tiểu luận môn pháp luật chống bán phá giá - Pdf 14

1. Nguyên tắc sử dụng chứng cứ sẵn có là gì ?
Nguyên tắc sử dụng chứng cứ sẵn có được hiểu là khi các thông tin, tài liệu cần thiết không được cung
cấp theo đúng yêu cầu thì cơ quan điều tra sử dụng mọi tài liệu thông tin mà cơ quan điều tra có được để xác
định các nội dung điều tra, bao gồm các thông tin trong hồ sơ yêu cầu của ngành sản xuất trong nước, thông tin
được cấp bởi các chủ thể khác hoặc các thông tin mà các cơ quan có thẩm quyền thu thập được.
Cụ thể chứng cứ là gì, thì theo quy định tại Điều 3 Nghị định 90/2005: “ Chứng cứ trong quá trình giải
quyết vụ việc chống bán phá giá là những gì có thật được Cơ quan điều tra chống bán phá giá, Hội đồng xử lý
vụ việc chống bán phá giá dùng làm căn cứ để xác định tình trạng bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt
Nam, tình trạng ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể, mối
quan hệ giữa việc bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam với thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt
hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn
vụ việc chống bán phá giá.”
Chứng cứ theo khoản 2 điều 60 của Luật Cạnh Tranh được xác định từ các nguồn sau đây:
“a) Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện vi phạm, tiền và những vật khác có giá trị chứng minh
hành vi vi phạm quy định của Luật Cạnh Tranh;
b) Lời khai của người làm chứng, giải trình của tổ chức, cá nhân liên quan;
c) Tài liệu gốc, bản sao tài liệu gốc, bản dịch tài liệu gốc được công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận;
d) Kết luận giám định.”
Theo đó chứng cứ có sẵn là những chứng cứ như theo quy định của pháp luật mà cơ quan quản lý cạnh
tranh hoặc được điều tra viên, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh thu thập được trong quá trình điều tra để sử
dụng làm căn cứ xác định tình trạng bán phá giá. Sử dụng chứng cứ có sẵn trong điều tra là hành vi áp dụng
những thông tin, tài liệu có sẵn trong quá trình điều tra vào giải quyết vụ việc chống bán phá giá đã được điều
tra trước đó.
Cũng cần nói thêm rằng, chứng cứ có sẵn trong điều tra chỉ được sử dụng trong những trường hợp cụ thể
và nhất định theo luật định, không phải mọi chứng cứ có sẵn điều được sử dụng trong quá trình giải quyết vụ
việc chống bán phá giá. Việc áp dụng chứng cứ có sẵn trong điều tra dựa trên quy định cụ thể của pháp luật có
thể gọi chung là nguyên tắc chứng cứ có sẵn trong điều tra.
2. Nguyên tắc sử dụng chứng cứ sẵn có được áp dụng ở giai đoạn nào?
Như đã biết, phần lớn nội dung của pháp luật chống bán phá giá bao gồm các quy định về trình tự, thủ
tục điều tra, xử lý vụ việc chống bán phá giá.

UBTVQH11, cơ quan điều tra có quyền quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá dựa trên những thông tin, tài
liệu sẵn có trong trường hợp tài liệu cần thiết không được cung cấp theo đúng yêu cầu của cơ quan điều tra. Từ
nội dung này có thể suy ra rằng, điều kiện áp dụng nguyên tắc sử dụng chứng cứ sẵn có trong điều tra khi các
thông tin, tài liệu mà các bên liên quan trong quá trình điều tra không thể cung cấp hoặc cung cấp không đúng
yêu cầu.
Khoản 5 Điều 22 Nghị định 90/2005 quy định về các trường hợp sử dụng chứng cứ có sẵn: Từ quy định
mang tính nguyên tắc trong Pháp lệnh chống bán phá giá, Nghị định 90/2005/NĐ-CP chỉ diễn giải cụm từ
“trường hợp thông tin, tài liệu cần thiết không được cung cấp theo đúng yêu cầu” bằng quy định Cơ quan điều
tra sẽ quyết định dựa trên các thông tin, tài liệu có sẵn trong 4 trường hợp sau đây:
(1) Bên liên quan không cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết theo đúng yêu cầu của cơ quan điều tra;
(2) Kết quả giám định, kiểm tra, xác minh cho thấy các thông tin, tài liệu do các bên liên quan cung cấp là
không xác thực;
(3) Bên liên quan không đồng ý để cho Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra xác minh;
(4) Bên liên quan gây cản trở quá trình điều tra.
