các hoạt
động của thầy và trò trong quá trình hình thành tri thức. Có thể mô tả mặt tĩnh của hoạt động dạy
học bằng Graph nội dung và mô tả mặt động bằng Graph hoạt động dạy học. Như vậy Graph dạy
học bao gồm: Graph nội dung và Graph hoạt động. [17,Tr 74] Sơ đồ 1.8
* Nguyên tắc xây dựng Graph trong dạy học
Các nguyên tắc xây dựng Graph dạy học là những nguyên lý, phương châm chỉ đạo việc
thiết kế Graph nội dung và Graph hoạt động dạy học. Dựa vào các nguyên tắc này để xác định nội
dung, phương pháp, cách tổ chức, tính chất và tiến trình của việc thiết kế Graph nhằm thực hiện
mục đích dạy học phù hợp với những quy luật khách quan. Khi tiến hành xây dựng Graph trong
dạy học cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu – nội dung – phương pháp
- Nguyên tắc thống nhất giữa toàn thể và bộ phận
- Nguyên tắc thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng
- Nguyên tắc thống nhất giữa dạy và học
Tóm lại, những nguyên tắc cơ bản trên đây là những định hướng cần thiết cho việc thiết kế
Graph trong dạy học. Tuy nhiên trong quá trình thiết kế Graph dạy học cho mỗi môn học cần phải
có những định hướng riêng. Kết quả của việc thiết kế Graph dạy học là quá trình lập được các
Graph nội dung và Graph hoạt động cho từng môn học cụ thể.
ảng
Tổng kết và
kiểm tra bằng
Graph e. Vai trò của việc sử dụng Graph trong dạy học VHS ở THPT
- Dùng Graph để hệ thống hóa, cụ thể hóa các khái niệm VHS
Theo lý thuyết hệ thống, các cấu trúc vật chất tồn tại trong những hệ thống có tính chất
tầng bậc. Các khái niệm của VHS cũng được cấu trúc theo những hệ thống tầng bậc. Vì vậy, có
thể dùng Graph để hệ thống hóa, cụ thể hóa các khái niệm trong một tổng thể, qua đó mở rộng
hiểu biết về đối tượng cần nghiên cứu một cách khái quát.
Ví dụ: Trong bài “Tổng quan văn học Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử”, có hai khái niệm :
khái niệm về văn học dân gian và khái niệm về văn học viết. Chúng ta có thể dùng Graph để hệ
thống hóa các khái niệm đó cụ thể như sau:
Sơ đồ 1. 10
thể và truyền
miệng của
nhân dân lao
động.
Văn học viết
là st của
những người
trí thức được
ghi lại bằng
chữ viết
thức một cách linh hoạt. Bằng Graph, học sinh có thể tự lập được dàn ý cơ bản các nội dung học
tập. Từ đó có điểm tựa để học sinh ghi nhớ kiến thức theo một hệ thống logic, khoa học. Những
hình ảnh của Graph sẽ giúp cho học sinh vận dụng kiến thức một cách nhanh chóng.
Thông qua học tập bằng Graph, học sinh sẽ hình thành tư duy hệ thống. Qua những bài tập,
những câu hỏi mang tính khái quát, giáo viên sẽ hình thành cho học sinh một phong cách tự học
khoa học. Nhờ những Graph thể hiện mối quan hệ của các kiến thức, học sinh sẽ có một phương
pháp ghi nhớ bằng “ngôn ngữ” Graph, vừa ngắn gọn, lâu bền và dễ tái hiện, dễ vận dụng trong
những hoàn cảnh cụ thể.
Thường xuyên hướng dẫn học sinh tự học bằng Graph sẽ giúp học sinh có thói quen để tự
học suốt đời một cách khoa học.
Để học sinh có thể tự học bằng Graph, chúng ta hướng dẫn các em thực hiện qua các bước
sau:
Bước 1: Yêu cầu học sinh tự đọc, nghiên cứu tài liệu.
Bước 2: Học sinh tiến hành lập Graph nội dung dựa trên những mục tiêu của bài học và
những nhiệm vụ mà giáo viên đặt ra thông qua các câu hỏi.
Bước 3: Học sinh tự kiểm tra độ tin cậy của Graph bằng cách đối chiếu nó với những mục
tiêu của bài học và những yêu cầu mà giáo viên đặt ra.
