MỤC LỤC
1. Mở đầu...................................................................................................trang 2
1.1.Lí do chọn đề tài..............................................................................................2
1.2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................3
1.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................3
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm....................................................................4
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm........................................................4
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm....................... 5
2.3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện............................................................6
2.3.1. Điều kiện để người GVCN làm tốt công tác chủ nhiệm nhằm khơi dậy ý
thức học tập và giáo dục đạo đức cho học sinh.....................................................6
2.3.2. Một số kinh nghiệm bản thân nhằm khơi dậy, nâng cao ý thức học tập đối
với học sinh cá biệt................................................................................................7
2.3.3. Một số kinh nghiệm bản thân nhằm khơi dậy ý thức, giáo dục đạo đức cho
học sinh "chưa ngoan".........................................................................................10
2.4. Một số phương pháp nhằm nâng cao ý thức học tập, giáo dục đạo đức cho
học sinh cá biệt....................................................................................................13
2.5. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm ..........................................................18
3. Kết luận, kiến nghị........................................................................................20
3.1. Kết luận........................................................................................................20
3.2. Kiến nghị, đề xuất........................................................................................20
Tài liệu tham khảo............................................................................................22
Danh mục SKKN được giải..............................................................................23
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Trường THPT 4 Thọ Xuân chúng tôi đóng trên địa bàn nông thôn, đời
chất này sẽ đến với trẻ bằng tất cả tấm lòng, sự chân thành, thiện chí, thái độ
rộng lượng, bao dung, sự tôn trọng tối đa đối với nghề, từ đó, mang lại niềm vui
cho trẻ, những người xung quanh và cho chính bản thân. GVCN phải yêu nghề,
say sưa, nhiệt tình, có trách nhiệm cao với công tác giáo dục đồng thời là người
có nghị lực, có ý chí vượt khó. Đây cũng chính là những phẩm chất cần thiết để
nâng cao uy tín và khả năng lôi cuốn của GVCN. Thực tế cho thấy học sinh luôn
đánh giá cao những giáo viên tận tụy, say mê nghề thật sự. Khiêm tốn học hỏi
giúp giáo viên ngày càng nâng cao trình độ nghề, đáp ứng những yêu cầu cao
của công việc giáo dục, dạy học nói chung và công tác chủ nhiệm lớp nói riêng.
Giáo viên nói chung, đặc biệt là GVCN luôn là những tấm gương cho học sinh
noi theo. Vì vậy, điều hết sức quan trọng là lời nói phải đi đôi với việc làm.
GVCN không thể yêu cầu học sinh làm những việc mà mình không làm được,
cũng không thể nói với học sinh về những điều mà mình không thật sự nghĩ.
4
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Thực trạng chung
Thực tế cho thấy, trong một trường học ngoài tỉ lệ học sinh khá, giỏi trong
học tập; tốt, khá trong thi đua rèn luyện đạo đức thì tỉ lệ HS yếu, kém về mặt
học tập cũng như thiếu ý thức trong việc rèn luyện đạo đức, trao dồi nhân cách
không phải là không có. Đặc biệt là đối với các trường THPT không đủ điều
kiện để xét tuyển đầu vào. Dù tỉ lệ này chiếm số lượng nhiều hay ít, thì cũng là
vấn đề nan giải, là gánh nặng cho nhà trường nói chung cũng như các giáo viên
trong trường mà đặc biệt là thử thách không nhỏ đối với GVCN lớp đó.
Trước đây khi chưa thực hiện chương trình phân ban, phân lớp thì trong
một lớp học, tỉ lệ học sinh thiếu ý thức trong học tập và rèn luyện là rất ít. Có
chăng chỉ một, hai trường hợp nhiều thì đôi ba trường hợp là cùng. Thế nhưng,
từ khi đã phân ban, phân lớp, xếp lớp dựa vào kết quả học tập và rèn luyện của
5
Theo thống kê của tôi, đây kết quả học tập và rèn luyện ở lớp 9 của HS
lớp tôi chủ nhiệm. Nhìn thực trạng này thật có thể làm nản lòng bất của một
GVCN cũng như giáo viên bộ môn khi được phân công giảng dạy.
