Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của việt nam và giải pháp thực hiện - Pdf 14



1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM TRONG WTO
CỦA VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Họ và tên sinh viên : Ngô Mai Dung
Lớp : Anh 1
Khóa : 42
Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Trịnh Thị Thu Hƣơng
11
2. Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO
16
CHƢƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CAM KẾT TRONG WTO ĐỐI
VỚI DỊCH VỤ BẢO HIỂM VIỆT NAM
22
I. Tổng quan về thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam
22
1. Quy mô thị trường
22
2. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
23
3. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
26
4. Hoạt động tái bảo hiểm
29
5. Hoạt động trung gian bảo hiểm
29
II. Tác động của các cam kết WTO đến hệ thống pháp luật về bảo hiểm
của Việt Nam
30
1. Rỡ bỏ các rào cản tham gia thị trường
31
2. Thành lập cơ quan quản lý nhà nước độc lập
32
3. Xây dựng hệ thống các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng
33 3

52
3. Rủi ro được quản lý tốt hơn tạo thêm sức hấp dẫn cho môi trường đầu tư
của Việt Nam
52
4. Bỏ ngỏ một số phân đoạn thị trường53
5. Tăng cường xu hướng hợp nhất, sáp nhập và liên kết dịch vụ tài chính
54
6. Phát triển các kênh phân phối mới
55
II. Tìm hiểu kinh nghiệm của Trung Quốc trong mở cửa thị trƣờng bảo hiểm
57
1. Lịch sử phát triển của ngành bảo hiểm
57
2. Những thay đổi khi trở thành thành viên của WTO
58
3. Sự tham gia của các công ty bảo hiểm nước ngoài
59 4
4. Môi trường pháp lý
60
5. Cấp phép hoạt động bảo hiểm
61
III. Các giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt nam
62
1. Các giải pháp vĩ mô

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1. Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp
22
Bảng 2. Số tiền bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ
26
Bảng 3. Số hợp đồng, số tiền bảo hiểm và số phí bảo hiểm khai
thác mới năm 2006
27
Bảng 4. Tình hình trả tiền bảo hiểm 2005 - 2006
28
Bảng 5. Hoạt động tái bảo hiểm năm 2004 - 2006
29

Biểu đồ 1. Thị phần doanh thu phí bảo hiểm Việt Nam 2006
24
Biểu đồ 2. Doanh thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ
25
Biểu đồ 3. Doanh thu phí bảo hiểm giữ lại theo nghiệp vụ
25
Biểu đồ 4. Doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới
27
Biểu đồ 5. Phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới 2005-2006
30
Biểu đồ 6. Vốn điều lệ của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ năm 2006
44

mặt với sức ép từ chính thị trường trong nước cùng sự “tấn công” mạnh mẽ
của các tập đoàn bảo hiểm nước ngoài.
Năm 2007 là năm đầu tiên chúng ta thực hiện các cam kết WTO với
các cơ hội và thách thức đan xen, vậy những yếu tố đó tác động đến ngành
bảo hiểm Việt Nam như thế nào; thị trường bảo hiểm trong nước đã làm được 8
gì và còn thiếu sót gì trong thời gian qua; và quan trọng hơn, chúng ta phải có
những giải pháp gì về phía nhà nước và doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát
triển trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh mẽ,
kỹ thuật bảo hiểm tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiệu quả? Việc nghiên
cứu, phân tích để tìm ra câu trả lời cho các vấn đề nói trên là một yêu cầu cần
thiết hiện nay; xuất phát từ thực tế đó, tác giả lựa chọn vấn đề “Cam kết về
dịch vụ bảo hiểm trong WTO của Việt Nam và giải pháp thực hiện” làm đề
tài khoá luận tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích cụ thể những cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong
WTO, liên hệ thực trạng các quy định của Việt Nam hiện nay, đánh giá những
tác động của các cam kết đối với sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam
từ đó đưa ra một số giải pháp thực hiện các cam kết đồng thời cũng là các giải
pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhằm đáp ứng những quy định về dịch vụ
bảo hiểm trong WTO.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, khoá luận sẽ thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Làm rõ những vấn đề liên quan đến khái niệm dịch vụ bảo hiểm
- Phân tích những cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của Việt
Nam
- Nghiên cứu thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam và đánh giá