Bước 4: Học sinh đối chiếu Graph tự lập với những Graph của các bạn học sinh khác trong
lớp và với Graph của giáo viên trong giờ học ở trên lớp hoặc thông qua các giờ ra chơi, làm bài
tập… vv
1.2. Khái niệm văn học sử (VHS)
Văn học sử là một bộ môn của khoa nghiên cứu văn học có nhiệm vụ nghiên cứu qúa khứ
của văn học, gồm quy luật sinh thành và phát triển của các hiện tượng và quá trình văn học diễn
ra trong những điều kiện xã hội – lịch sử nhất định. [Từ điển thuật ngữ văn học Tr 181, Xuất bản
12/ 2007]
a. Vị trí và đặc điểm cấu tạo của các kiểu bài VHS trong chương trình Ngữ văn ở THPT
* Vị trí VHS trong nhà trường THPT hiện nay
Bài VHS chiếm tỉ lệ tương đối lớn trong chương trình Ngữ văn ở THPT. Thống kê bộ sách
Ngữ văn lớp 10,11,12 (chương trình chuẩn và nâng cao) thì tỉ lệ số tiết dành cho VHS chiếm
khoảng hơn 10% trong tổng số tiết học.
văn học sử được biên soạn trong chương trình Ngữ văn THPT. Kiểu bài văn học sử này được
biên soạn ở cả ba khối lớp 10, 11,12 (cả bộ cơ bản và bộ nâng cao).
+ Chương trình Ngữ văn lớp 10 (bộ cơ bản và bộ nâng cao) có bài : Khái quát văn học Việt
Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX.
+ Chương trình Ngữ văn lớp 11:
SGK Ngữ văn 11 (cả bộ cơ bản và bộ nâng cao): Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ
XX đến cách mạng tháng tám 1945.
+ Chương trình Ngữ văn lớp 12:
SGK Ngữ văn 12 (cả bộ cơ bản và bộ nâng cao): Khái quát văn học Việt Nam từ cách
mạng tháng tám 1945 đến hết thế kỉ XX.
Về đặc điểm: Các bài khái quát về thời kỳ văn học thường bao quát những thời gian phân
kỳ, chứa đựng khối lượng tư liệu lớn và các nhận định mang tính chất trừu tượng cao. Về mặt cấu
trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu của kiểu bài văn học sử này là:
Về cấu trúc bề mặt, các bài VHS về thời kỳ văn học cơ bản có các phần sau: Phần mở đầu,
hoàn cảnh lịch sử - xã hội, giá trị văn học (bao gồm giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật), kết
luận. Có thể được biểu diễn dưới dạng Graph (sơ đồ 1.12):
dần về ngoại diên, từ khái quát cao đến cụ thể chi tiết về nội hàm. Từ cấu trúc này, chúng ta có
thể dễ dàng sử dụng Graph để dạy các kiểu bài văn học sử khái quát về thời kì văn học.
- Kiểu bài VHS khái quát về thể loại VH
Trong chương trình mới hiện nay, kiểu bài này chủ yếu được biên soạn trong chương tình
Ngữ văn lớp 10. Về số lượng, kiểu bài này thường ít hơn. Chỉ có một bài được bố trí tiết dạy
riêng và có tính chất khái quát chung cho đó là bài: Khái quát văn học dân gian Việt Nam (SGK
Ngữ văn lớp 10 tập một – Tr 16), còn một số thể loại cụ thể được gộp chung trong từng tác phẩm,
đoạn trích cụ thể và thường được bố trí ở phần tiểu dẫn trước khi đi vào giới thiệu tác phẩm hay
đoạn trích. Chẳng hạn như: Thể loại Sử thi được giới thiệu trong phần tiểu dẫn của bài “Chiến
thắng Mtao Mxây” (Trích Đăm Săn - Sử thi Tây Nguyên)- (SGK Ngữ văn 10, tập một – Tr 30);
Thể loại Truyền thuyết được giới thiệu ở phần tiểu dẫn trong bài “Truyện An Dương Vương và
Mị Châu - Trọng Thủy” (SGK Ngữ văn 10, tập một – Tr 39); Thể loại Truyện cổ tích được giới
thiệu trong bài “Tấm Cám” (SGK Ngữ văn 10, tập một – Tr 65)…
Về đặc điểm: Kiểu bài này thường được cấu trúc gồm các phần chính: Định nghĩa (khái
niệm), những đặc trưng cơ bản, hệ thống thể loại và các giá trị văn học. Ngoài ra kiểu bài này
thường chứa đựng rất nhiều các khái niệm (các khái niệm về từng thể loại cụ thể), các tư liệu về
các thể loại khác nhau.