Xếp loại
Học lực
SL
%
( 43 HS)
Giỏi -Tốt:
0
0.0%
Khá:
12
27,6%
T.bình:
24
55,8%
Yếu:
7
18,6%
Kém:
0
0.00%
Cộng
43
100%
thù sau:
- Yêu thương học sinh: Đây là phẩm chất hàng đầu của nghề giáo, giúp
GVCN tự giác chấp nhận những thử thách của nghề nghiệp, đồng thời luôn có
sự tìm tòi, sáng tạo trong công việc với mong muốn mang đến những điều tốt
đẹp nhất cho học sinh của mình.
- Yêu nghề, say sưa, nhiệt tình, có trách nhiệm cao với công tác giáo dục
và có nghị lực, có ý chí vượt khó. Đây là phẩm chất cần thiết để nâng cao uy tín
và khả năng lôi cuốn của GVCN.
- Khiêm tốn học hỏi: giúp người giáo viên ngày càng nâng cao trình độ
nghề, đáp ứng những yêu cầu cao của công việc giáo dục, dạy học và công tác
chủ nhiệm lớp.
- Lời nói phải đi đôi với việc làm: GVCN không thể yêu cầu học sinh làm
những việc mà mình không làm được, cũng không thể nói với học sinh về những
điều mà mình không thật sự nghĩ.
- Lối sống giản dị, mẫu mực: giúp cho hình ảnh của người giáo viên gần
gũi hơn, làm tăng uy tín và khả năng thuyết phục của họ với học sinh.
- Cần có những năng lực sư phạm như năng lực giao tiếp, năng lực cảm
hóa, thuyết phuc, xây dựng uy tín, năng lực sáng tạo trong công tác giáo dục,
dạy học, năng lực sử dụng ngôn ngữ, giải quyết các tình huống sư phạm…
6
2.3.2. Một số kinh nghiệm bản thân nhằm khơi dậy, nâng cao ý thức học tập
đối với học sinh cá biệt
Thường thì những học sinh cá biệt vốn rất lười học. Hoặc có những em
biết mình yếu nên cố gắng học để bù khuyết kiến thức nhưng các em này vẫn
yếu bởi đa phần các em học mà không có phương pháp, chỉ là cách học vẹt, học
trước quên sau.
Đối với học sinh lười học, hơn ai hết người GVCN cần phải có biện pháp
liên tiếp để PH cho HS đi lao động, phụ giúp gia đình cùng bố mẹ, sau thử thách
đó HS tự quyết định tiếp tục đi học hay nghỉ học luôn phụ giúp gia đình làm
kinh tế - đây là trường hợp của em Trần Văn Quân mà tôi chủ nhiệm năm lớp 12
và sau vài ngày lao động chân tay, xa trường, lớp, bè bạn... em Quân quyết định
đi học lại và hiện tại đang ôn thi tốt nghiệp cùng các bạn.
( Tôi và HS Phạm Văn Công, Trần Văn Quân năm lớp 12)
- Đó là những trường hợp HS được PHHS quan tâm và hỗ trợ, ngược lại những
trường hợp không được hỗ trợ từ phía PHHS thì sao? Đối với HS không nhận
được sự quan tâm mấy từ phía gia đình, cách mà tôi áp dụng là phải dành nhiều
thời gian nói chuyện, tâm sự, hỏi han các em, quan tâm đến các em thực sự như
một người anh.
Trường hợp 4: Ở một HS khác là Trần Văn Đạt. Sau nhiều biện pháp
như: phân tích để HS thấy mục đích của việc học, chép phạt, bản kiểm điểm, lao
động, mời PHHS... Nhưng vẫn không tiến bộ, bởi PHHS vừa lên tới trường đã
chỉ thẳng vào mặt HS: "Mày không học thì nghỉ, tao không rảnh để lên đây
hoài!", rồi sau đó rút thuốc lá ra "hạ hỏa" trước mặt tôi và học trò... Trước tình
hình đó tôi chỉ còn biết nói nhẹ nhàng để PHHS hiểu lí do vì sao tôi mời PH, rồi
cảm ơn vì bác đã đến họp. Hôm sau, tôi đã phải mất hàng tiếng đồng hồ để tâm
8
sự cùng HS này, tôi động viên nếu em không thích học nữa thì nên nghỉ để đi
học nghề, hoặc phụ việc cho bố mẹ; còn nếu học thì phải nỗ lực hết mình, thầy
sẽ nhờ thêm một nhóm bạn chăm, khá giỏi trợ giúp cùng em học nhóm... Và
cuối cùng em HS này cũng đã lên được lớp 12.