Về cơ bản, Pháp luật của WTO và các nước có nội dung tương tự. Tuy nhiên, pháp luật của họ yêu cầu
cơ quan điều tra khi áp dụng nguyên tắc này cần phải cân nhắc đến điều kiện thực tế của các bên trong việc
cung cấp chứng cứ. ADA khuyến cáo cơ quan có thẩm quyền của các nước không nên đặt ra gánh nặng bất hợp
lý cho DN trong việc cung cấp thông tin. Pháp luật của các nước như Canađa, Hoa Kỳ, EU…khi xem xét khả
năng sử dụng chứng cứ sẵn có luôn tính đến những hoàn cảnh cụ thể của từng DN. Các yếu tố được xem xét
bao gồm (không giới hạn) quy mô, hệ thống kế toán, năng lực máy tính của DN. Để hiểu hơn về các điều kiện,
ta phân tích rõ từng điều kiện áp dụng nguyên tắc sử dụng chứng cứ sẵn có:
1. Bên liên quan không cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết theo đúng yêu cầu của cơ quan điều tra: Không cung
cấp thông tin, tài liệu cần thiếu theo đúng yêu cầu ở đây có thể hiểu rằng, cơ quan điều tra yêu cầu tài liệu này
nhưng lại cung cấp tài liệu khác, biết được rằng tài liệu đó là cần thiết cho việc điều tra nhưng cố tình không
cung cấp, hay là không cung cấp đúng. Mặc dù các thông tin cung cấp có thể không hoàn thiện, nhưng điều này
không có nghĩa là các cơ quan có thẩm quyền lại xem nhẹ các thông tin này nếu bên liên quan đã làm hết khả
năng của mình.
Giải thích cụm từ “theo đúng yêu cầu”:Đúng yêu cầu có nghĩa là cơ quan có thẩm quyền đề nghị bên
liên quan trả lời bằng một phương tiện nào đó (ví dụ như qua băng từ) hay qua các ngôn ngữ máy tính thì các
bên được yêu cầu phải làm như đề nghị đó mà không được làm khác đi. Trong trường hợp đề nghị như vậy, cơ

chiều hướng bất lợi cho mình?
4. Bên liên quan gây cản trở quá trình điều tra:Trường hợp này khác với trường hợp (3); “không đồng ý” và “cản
trở” là 2 trường hợp khác nhau. Trong trường hợp này chủ thể có liên quan có tinh thần hợp tác, có cung cấp tài
liệu, số liệu theo yêu cầu của cơ quan điều tra, nhưng họ có những hành vi thiếu trung thực, hay là không cung
cấp hết tài liệu theo yêu cầu, chỉ cung cấp một số tài liệu có lợi cho họ, hoặc có những hành vi khác gây cản trở,
khó khăn, hạn chế cho việc tiến hành điều tra của cơ quan điều tra. Họ cố tình gây bất lợi cho phía bên cơ quan
điều tra nhằm che giấu tài liệu của mình hay một số lí do gì đó khác. Trường hợp này rõ ràng việc điều tra sẽ bị
gián đoạn hoặc đi lệch hướng nếu các cơ quan điều tra không sử dụng các chứng cứ khác với chứng cứ mà các
bên như trên cung cấp, đó chính là sử dụng chứng cứ sẵn có trong quá trình điều tra.
Như vậy, không phải mọi trường hợp, nguyên tắc trên đều được áp dụng, mà việc áp dụng nó còn phải
có các điều kiện nhất định, mỗi điều kiện đều có những nguyên nhân nhất định của nó, đi sâu thêm một chút
nữa, ta cùng tìm hiểu về nguyên nhân của việc áp dụng nguyên tắc trên.