Có thể hình dung qua Graph (sơ đồ 1.13).
Graph cấu trúc kiểu bài VHS khái quát về thể loại VH.
trước khi giới thiệu về tác phẩm, đoạn trích). Tuy nhiên, trong số các tác gia được giới thiệu
chương trình SGK hiện nay ở hai bộ sách (cơ bản và nâng cao) có một số khác nhau (về số lượng
tác giả được giới thiệu và vị trí).
Về số lượng tác gia được giới thiệu: Trong bộ SGK Ngữ văn lớp 10, 11, 12 (bộ cơ bản) thì
chỉ 06 tác giả được giới thiệu. Còn trong bộ SGK Ngữ văn lớp 10, 11, 12 (bộ nâng cao) lại có 08
bài về tác gia được giới thiệu riêng.
Về vị trí giới thiệu: Ở bộ SGK Ngữ văn lớp 10, 11, 12 (bộ cơ bản) được giới thiệu gộp
chung trong các bài giới thiệu về tác phẩm nhưng được chia làm hai phần, phần giới thiệu về tác
gia được đưa lên trước (nằm ở phần một của bài), phần tác phẩm là phần hai được giới thiệu sau.
Còn trong bộ SGK Ngữ văn lớp 10, 11, 12 (bộ nâng cao) lại tách ra thành những bài giới thiệu
riêng và được giới thiệu sau các bài giới thiệu về tác phẩm, đoạn trích.
+ Chương trình Ngữ văn lớp 10 (bộ cơ bản và bộ nâng cao) với các tác gia:
Tác gia Nguyễn Trãi (SGK bộ cơ bản, nằm ở phần I trong bài “Đại cáo bình Ngô”).
Tác gia Nguyễn Du (SGK bộ cơ bản nằm ở phần I trong bài “Truyện Kiều”).
+ Chương trình Ngữ văn lớp 11:
Trong bộ cơ bản có hai tác gia được giới thiệu gộp chung trong các bài giới thiệu về tác
phẩm, nhưng được phân phối tiết dạy riêng.
Tác gia Nguyễn Đình Chiểu (SGK bộ cơ bản nằm ở phần I trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc”).
Tác gia Nam Cao (SGK bộ cơ bản nằm ở phần I trong bài “Chí Phèo”).
Trong chương trình nâng cao có thêm một tác gia được giới thiệu đó là :Tác gia Xuân Diệu,
được giới thiệu thành bài riêng.
+ Chương trình Ngữ văn lớp 12:
Bộ cơ bản có hai tác gia được giới thiệu đó là:
Tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh (bộ cơ bản nằm ở phần I của bài “Tuyên ngôn độc
lập” - SGK Ngữ văn 12 – Tr 23).
Tác gia Tố Hữu (bộ cơ bản nằm ở phần I của bài “Việt Bắc” - SGK Ngữ văn 12 – Tr 94)
Riêng bộ nâng cao có giới thiệu thêm về tác gia Nguyễn Tuân (SGK Ngữ văn 12 – Tr 164).
Về đặc điểm: Kiểu bài này gần như nhất quán về mặt cấu trúc bề mặt, thường được cấu trúc
làm hai phần chính và phần kết luận : Tiểu sử, sự nghiệp văn chương và phần kết luận. Trong hai
hai tác phẩm được giới thiệu (được phân phối tiết dạy riêng) và được giới thiệu trong chương
trình của bộ SGK Ngữ văn nâng cao.
Cụ thể là các tác phẩm:
Tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 10 (bộ
nâng cao – Tr 127).
Tác phẩm “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh, trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 11
(bộ nâng cao – Tr 66).
Về đặc điểm: Tùy thuộc vào thể loại, nội dung của mỗi tác phẩm và quan điểm trình bày
của mỗi tác giả biên soạn cho nên, việc trình bày của kiểu bài này có cấu trúc tương đối khác
nhau. Chẳng hạn, trong bài “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh được cấu trúc theo 3 nội dung
chính xem sơ đồ 1.15
Graph cấu trúc về kiểu bài VHS về tác phẩm văn học
Sơ đồ 1. 15
Nhật kí trong tù
ND và nghệ thuật
thu
ật
Hoàn cảnh ra đời
Một số điểm cần lưu ý
11, 12, cả ban cơ bản và nâng cao. Không chỉ là các bài ôn tập, tổng kết các thời kỳ văn học như
các bài: Ôn tập văn học dân gian Việt Nam, SGK Ngữ văn lớp 10 – Trang 100; Ôn tập văn học
trung đại Việt Nam, SGK Ngữ văn lớp 10 – Trang 100, mà còn có một số bài ôn tập, tổng kết
phần văn học ở cuối mỗi học kỳ và ở cuối năm học.