( Tôi và HS Trần Văn Đạt năm lớp 12)
- Thứ hai: hướng dẫn học sinh tự học ở nhà :
Một học sinh muốn có kết quả học tập tốt ngoài việc tiếp thu những
năm bảy phút, sau khi HS ấy rời khỏi lớp, tôi mới lên tiếng trong sự im phăng
phắc của lớp chủ nhiệm: "Thế thầy có xứng đáng để học trò đối xử với mình như
thế không ạ?" Lớp càng im lặng hơn! Tiết học hôm ấy đắng nghét trong đời GV
10
của tôi. Kết thúc tiết học, tôi gọi điện cho PHHS liền. Bố HS nghe máy, lời đầu
tiên tôi hỏi PH là: "Em Bình về nhà chưa bác?". PH đáp: "Cháu, sáng nay đi học
mà thầy. Nó lại gây sự hả thầy?". Tôi nói rành rỏi lời HS xúc phạm mình trước
lớp, mục đích là để thông báo tình hình HS đã rời khỏi trường cùng lời nói:
"..DKM. Ông nhớ cái mặt tôi đó!" , nhằm ngăn chặn tình hình xấu hơn. Sau khi
nghe xong, PHHS thay con xin lỗi tôi liền và bác ấy còn bảo: "Cháu về, tôi sẽ
dẫn cháu đến gặp thầy". Chiều ấy, mẹ trò dắt trò lên, bảo trò nói lời xin lỗi, xin
tôi tha thứ, xin tôi cho cháu được tiếp tục học. Sau khi lặng im để PHHS và HS
nói xong, tôi lên tiếng:
+ Thứ nhất, em nhắc lại lời nói ở trong tập thể lớp sáng nay trước mặt tôi và
phụ huynh.
+ Thứ hai, ở cương vị là một GV, lại là GVCN trò nên tôi không thể tha thứ cho
em được. Không tha thứ vì tôi thấy mình không xứng đáng để bị xúc phạm như
thế. Không tha thứ không phải là em phải rời khỏi lớp! Tôi đã đuổi học trò đâu
mà em xin tôi cho em đi học lại, là em tự ý bỏ đi mà!
+ Thứ ba, trò phải xin lỗi tập thể HS lớp tôi, và hãy tự suy nghĩ, kiểm điểm
Năm học ấy rồi cũng kết thúc! Giữa em ấy và tôi và tập thể lớp vẫn bình
thường trong sự bất thường như thế. Mới ngày nào đầu năm học, nay đã sắp phải
chia xa... Dòng đời vẫn cứ thế trôi, nay ngồi viết đề tài này mới thấy lòng mình
xúc động, mới thấy hoặc cảm thấy hình như HS này đã có ý thức rất nhiều trước
phương cách giáo dục của mình.
Tôi và HS Pham Văn
càng mê điện tử, mê đến nỗi trốn, nghỉ học nhiều lần. Tôi đã nhắc nhở, động
viên, cảnh cáo, phạt lao động nhưng vẫn không mấy tiến bộ. Cuối cùng tôi đã
gửi giấy mời phụ huynh. Mời lần thứ nhất, không thấy. Lần thứ hai cũng không.
Lần thứ ba, tôi nói với học trò:"Nếu em vẫn không mời phụ huynh cho thầy, thầy
sẽ gọi điện mời. Mà để thầy mời mời nghĩa là thầy sẽ xử em thêm tội chống đối,
tội không hợp tác với thầy và nhà trường!". Cuối cùng em An nói: " em sẽ nói
với bố mẹ nhưng thầy hứa với em là đừng nói với PH em chơi điện tử mất xe
được không ạ!". Tôi rất ngạc nhiên, hỏi lại: "Chứ nhà chưa biết mất xe hả?". "Dạ rồi, nhưng em dối là ghé nhà chở bạn đi học, để xe ngoài ngõ bị mất." Trời!