4. Nguyên nhân áp dụng nguyên tắc này?
Một trong những giai đoạn quan trọng của hoạt động chống bán phá giá hàng xuất nhập khẩu đó là quá
trình điều tra bên xuất khẩu có thực hiện hành vi bán phá giá hay không.Quá trình này cho phép bên có thẩm
quyền( nước nhập khẩu) áp dụng các biện pháp thích hợp trong điều tra để xác thực và đưa ra chứng cứ chứng
minh rằng đã có hành vi phá giá đối với hàng nhập khẩu vào nội địa quốc gia đó,vì vậy ngay sau khi bắt đầu
vào quá trình điều tra
1
,bên có thẩm quyền sẽ thực hiện các yêu cầu đối với các bên liên quan để thu thập chứng
cứ đồng nghĩa với việc các bên liên quan có quyền được thông báo về những thông tin mà cơ quan có thẩm
1 Điều 5 phụ lục I ADA
Page | 3
quyền yêu cầu và có đầy đủ cơ hội để có thể cung cấp bằng văn bản các các bằng chứng mà họ cho rằng có liên
quan đến quá trình điều tra.Các quyền và nghĩa vụ cung cấp thông tin của các bên liên quan được quy định tại
các khoản 1,2,3,4,5,6,7 điều 6 phần I ADA.
Tuy nhiên có thể bên khởi kiện kết luận những dữ liệu mà bên bị khởi kiện cung cấp tài liệu,thông tin
bằng văn bản còn thiếu,không đầy đủ ,không chính xác và không đáng tin cậy hoặc việc cung cấp không hổ trợ
hoặc không liên quan gì dến cuộc điều tra đó.Việc áp dụng nguyên tắc sử dụng chứng cứ sẵn có này sẽ dẫn đến
hậu quả bất lợi cho bên không cung cấp đầy đủ thông tin .Vì vậy sẽ hạn chế được phần nào về hành động không

giá được quy định tại Điều 2 ADA chỉ được áp dụng cho sản phẩm có xuất xứ từ các nước có nền kinh tế thị
trường. Còn đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ các quốc gia không có nền kinh tế thị trường thì có thể
không sử dụng các cách thức nói trên để xác định giá trị thông thường để xác định biên độ phá giá.Bởi vì nền
kinh tế phi thị trường còn chịu sự khống chế của nhà nước trong việc định giá hoặc thương mại của nhà nước đó
hoàn toàn mang tính chất độc quyền,thì việc xác định tính so sánh của giá cả nhằm mục đích xác định giá trị
thông thường của sản phẩm có thể có những khó khăn đặc biệt và trong những trường hợp đó, các bên ký kết là
nước nhập khẩu có thể thấy cần tính đến khả năng rằng, việc so sánh chúng với giá cả trong nước của nước xuất
khẩu không phải lúc nào cũng thích đáng
2
.Vì vậy khoản 2 điều 2 trực tiếp cho phép bên có thẩm quyền đưa ra
biện pháp điều tra khác đó là biên độ bán phá giá sẽ được xác định thông qua so sánh với mức giá có thể so
sánh được của sản phẩm tương tự được xuất khẩu sang một nước thứ 3 thích hợp.Lúc này các doanh nghiệp
2 PGS-TS Dương Anh Sơn-Quy chế nền kinh tế phi thị trường và vấn đề minh bạch để ứng phó với các vụ kiện bán phá giá.
Page | 4
hoặc các bên liên quan ở nước nhập khẩu mặc dù có thể thiện chí trong việc cung cấp thông tin nhằm xác định
biên độ phá giá thì cũng không có khả năng được bên có thẩm quyền sử dụng thông tin đó,do việc xác định đã
được sử dụng bằng chứng cứ sẵn có đó là sản phẩm tương tự được xuất khẩu sang nước thứ 3.Vì vậy quốc gia
xuất khẩu có qui chế kinh tế thị trường hay không cũng là một trong những nguyên nhân để áp dụng bằng
chứng sẵn có trong việc xác định biên độ chống bán phá giá hàng xuất nhập khẩu.
Như vậy, có thể xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân mà nguyên tắc này được áp dụng, có thể do yếu tố
khách quan ( một quốc gia bị kết luận có nền kinh tế phi thị trường) hoặc lý do chủ quan ( các bên không chịu
hợp tác, không thể cung cấp đủ thông tin ). Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp áp dụng đều mang lại kết
quả đúng đắn. Vậy cần phải xem xét ưu và nhược điểm của nguyên tắc này trước khi sử dụng cho từng trường
hợp.

5. Ưu và nhược điểm của nguyên tắc này là gì ?