Về đặc điểm: Thứ nhất, ở kiểu bài này thường có tính chất khái quát - tổng hợp cao. Nếu
như các bài khái về văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại, văn học đương đại có
tính chất khái quát – tổng quát thì kiểu bài này lại có tính chất khái quát – tổng hợp. Bởi vì, sau
một quá trình học sinh đã được tiếp xúc với các tác giả và nhất là một lượng tác phẩm đã được
học và đọc thêm hết sức phong phú của từng thời kỳ văn học. Vì vậy, việc khái quát – tổng hợp
một mặt phải dựa vào các kiến thức khái quát tổng quát, mặt khác phải dựa vào các kiến thức cụ
thể đã được học qua các tác giả, tác phẩm. Nói cách khác, khái quát – tổng quát là chưa đi sâu
vào cái cụ thể, còn khái quát – tổng hợp là sự khái quát cao hơn nhờ thông qua tập hợp các hiện
tượng minh họa cụ thể.
Thứ hai: Kiểu bài ôn tập văn học vừa là ôn tập kiến thức VHS, vừa là ôn tập kiến thức
giảng văn. Vì vậy, yêu cầu của bài ôn tập văn học này là phải đạt đến các kiến thức VHS ở cấp độ
tổng hợp cao. Bài ôn tập văn học được xác định là bài ôn tập có tính VHS cần hướng đến các yêu
cầu sau:
+ Củng cố kiến thức VHS và giảng văn không phải là trở lại từng bài mà phải nâng cao
kiến thức VHS và giảng văn thành các khái niệm, phạm trù, quy luật văn học gắn với lý luận văn
học và các quan điểm nghiên cứu văn học.
+ Hệ thống hóa kiến thức VHS và giảng văn phải có sự kết hợp tính hệ thống lôgíc và hệ
thống lịch sử, đồng thời phải có sự đối chiếu, so sánh… .
Như vậy, nếu giờ ôn tập văn học chỉ là chuẩn bị theo câu hỏi và đến lớp trả lời theo các câu
hỏi thì chưa đạt được các yêu cầu trên. Theo các yêu cầu trên thì kiểu bài ôn tập VHS là bài học
nhằm phát triển cao năng lực tư duy của học sinh và bồi dưỡng các quan điểm nghiên cứu văn
học cho các em chứ không phải là bổ sung kiến thức. Chính vì thế mà đòi hỏi chúng ta cần phải
hướng dẫn cho học sinh biết cách hệ thống hóa các kiến thức VHS và kiến thức văn học theo một
Truyện Kiều
Nguồn gốc và sự sáng
ràng không gây khó hiểu và rối mắt.
- Tính hệ thống: Mỗi Graph luôn bao gồm nhiều đỉnh, mỗi đỉnh là một đơn vị kiến thức
của bài học, được cấu trúc theo một hệ thống có tầng bậc rất rõ ràng theo lôgic của tài liệu giáo
khoa.
- Tính súc tích: Các kiến thức trong mỗi đỉnh của Graph thường là những nhận định khái
quát, lại được mã hóa nên rất ngắn gọn, súc tích.
Thứ hai: Khi tiến hành, khảo sát và tìm hiểu về cấu trúc của các kiểu bài VHS trong
chương trình Ngữ văn ở THPT, chúng tôi thấy tất cả các kiểu bài VHS đều có cấu trúc thành
những tầng bậc và giữa các tầng bậc lại có các mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau. Từ đó, đối
chiếu với những đặc điểm, bản chất của các loại Graph để thấy rõ những ưu điểm và thế mạnh
của các loại Graph. Vì vậy, chúng tôi khẳng định rằng: Việc sử dụng Graph vào dạy các kiểu bài
VHS ở THPT là hoàn toàn có cơ sở.