Vậy là giờ tôi mới biết sự thật. Và tôi đã hứa: "Thôi được rồi, mai thầy sẽ không
nói gì!". Nghe vậy em An nói cảm ơn thầy và gương mặt đỡ căng thẳng hơn,
vừa đi vừa nhảy chân sáo... Và đúng như lời hứa, hôm sau gặp PHHS tôi đã lặng
im nhưng An- của tôi thì phải tự "thú tội trước bình minh" vì tôi chỉ nói: "Cháu
chào bác, cảm ơn bác đã đến họp theo lời mời của cháu!". PHHS cũng chào tôi
và hỏi: "Cháu An vi phạm gì hả thầy?". Tôi đáp: "Dạ cháu đã hứa với An là sẽ
không được nói gì khi gặp bác, nên hôm nay chúng ta chỉ giải quyết xong vấn đề
khi tự bản thân em An phải nói hết những vi phạm của mình, đúng không bác?".
Vậy đấy, trong hoàn cảnh đó, tôi nghĩ học sinh của tôi ít nhiều gì cũng ý thức
được những việc mình đã làm, những việc mà hiện tại và sau này nữa phải làm...
12
Tôi
và
HS
Nguyễn Văn An
năm lớp 12
2.4. Một số phương pháp nhằm nâng cao ý thức học tập, giáo dục đạo đức
cho học sinh cá biệt
em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình.
Trong khi giáo dục các em, tôi không nặng về kiểm điểm, phê bình, mà
phải tìm ra và xác định đúng nguyên nhân đã tác động đến các em làm cho các
em mắc sai lầm, vi phạm. GVCN nêu những việc làm tốt, những cố gắng nổ lực
của các thành viên trong lớp để xây dựng tập thể lớp thành lớp tiên tiến … với
thành tích như vậy thì không được bất cứ thành viên nào trong lớp phá vỡ .
Tôi luôn tạo bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không trách
mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh cảm thấy
sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình.
Bên cạnh đó, tôi luôn cố gắng là người đem lại cho các em những phản hồi tích
cực. Ví dụ như nên thay chê bai bằng khen ngợi, nên tìm những việc làm mà em
hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em. Hoặc có thể dùng các
phiếu thưởng có in các lời khen phù hợp với từng việc làm của các em như:
“Biết giúp đỡ người khác”, “ Thái độ nhiệt tình và tích cực”. Với sự chân thành
của mình, tôi tin HS khi vi phạm sẽ sớm nhận ra lỗi lầm mà sửa chữa
2.4.3. Kết hợp với phụ huynh trong việc giáo dục HSCB: tránh hời hợt
Giáo dục học sinh cá biệt cần có một vòng tròn khép kín từ gia đình đến
nhà trường vì nếu chỉ có nhà trường thôi thì chưa đủ. Vì vậy, khi tôi thấy học
sinh có những dấu hiệu bất thường về tâm, sinh lý thì phải thông báo ngay với
phụ huynh để có những thông tin thêm về trẻ cũng như tìm ra biện pháp hỗ trợ
tốt. Ngay từ đầu năm học, tôi đã cho các em viết sơ yếu lý lịch, trong cuộc họp
phụ huynh đầu năm phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia đình
và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi
có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên
trong học tập, làm cho học sinh thấy tầm quan trọng của việc học.