nhận được sự thông cảm và góp ý của các thầy cô giáo và bạn bè.
Tác giả xin chân thành cảm ơn TS. Trịnh Thị Thu Hương- người đã dành
thời gian tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận này. 10
CHƢƠNG 1. CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM TRONG WTO
I. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM
4. Khái niệm dịch vụ bảo hiểm
1.1. Dịch vụ
Có rất nhiều khái niệm về dịch vụ hiện nay đang được sử dụng, có lẽ
chính tính vô hình, khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng và phức tạp của các
loại hình dịch vụ làm cho việc đưa ra một định nghĩa rõ ràng gặp nhiều khó
khăn. Theo quan điểm của Các Mác “dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản
xuất hàng hoá, khi mà nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, đòi hỏi một sự
lưu thông thông suốt, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con
người thì dịch vụ phát triển” [10].
Vào những năm cuối thế kỷ 20, khi dịch vụ đã trở thành một ngành
kinh tế quan trọng của các quốc gia và trở thành đối tượng nghiên cứu của các
nhà kinh tế, khoa học, người ta thường có hai cách hiểu về dịch vụ. Dịch vụ
hiểu theo nghĩa rộng là lĩnh vực kinh tế thứ 3 trong nền kinh tế quốc dân, theo
cách hiểu này thì những hoạt động nào nằm ngoài hai ngành công nghiệp và
nông nghiệp đều thuộc ngành dịch vụ. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là những hoạt
động hỗ trợ cho quá trình kinh doanh, thương mại, bao gồm các hoạt động hỗ
trợ trước, trong và sau khi bán hàng.
Theo Tạp chí “Nhà kinh tế”, dịch vụ là “bất kỳ cái gì đem bán mà
không thể rơi vào bàn chân bạn”. Như vậy, có thể hiểu dịch vụ là một sản
phẩm vô hình, không nhìn thấy được và không nắm bắt được. Dịch vụ là một
sản phẩm vì nó là kết quả của sức lao động của con người, được tạo ra nhằm
thoả mãn nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá cũng như đáp ứng nhu cầu

tải khác;
- Dịch vụ khác.
Bảo hiểm 12
Có nhiều khái niệm về bảo hiểm hiện nay đang được sử dụng trên thị
trường bảo hiểm thế giới. Trong khuôn khổ khoá luận này, tác giả chỉ đưa ra
một số khái niệm được thừa nhận rộng rãi nhất trên thế giới.
- Theo “Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm” của “Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro
Hoa Kỳ” thì: “Bảo hiểm là việc chuyển giao những rủi ro do các tổn
thất bất ngờ và ngẫu nhiên gây ra từ người được bảo hiểm sang cho
người bảo hiểm khi họ cam kết bồi thường cho những tổn thất này;
cung cấp các quyền lợi bằng tiền khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các
dịch vụ liên quan đến rủi ro cho người được bảo hiểm”.
- Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì: “Bảo hiểm là sự thoả thuận
qua đó một bên (người bảo hiểm) hứa sẽ thanh toán cho bên kia (người
được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự cố
xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm sang người bảo
hiểm. Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, người bảo hiểm đòi
hỏi người được bảo hiểm một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm”.
- Khái niệm bảo hiểm được sử dụng tại thị trường Châu Á: “Bảo hiểm là
biện pháp chia nhỏ tổn thất của một người hay một số ít người cho
nhiều người có cùng khả năng chịu rủi ro nào đó thông qua việc tổ chức
ra một quỹ tài chính tập trung huy động từ các cá nhân, tổ chức tham
gia bảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm, để bồi thường hoặc bù đắp
những tổn thất do những rủi ro đó gây ra”.
- Còn ở Việt Nam, chưa có một khái niệm thống nhất về bảo hiểm. Theo
giáo trình “Bảo hiểm trong kinh doanh” của trường Đại học Ngoại
thương Hà Nội, khái niệm bảo hiểm được hiểu là “một sự cam kết bồi

cung ứng trong lĩnh vực bảo hiểm nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất, lưu
thông, phân phối, tiêu dùng của nền kinh tế cũng như nhu cầu tiêu dùng của
người dân” [14].
5. Phân loại bảo hiểm 14
Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà người ta có thể phân loại bảo hiểm
thành nhiều loại:
2.1. Căn cứ vào cơ chế hoạt động của bảo hiểm
2.1.1. Bảo hiểm xã hội: có tính chất bắt buộc, theo những luật lệ chung,
không tính đến rủi ro cụ thể, không nhằm mục đích kinh doanh…bao gồm
chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, viên chức nhà nước; bảo hiểm y tế;
bảo hiểm thất nghiệp…
2.1.2. Bảo hiểm thương mại: loại hình bảo hiểm không mang tính chất
kinh doanh, kiếm lời.
2.2. Căn cứ vào tính chất của bảo hiểm
2.2.1. Bảo hiểm nhân thọ: là bảo hiểm tính mạng hoặc tuổi thọ của con
người nhằm bù đắp cho người được bảo hiểm một khoản tiền khi hết thời
hạn bảo hiểm hoặc khi người được bảo hiểm bị chết hoặc bị thương tật
toàn bộ vĩnh viễn, bao gồm: bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo
hiểm từ kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ…
2.2.2. Bảo hiểm phi nhân thọ, bao gồm các loại khác như: bảo hiểm sức
khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm tài sản
và bảo hiểm thiệt hại, bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt, bảo hiểm hàng
không, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm xe cơ
giới…
2.3. Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm
Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người, bảo hiểm trách nhiệm.
2.4. Căn cứ theo quy định của pháp luật