2. Phương pháp sử dụng Graph trong dạy VHS ở THPT
2.1. Mục đích, yêu cầu
a. Mục đích
Ngày nay, với sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học hiện đại, đặc biệt là các phương tiện
công nghệ thông tin đã giúp chúng ta cải thiện được rất nhiều trong việc giảng dạy và học tập,
góp phần rất lớn vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học. Vì vậy, việc sử dụng Graph trong
dạy học văn học sử ở THPT nhằm đạt được một số mục đích sau:
- Giúp cho giáo viên tiết kiệm được thời gian, công sức trong việc soạn giảng, đảm bảo
được việc hoàn thành được kế hoạch, chương trình giảng dạy. Đối với các bài VHS trong chương
trình Ngữ văn ở THPT thường có dung lượng kiến thức lớn, các kiến thức lại có tính khái quát,
trừu tượng cao, mà thời lượng chương trình dành cho mỗi bài lại quá ít (chỉ từ 1 - 2 tiết/bài). Vì
vậy, rất khó khăn cho người soạn giảng, vừa phải làm sao truyền đạt được hết những nội dung
kiến thức trong bài sao cho dễ tiếp thu đối với học sinh. Lại vừa phải đảm bảo được thời gian, kế
hoạch giảng dạy thì quả thật là điều rất khó. Chính vì thế việc sử dụng Graph trong dạy các bài
VHS ở THPT phải góp phần vào giải quyết vấn đề này. - Điều quan trọng hơn cả là sử dụng Graph trong dạy VHS ở THPT phải đạt được mục
các bài VHS ở các mức độ sau:
Mức độ thứ nhất: Giáo viên chỉ chú trọng đến khâu lập và triển khai bài học bằng các
Graph, còn học sinh chỉ ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, chỉ thấy được các mối quan hệ bên
ngoài (thông qua các cung của Graph) mà không hiểu được bản chất của các kiến thức cũng như
các mối quan hệ tiềm ẩn bên trong của các kiến thức ấy.
Mức độ thứ hai: Học sinh không thấy được mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức,
không tự thiết lập được mối liên hệ giữa các kiến thức đã biết với các kiến thức mới cần tiếp thu.
Từ đó, học sinh không biết sử dụng những kiến thức VHS đã có như là những tiền đề, tư liệu minh
họa làm cơ sở để tiếp nhận các kiến thức mới. Thậm chí, sau khi học xong các bài VHS, các tác
phẩm trong các giai đoạn, hay thời kỳ văn học ấy lại không thấy được tính hệ thống của các kiến
thức đã học.
Mức độ thứ ba: Học sinh không thấy được nguồn gốc của các kiến thức khoa học, không
thấy được ý nghĩa của kiến thức được vận dụng vào thực tiễn. Để khắc phục tính hình thức trong sử dụng Graph vào dạy học các bài VHS, đòi hỏi mỗi
giáo viên khi giảng dạy cần phải tăng cường các câu hỏi trao đổi, thảo luận nhóm hơn.
b. Tránh lạm dụng Graph
Graph chỉ có tác dụng là phương tiện tư duy mang tính trực quan, nhằm xác định mối
quan hệ của các đối tượng được nghiên cứu trong một hệ thống nhất định, qua đó góp phần
nâng cao chất lượng trong học tập. Vì vậy, không thể dùng Graph để thay thế hoàn toàn các
phương pháp, phương tiện dạy học khác, mà cần phải có sự phối kết hợp một cách khoa học
giữa việc sử dụng Graph với các phương pháp và các phương tiện dạy học để nâng cao hơn
nữa chất lượng dạy học VHS ở trường THPT.
2.3. Các biện pháp thực hiện
Sử dụng Graph trong dạy học nói chung và dạy học văn học sử nói riêng cần phải tiến hành
qua hai giai đoạn chính.
a. Lập Graph nội dung
Quy trình lập Graph nội dung dạy học (dùng cho cả giáo viên và học sinh). Trước hết giáo
viên cần nghiên cứu nội dung chương trình giảng dạy để lựa chọn những bài, những tổ hợp kiến
Phương pháp
lập Graph
nội dung bài
học
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài học
Bước 2: Lập danh mục kiến thức cơ bản
Bước 3: Xác định đỉnh của Graph và mã hóa kiến thức
Bước 4: Xếp đỉnh và lập cung cho Graph
Bước 5: Kiểm tra Graph đã lập hiểu vấn đề một cách sâu sắc, toàn diện cũng như những gợi ý cho sự lựa chọn phương pháp dạy
học đạt kết quả cao. Đây chính là những điều kiện cần thiết để lập Graph cho phù hợp. Nếu việc
tìm hiểu nội dung bài học không chu đáo, hời hợt thì Graph lập nên sẽ thiếu chính xác, thiếu khoa
học và không mang lại kết quả cao trong dạy học.