Đồng thời, tôi thường chia sẻ với phụ huynh về những phương pháp
giáo dục đúng để phụ huynh cùng biết và phối hợp thực hiện giáo dục con cái tại
nhà, phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập của học sinh. Do hiện nay, có
một số phụ huynh luôn gò ép việc học của con em mình, sự áp đặt và quá tải sẽ
dẫn đến chất lượng không cao. Bản thân tôi đã phân tích để các bậc phụ huynh
có sự trao đổi với các giáo viên giảng dạy về những trường hợp học sinh cá biệt
để cùng nhau phối hợp. Ngoài ra, nhà trường cũng nên thường xuyên tổ chức
các buổi chuyên đề giáo dục tâm lý học đường, tập huấn các kỹ năng xã hội,
giúp các em có kiến thức để nhận thức các vấn đề và biết cách giải quyết khi gặp
các tình huống trong quá trình phát triển của mình.
2.4.5. Phân loại các đối tượng học sinh
Căn cứ vào học bạ cấp 2, ngay từ đầu năm học tôi đã xem xét, phân
loại những học sinh yếu đúng với những đặc điểm vốn có của các em để lựa
chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng của từng em. Một
số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ kém, khả năng tiếp thu bài,
lười học, thiếu tự tin, nhút nhát
Trong thực tế người ta nhận thấy có bao nhiêu cá thể thì sẽ có chừng ấy
phong cách nhận thức. Vì vậy hiểu biết về phong cách nhận thức là để hiểu sự
đa dạng của các chức năng trí tuệ giúp cho việc tổ chức các hoạt động sư phạm
thông qua đặc trưng này.
2.4.6. Thực hiện nội quy trường, lớp: Nhắc nhở thường xuyên, nghiêm túc
Điều quan trọng đầu tiên như tôi đã nói là giáo viên cần tập trung xây
dựng tập thể lớp đoàn kết, thân thiện, đa số học sinh trong lớp phải hiểu và thực
15
hiện nghiêm túc nội quy lớp, không vi phạm những điều cấm. Qua đó, học sinh
chậm tiến thấy được những lỗi vi phạm của mình gây ảnh hưởng đến tập thể lớp
như thế nào!
Để làm được điều này, tôi đã sử dụng các biện pháp:
- Cho học sinh viết cam kết thực hiện nghiêm nội quy nhà trường, không vi
phạm điều cấm đối với học sinh theo điều lệ trường trung học, sau đó cho phụ
huynh ký xác nhận. Bản cam kết được viết làm 2 bản, học sinh giữ 1 bản, giáo
viên chủ nhiệm giữ 1 bản.
đầy đủ, chính xác mọi hoạt động, lỗi vi phạm hay biểu hiện tích cực của học
sinh trong từng buổi học để tác động, uốn nắn hoặc biểu dương kịp thời.
Nguồn thông tin giúp tôi thu thập là: Nhận xét trong sổ đầu bài; thông
qua giáo viên bộ môn; qua ban theo dõi nề nếp của nhà trường; qua ban cán sự
lớp và thông qua bạn bè thân quen với học sinh đó...
16
Đặc biệt, cần thường xuyên quan tâm, gần gũi với các học sinh cá biệt
để các em cảm thấy mình không bị xa lánh, ghét bỏ và có thể chia sẻ những
vướng mắc, từ đó, tôi có lời khuyên đúng đắn, phù hợp, tháo gỡ cho các em.
Tôi luôn nhấn mạnh: Tất cả học sinh trong lớp đều phải có trách nhiệm
giúp đỡ các bạn học chậm tiến trong lớp. Nhưng để theo dõi chính xác, đầy đủ
và có trách nhiệm hơn, cần phân công cụ thể người theo dõi, giúp đỡ HSCB
2.4.9. Hình thức xử lí vi phạm
Với các học sinh vi phạm, có thể dùng các biện pháp xử lý sau: Cho học
sinh viết bản tự kiểm điểm, kiểm điểm trước lớp và tự nhận hình thức kỉ
luật( như chép phạt, lao động, đình chỉ học, hạ hạnh kiểm, mời PHHS...)
Tùy vào mức độ vi phạm có thể khiển trách trước lớp hoặc đề nghị lên
Hội đồng kỉ luật để xử lí; Xếp loại hạnh kiểm không quá mức trung bình trong
tháng đó. Thông báo cho gia đình học sinh biết.