Khi xem xét tính tối ưu và bất cập mà nguyên tắc này đem lại, thì tùy từng trường hợp mà khi áp dụng,
sẽ có những ưu nhược điểm khác nhau:
Trong trường hợp bất kỳ bên nào từ chối không cho tiếp cận thông tin hoặc từ chối không cung cấp các
thông tin, như ta đã biết, theo như nguyên tắc thứ nhất trong việc thu thập và cung cấp chứng cứ, hoạt động

mục đích không chính đáng.
6. Khi sử dụng nguyên tắc này cần lưu ý những gì ?
Page | 5
Nguyên tắc sử dụng chứng cứ sẵn có trong hoạt động điều tra phá giá là một nguyên tắc quan trọng
mang tính dự phòng tuy nhiên bản thân nguyên tắc này cũng mang tính tương đối khi bộc lộ những mặt hạn chế
như đã được phân tích ở trên. Vậy với những nhược điểm đó trong khi chưa có cách thức khắc phục thì vấn đề
đặt ra là những điều gì cần được lưu ý khi sử dụng để có thể đảm bảo tối đa mức công bằng của hoạt động điều
tra chống bán phá giá trong giai đoạn thu thập và cung cấp chứng cứ. Phụ lục II hiệp định chống bán phá -ADA
đã đưa ra những quy định cần phải tuân thủ khi sử dụng nguyên tắc này- cũng chính là khoản 8 Điều 6 ADA ,
trong đó có hai vấn đề chính cần lưu ý:
Thứ nhất, cần cân nhắc đến điều kiện thực tế của các bên trong việc cung cấp chứng cứ. Đối với pháp
luật các nước nói riêng và WTO nói chung khi áp dụng nguyên tắc sử dụng chứng cứ sẵn có cần cân nhắc đến
hoàn cảnh thực tế của các doanh nghiệp khi mà bị đưa vào trường hợp không hợp tác với cơ quan có thẩm
quyền. Vì trong tình huống này có thể họ thực tình không hợp tác nhưng cũng có thể là ngược lại nhưng vì
nhiều yếu tố tác động khiến họ lâm vào tình trạng không hợp tác theo quy định của pháp luật và buộc phải chấp
nhận việc áp dụng sử dụng chứng cứ sẵn có mà thường là những thông tin bất lợi cho họ.
Những yếu tố cần cân nhắc nói trên không bị giới hạn và có thể là các yếu tố về quy mô, hệ thống kế
toán, năng lực về máy tính của doanh nghiệp, quy định cụ thể tại các đoạn 3,4,5 Phụ lục II, ADA cùng với việc
cân nhắc cơ quan có thẩm quyền cũng phải tạo điều kiện để các doanh nghiệp nói trên có cơ hội cung cấp
chứng cứ và giải thích lý do trong một khoảng thời gian hợp lý.
Có thể xem xét một trường hợp để hiểu rõ khi doanh nghiệp muốn cung cấp thông tin nhưng lại rơi vào
tình trạng không hợp tác theo quy định của pháp luật. Khi so sánh hệ thống kế toán giữa hai quốc gia là Việt
Nam và Hoa Kỳ có thể có rất nhiều điểm khác biệt cụ thể trong cách thức làm kế toán. Nhưng vấn đề chính là
sự khác biệt này lại là yếu tố quan trọng khiến cho DN rơi vào tình trạng “ không thiện chí” trong việc cung
cấp thông tin. Khi có đơn kiện chống bán phá giá từ Hoa Kỳ và quốc gia này gửi cho phía các doanh nghiệp
Việt Nam bảng câu hỏi về chi phí sản xuất thì phía Việt Nam tốn rất nhiều thời gian để có thể xử lý được thông
tin và hoàn tất bảng câu hỏi để trả lời cho Hoa Kỳ trong khi đó thời hạn nộp lại bảng câu hỏi này lại là một
khoảng thời gian khá ngắn theo pháp luật chống bán phá giá của quốc gia này. Chính vì vậy các doanh nghiệp
Việt Nam dù rất thiện chí và có tinh thần hợp tác nhưng lại rơi vào hoàn cảnh “ lực bất tòng tâm” và bên Hoa
Kỳ cụ thể là sẽ kết luận phía doanh nghiệp Việt Nam không hợp tác và sẽ sử dung những chứng cứ sẵn có thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status