Bước 2: Lập danh mục kiến thức cơ bản (kiến thức chốt tối thiểu cần và đủ)
Dựa vào mục tiêu bài học và kết quả cần đạt trong sách giáo khoa giáo viên tiến hành định
ra các kiến thức chốt của bài học, đó là những kiến thức bắt buộc, là kết quả cần đạt của học sinh.
Mỗi bài học có nhiều đơn vị kến thức, trong đó, có những kiến thức trọng tâm, có những kiến
thức hỗ trợ, bổ sung. Vì vậy, giáo viên cần chọn lọc để có được những kiến thức chốt đưa vào
Graph. Những đơn vị kiến thức cơ bản của bài học VHS thường được thể hiện qua “Kết quả cần
đạt”, kết cấu của bài học như: các đề mục, tiểu mục. Dựa vào những cơ sở ấy, giáo viên sẽ xác
định được những kiến thức chốt cần và đủ. Mặt khác, hiện nay Bộ giáo dục đã ban hành và áp
dụng tài liệu chuẩn kiến thức cho các bộ môn trong đó có bộ môn Ngữ văn. Đây là điều kiện hết
sức thuận lợi để chúng ta có thể dễ dàng xác định được chính xác và đầy đủ các kiến thức chốt
của bài học.
Ví dụ: Khi lập Graph cho bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam”, (SGK Ngữ văn 10,
Mỗi đơn vị kiến thức chốt sẽ là một đỉnh của Graph, như vậy một bài học có bao nhiêu kiến thức
chốt thì Graph sẽ có bấy nhiêu đỉnh.
* Mã hóa kiến thức bằng kí hệu.
Trong sơ đồ mạng, do khuôn khổ của các khung, các ô không cho phép sử dụng nhiều từ,
nhiều câu. Hơn nữa, do đặc điểm của Graph là trực quan, là khái quát hóa và tổng hợp. Cho nên
khi lập Graph ta không thể đưa đầy đủ, trọn vẹn câu chữ của các đơn vị kiến thức trong nội dung
bài học vào các khung, các ô của Graph được. Bởi vậy, khi tiến hành lập Graph có những đơn vị
kiến thức cần phải đặt các kí hiệu qui ước.
Thực chất của vấn đề này là biến nội dung các kiến thức cơ bản chứa đựng trong các đỉnh
của Graph thành một bản tin thật súc tích, ngắn gọn, dễ hiểu đối với học sinh. Sự mã hóa cũng
rất đa dạng, chúng ta có thể dùng chữ cái viết tắt, các con số, một kí hiệu nào đó hay rút ngắn lại
những kiến thức đó bằng cách loại bỏ những từ ngữ không quan trọng, không cần thiết.
Điều cần lưu ý là những chữ cái viết tắt, con số hay những kí hiệu dùng để mã hóa nội
dung của những kiến thức cơ bản trong bài học phải làm sao giúp cho học sinh dễ dàng giải mã
được. Hơn nữa, những qui ước mã hóa đó phải có sự thống nhất giữa học sinh và giáo viên để
tránh hiểu lầm, hiểu sai. Trong những trường hợp nhất định, nếu những đơn vị kiến thức có số
lượng câu chữ đưa vào các khung của Graph không nhiều, không làm ảnh hưởng đến việc xây
dựng Graph thì chúng ta không nhất thiết phải mã hóa mà nên giữ nguyên câu chữ đó.
Chẳng hạn, trong những đơn vị kiến thức trên chúng ta có thể mã hóa như sau:
I – Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian → Đặc trưng cơ bản
1. Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng . → Tính truyền
miệng
2. Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể. → Tính tập thể
II – Hệ thống thể loại của văn học dân gian Việt Nam → Hệ thống thể loại
1. Thần thoại 7. Tục ngữ
2. Sử thi 8. Câu đố
3. Truyền thuyết 9. Ca dao Giữ nguyên
4. Truyện cổ tích 10. Vè
5. Truyện ngụ ngôn 11. Truyện thơ
tập một, chương trình chuẩn). Đỉnh xuất phát của Graph này chính là
Sơ đồ 2.2
Đỉnh chính: Là những đỉnh gắn trực tiếp và bắt nguồn từ đỉnh xuất phát, nêu tên các đơn vị
kiến thức trọng tâm của bài học. Khi lập Graph cho toàn bài, thì mỗi đơn vị kiến thức sẽ có một
đỉnh chính tương ứng.