Các biện pháp trên đôi khi chỉ có hiệu quả đối với những HS hiếu động,
nông nổi nhất thời còn đối với những HS cá biệt, ngỗ nghịch, khó dạy đến cả gia
đình phải đầu hàng thì buộc lòng phải dùng biện pháp mạnh, sau nhiều lần kết
hợp với gia đình khuyên bảo, giáo dục mà HS vẫn không tiến bộ thì tôi xử lý
như sau: Mỗi một vi phạm là một tờ tự kiểm được đọc trước lớp trong giờ
SHCN, đúng 5 tờ tự kiểm tôi cho cảnh cáo trước lớp lần thứ nhất, sau đó tiếp tục
3 tờ tự kiểm nữa tôi cho cảnh cáo trước lớp lần thứ hai. Toàn bộ hồ sơ có liên
quan tôi nộp cho Ban quản lý HS đề nghị đưa ra hội đồng kỷ luật xử lý. Bên
+ Lập kế hoạch cho cán sự lớp để thành lập các cặp đôi bạn cùng tiến. Luôn
thông báo kịp thời các thông tin về học sinh với gia đình và ngược lại.
+ Phải gần gũi, thân thiện, biết lắng nghe để học sinh cá biệt giải bày được tâm
tư, khúc mắc để cùng giáo viên bộ môn và gia đình phối hợp giáo dục.
Nhìn chung, dù là phương pháp gì thì đối với công tác chủ nhiệm người
GVCN phải vạch ra kế hoạch và những biện pháp cụ thể để quản lí, để dìu dắt
lớp. Trước tiên, GVCN phải làm cho các em thích đi học. Muốn thế, GVCN phải
mất rất nhiều công sức và thời gian trong việc giáo dục nhận thức của các em,
GVCN tranh thủ trong giờ sinh hoạt chủ nhiệm, trong hoạt động ngoài giờ lên
lớp, trong các buổi lao động tập thể, trong các buổi dã ngoại…GVCN phải phân
tích, giải thích, minh chứng cụ thể những sự việc xảy ra hàng ngày trong cuộc
sống gia đình và ngoài xã hội mà các em thấy được, khơi dậy lòng hiếu tử của
một người con khi chính mắt nhìn thấy cha mẹ vất vả cả đời kiếm tiền lo cho
con ăn học với mong muốn con mình đỗ đạt – có nghề nghiệp ổn định – người
có ích cho xã hội sau này, để từ đó các em hiểu rõ mục đích, lý do mà các em
phải đi học, một khi các em đã nhận thức đúng đắn về việc học tập của mình rồi
thì GVCN sẽ dễ dàng hướng các em đến ước mơ, hoài bảo về tương lai sự
nghiệp của bản thân mình. Một nhiệm vụ nặng nề như thế, nếu chỉ có một mình
GVCN làm thì không thể nào đạt hiệu quả được mà phải nhờ nhiều người chung
tay gánh vác như BGH nhà trường, đoàn – hội, GVBM, gia đình và xã hội…
Hơn nữa, các em học sinh chính là thế hệ tương lai của đất nước. Nên
bản thân luôn luôn hướng các em theo khẩu hiệu “Học vì ngày mai lập nghiệp”.
Học để hiểu biết, học để trau dồi tri thức và học để trở thành những người công
dân có ích cho xã hội. Tôi cũng tin tưởng rằng, mình đã đưa ra những biện pháp
thích hợp trong việc khơi dậy hứng thú học tập và rèn luyện, giáo dục đạo đức
cho học sinh cá biệt. Đây là yếu tố cần thiết, giúp cho chất lượng học tập của
các em ngày một được nâng cao
2.5. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi áp dụng đề tài " Một số kinh nghiệm thực tiễn trong công tác
chủ nhiệm góp phần nhằm nâng cao ý thức học tập và giáo dục đạo đức cho học
22
55,0%
3
7,5%
Yếu:
0
0,00%
0
0.0%
Kém:
0
0.00%
Cộng
43
100%
43
100%
Danh hiệu học sinh Giỏi
0
0.0%
Danh hiệu học sinh Tiên tiến
18
27,6,6%
Qua một số biện pháp, cách thức mà tôi áp dụng , tôi thấy kết quả
học tập và rèn luyện của học sinh ngày càng tiến bộ rõ rệt. Các em ngày càng
chăm ngoan. Điều đó làm tôi rất vui mừng và vơi đi những vất vả, mệt nhọc.