Chẳng hạn trong bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” sẽ có ba đỉnh chính đó là:
Sơ đồ 2.3
Đỉnh phụ: Là đỉnh được bắt nguồn từ đỉnh chính chứ không phải là từ đỉnh xuất phát.
Những đỉnh này sẽ cụ thể hóa, chi tiết hóa, bổ sung và làm rõ hơn những nội dung trọng tâm của
bài học đã được nêu ở đỉnh chính. Trong Graph, có thể tất cả các đỉnh chính đều có đỉnh phụ,
nhưng cũng có thể chỉ có một hoặc hai đỉnh chính có các đỉnh phụ, còn các đỉnh khác thì không
có. Số lượng đỉnh phụ phụ thuộc vào nội dung kiến thức của mỗi bài học.
Ví dụ:Trong ba đỉnh chính của bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” có các đỉnh phụ
sau:
Khái quát VHDG Việt Nam
Sơ đồ 2.4
Đỉnh nhánh: Là đỉnh được bắt nguồn từ đỉnh phụ. Nếu Graph khép lại ở đỉnh nhánh thì tức
là những đỉnh nhánh này là những đỉnh treo cuối cùng trong Graph đó. Nhiệm vụ của đỉnh nhánh
là cụ thể hóa những kiến thức trong đỉnh phụ.
Như vậy, trong mối quan hệ giữa các đỉnh của Graph thì đỉnh xuất phát là đỉnh mang nội
dung khái quát nhất, còn đỉnh nhánh là đỉnh mang nội dung cụ thể, chi tiết nhất, khép lại toàn bộ
Graph. Ta có thể hình dung qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.5
* Lập cung cho Graph
Lập cung cho Graph tức là thiết lập các mối quan hệ giữa các đỉnh của Graph, đó là mối
Cuối cùng, chúng ta kiểm tra xem Graph mà chúng ta đã lập có tính thẩm mĩ hay chưa (đã
đẹp mắt hay chưa và có thể dễ dàng thực hiện cho học sinh hay không).
Sau khi chúng ta kiểm tra xong, thì mới hoàn thành việc lập Graph nội dung cho bài học
VHS.
Sau đây là một Graph hoàn chỉnh cho bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” Đặc
trưng
Sơ đồ 2.6
b. Triển khai Graph nội dung thành bài giảng trên lớp (Graph hoạt động)
* Graph hoạt động là Graph mô tả trình tự các hoạt động sư phạm của người giáo viên theo
logic hoạt động nhận thức nhằm tối ưu hóa bài học [Nguyễn Phúc Chỉnh – Phương pháp Graph
trong dạy học Sinh học – tài liệu chuyên khảo – tr 80].
Như vậy, Graph hoạt động là mặt phương pháp, nó được xây dưng trên cơ sở của Graph
nội dung kết hợp với các thao tác sư phạm của giáo viên và hoạt động học của học sinh ở trên
lớp; bao gồm cả việc sử dụng các phương pháp, biện pháp và các phương tiện dạy học. Thực chất
Graph hoạt động dạy học là mô hình hóa và trực quan của giáo án bằng các hoạt động thực tiễn
trên lớp.
Nội dung 1
Nội dung 2
Hoạt động 2
Hoạt động 1
Hoạt động 2
Hoạt động 1
Hoạt động 2
Thao tác 2
Hoạt động 1
Thao tác 1
Thao tác 2
Thao tác 1
Thao tác 2
Thao tác 1
Thao tác 2
Thao tác 1
Nội dung 3
Thao tác 2
Thao tác 1
Thao tác 2
Thao tác 1
Sơ đồ 2.8
- Xây dựng giáo án lên lớp:
Giáo viên dựa vào Graph nội dung bài học, kết hợp với các phương pháp khác để soạn ra
một cấu trúc chi tiết của bài lên lớp. Khi xây dựng giáo án cần chú ý đến việc lựa chọn các
phương án trình bày khác nhau đối với các Graph . Có thể trình bày theo lối quy nạp (giảng giải
rồi mới đi tới nội dung của Graph) hay diễn dịch (đưa ra các Graph rồi mới giảng giải).