Tình cảm thầy- trò, bạn bè ngày càng gắn bó và thân thiện . Những công việc tôi
làm đều bắt nguồn từ tinh thần trách nhiệm của một giáo viên chủ nhiệm lớp, từ
tình yêu đối với học trò của mình. Lao động của một giáo viên chủ nhiệm lớp là
lao động sáng tạo không ngừng, sự sáng tạo đó đòi hỏi phải toàn diện: sáng tạo
Dẫu chưa có danh hiệu nào dành cho những GVCN tận tụy thì sự trưởng
thành của học trò sẽ là những phần thưởng quí giá nhất mà những GVCN hết
lòng với học sinh luôn hạnh phúc đón nhận.
Đề tài SKKN không đi sâu vào các phương pháp trong giáo dục học sinh;
vai trò, trách nhiệm của người GVCN. Đề tài chỉ là một vài kinh nghiệm trong
công tác quản lí, giáo dục những học sinh học yếu, những học sinh chưa được
ngoan. Vì thời gian có hạn, kinh nghiệm cũng chưa nhiều, nên trên đây cũng chỉ
là một vài kinh nghiệm nhằm sẻ chia cùng đồng nghiệp. Qua nhiều năm tận tụy
với nghề, hết lòng yêu nghề, quý mến học sinh. Thực hiện phương châm “Tất cả
vì học sinh thân yêu”. Kết hợp với kinh nghiệm của bản thân và sự chia sẽ của
bạn bè đồng nghiệp, bản thân luôn hoàn thành tốt việc giúp đỡ đối tượng học
sinh yếu. Đây là một trong những tác động lớn đưa bản thân đến việc nghiên cứu
viết sáng kiến kinh nghiệm này một cách thiết thực và áp dụng trong giảng dạy
kết quả có khả thi.
3.2. Kiến nghị, đề xuất
- Ban giám hiệu nhà trường tránh tạo áp lực thành tích đối với những GVCN lớp
cuối khối.
- Đối với những học sinh lớp cuối khối thì chúng ta chỉ nên rèn cho các em đạt
chuẩn tối thiểu của mình chứ không nên chạy theo thành tích.
- Các em yếu, kém ở cấp THPT là phần lỗi của nhiều nguyên nhân, nhiều yếu tố.
Nên đừng vội quy lỗi cho các em, đừng bắt tội gia đình, đừng đổi thừa nhà
trường, và cũng đừng bắt GVCN gánh chịu. Mà chúng ta hãy cùng chung tay
20
tháo gỡ, dìu dắt các em để chí ít các phải biết mình phải rời trường phổ thông để
vào bể đời như thế nào!
- Cần mạnh dạn đánh giá học lực cuối năm một cách xác thực theo chuẩn kiến
thức mà học sinh đạt được, nhằm khắc phục tình trạng học sinh yếu dứt khoát
dục học sinh của người GVCN - NXB Đại học Quốc gia HN - Năm 2000.
3. Bùi Thị Mùi - Tình huống sư phạm trong công tác giáo dục học sinh trung học
phổ thông - NXB Đại học sư phạm. Năm 2005
4. PGS.PTS Hà Nhật Thăng -Thực hành tổ chức hoạt động Giáo dục, Nhà xuất
bản Giáo dục - Năm 1998
5. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo - Giáo viên chủ nhiệm lớp những ký ức khó phai Nhà xuất bản Giáo dục - Năm 2011
6. Nguồn tư liệu trên Internet qua các trang báo:
www.baomoi.com/bien-phap-giao-duc-hoc-sinh-ca-biet/c/16669163.epi
www.baomoi.com/cam-ky-trong-giao-duc-hoc-sinh-cabiet/c/13661814.epi
22
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:
ĐỖ ANH TUẤN
Chức vụ và đơn vị công tác:
TRƯỜNG THPT 4 THỌ XUÂN
TT
1
Tên đề tài SKKN