tài chính của mình sau khi tổn thất xảy ra. Qua đó, họ có thể duy trì được sự
ổn định kinh tế do một phần hoặc toàn bộ tổn thất đã được phục hồi, như vậy
họ không cần đến sự trợ giúp của các quỹ phúc lợi xã hội, hay trợ cấp của nhà
nước, cũng như không cần đến sự hỗ trợ tài chính của họ hàng, bạn bè.
Việc bồi thường được thực hiện đối với các công ty cũng đem lại lợi ích
lớn cho xã hội. Sau khi tổn thất xảy ra, bồi thường cho phép các công ty tiếp 16
tục hoạt động kinh doanh của mình, công nhân tiếp tục có việc làm, các nhà
cung cấp tiếp tục có hợp đồng và người tiêu dùng vẫn nhận được các hàng
hoá và dịch vụ. Nhà nước cũng được lợi do các khoản thuế vẫn thu được.
Tóm lại, việc bồi thường thiệt hại đóng góp rất nhiều cho sự ổn định của các
hộ gia đình và các hãng sản xuất kinh doanh; và vì vậy, nó là lợi ích kinh tế
xã hội quan trọng nhất của bảo hiểm.
Giảm bớt lo âu và sợ hãi: Điều này đúng cả trước và sau khi tổn thất.
Ví dụ, khi những người trụ cột trong gia đình sở hữu các hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ đủ lớn, họ sẽ ít lo lắng về mặt tài chính của những người phụ thuộc
họ trong trường hợp họ chết sớm. Những người tham gia bảo hiểm tai nạn dài
hạn sẽ không phải lo lắng nhiều đến thu nhập của mình nếu không may bị ốm
nặng hay gặp tai nạn bất ngờ và những người chủ tài sản một khi đã tham gia
bảo hiểm tài sản của mình thì cũng sẽ yên tâm rằng họ sẽ được bồi thường
nếu gặp tổn thất.
Tạo lập quỹ đầu tư: Các công ty bảo hiểm là những nhà đầu tư cung
cấp nguồn vốn dài hạn cho Chính phủ và các ngành công nghiệp thông qua
huy động quỹ từ các cổ đông và người tham gia bảo hiểm. Đầu tư là một lĩnh
vực mà các công ty bảo hiểm nhân thọ rất quan tâm, điều này có được nhờ
tính chất hoạt động kinh doanh của họ. Các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có
hiệu lực nhiều năm, trong thời gian này người tham gia bảo hiểm đóng những
khoản phí đều đặn, sau khi trích lập quỹ dự trữ để trả cho các hợp đồng đáo

điều kiện người hưởng lợi là các tổ chức cho vay. Trong trường hợp tài sản
thế chấp bị phá huỷ hoặc người đi vay chết hoặc bị thương tật không có khả
năng thanh toán nợ thì các tổ chức tín dụng vẫn có thể thu hồi nợ trên cơ sở
bồi thường của các công ty bảo hiểm. Trong thực tế, các ngân hàng cung cấp
tín dụng để các công ty hay hộ gia đình thực hiện mua tài sản (dây chuyền
công nghệ, máy móc thiết bị, xe hơi…) trả góp thì họ thường bắt buộc tham
gia bảo hiểm vật chất cho các tài sản này. Như vậy bảo hiểm có tác dụng
thúc đẩy tín dụng cá nhân và doanh nghiệp trong phạm vi toàn xã hội. 18
II. NHỮNG CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM TRONG WTO
1. Những cam kết về thƣơng mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO
Sau hơn 11 năm đàm phán kể từ khi Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia
nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); ngày 7/11/2006, bộ văn kiện gia
nhập WTO của Việt Nam đã được đại hội đồng WTO thông qua, bao gồm các
tài liệu sau:
- Nghị định thư về việc gia nhập WTO của Việt Nam
- Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO
- Biểu cam kết về thương mại hàng hóa (bao gồm cam kết về thuế
nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan và trợ cấp nông nghiệp)
- Biểu cam kết về thương mại dịch vụ
1.1. Giới thiệu về biểu cam kết thƣơng mại dịch vụ
1.1.1. Cấu trúc
Biểu cam kết dịch vụ gồm 4 cột: i) cột mô tả ngành/phân ngành; ii) cột
hạn chế về tiếp cận thị trường; iii) cột hạn chế về đối xử quốc gia và iv) cột
cam kết bổ sung [11].
Cột mô tả ngành/phân ngành thể hiện tên dịch vụ cụ thể được đưa vào
cam kết. Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của Ban Thư ký WTO, có
tất cả 11 ngành và 155 phân ngành dịch vụ được các Thành viên WTO tiến

Phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ (gọi tắt là phương thức 2) là
phương thức theo đó người tiêu dùng của một thành viên di chuyển sang lãnh
thổ của một thành viên khác để tiêu dùng dịch vụ.
Phương thức hiện diện thương mại (gọi tắt là phương thức 3) là phương
thức theo đó nhà cung cấp dịch vụ của một thành viên thiết lập các hình thức
hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi
nhánh…trên lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ.
Phương thức hiện diện thể nhân (gọi tắt là phương thức 4) là phương 20
thức theo đó thể nhân cung cấp dịch vụ của một thành viên di chuyển sang
lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ.
Cam kết được đưa ra cho từng phương thức từ 1 đến 4 trong hai cột hạn
chế về tiếp cận thị trường và hạn chế về đối xử quốc gia.
1.1.3. Mức độ cam kết
Do các điều kiện được sử dụng trong “Biểu cam kết” của mỗi thành
viên sẽ tạo ra các cam kết có tính ràng buộc pháp lý nên cần chính xác trong
việc thể hiện có hay không có các hạn chế về tiếp cận thị trường và về đối xử
quốc gia, phụ thuộc vào mức độ hạn chế mà mỗi thành viên có thể đưa ra,
thường có bốn trường hợp sau:

 Cam kết toàn bộ
Các thành viên không đưa ra bất cứ hạn chế nào về tiếp cận thị trường
hay đối xử quốc gia đối với một hoặc nhiều dịch vụ hay đối với một hoặc
nhiều phương thức cung cấp dịch vụ. Khi đó, các thành viên sẽ thể hiện trong
biểu cam kết của mình cụm từ “Không hạn chế” vào các cột và phương thức
cung cấp dịch vụ thích hợp. Tuy vậy, các hạn chế được liệt kê trong phần cam
kết chung vẫn được áp dụng.
 Cam kết kèm theo những hạn chế

cửa thị trường ngành đó.
1.2.1. Dịch vụ bảo hiểm
Về tổng thể, mức độ cam kết ngang BTA, tuy nhiên, Việt Nam đồng ý
cho doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài thành lập chi nhánh bảo hiểm phi
nhân thọ sau 5 năm kể từ ngày bắt đầu thực hiện cam kết. Tác giả sẽ đi sâu
phân tích cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong các phần tiếp theo của khoá luận.
1.2.2. Dịch vụ ngân hàng
Về cơ bản, Việt Nam không cam kết đối với hình thức cung cấp dịch
vụ qua biên giới, trừ dịch vụ cung cấp thông tin tài chính và các dịch vụ tư
vấn phụ trợ; không hạn chế tiêu dùng ở nước ngoài; chỉ các ngân hàng nước
ngoài có tổng tài sản lớn hơn 10 tỷ USD mới được thành lập ngân hàng 100% 22
vốn nước ngoài (từ 1/4/2007), trên 20 tỷ USD mới được thành lập chi nhánh.
Ngân hàng nước ngoài được phép phát hành thẻ tín dụng. Chi nhánh của ngân
hàng nước ngoài được phép huy động tiền đồng tăng dần theo thời gian (từ
1/1/2011 sẽ được phép như ngân hàng trong nước), nhưng không được mở
ATM và các điểm giao dịch ngoài trụ sở. Bên nước ngoài được phép mua tối
đa 30% cổ phần của ngân hàng trong nước [27].
1.2.3. Dịch vụ chứng khoán
Việt Nam không cam kết đối với hình thức cung cấp dịch vụ qua biên
giới, trừ dịch vụ cung cấp thông tin tài chính và các dịch vụ tư vấn phụ trợ;
không hạn chế việc tiêu dùng dùng dịch vụ ở nước ngoài; cho phép thành lập
văn phòng đại diện và liên doanh đến 49% vốn đầu tư nước ngoài từ thời
điểm gia nhập; cho phép thành lập công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán
100% vốn đầu tư nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập và cho phép thành
lập chi nhánh của công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài sau 5
năm đối với một số loại hình dịch vụ như: quản lý tài sản, thanh toán, tư vấn
liên quan đến chứng khoán và cung cấp, trao đổi thông tin tài chính.

 Hàng hoá đang vận chuyển quá cảnh quốc tế
- Dịch vụ môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm;
- Dịch vụ tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi
thường.
 Đối với phương thức tiêu dùng ở nước ngoài: Việt Nam cam kết không
hạn chế
 Đối với phương thức cung cấp hiện diện thương mại: Việt Nam cam
kết không hạn chế, ngoại trừ:
- Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài không được
kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, bảo hiểm xây
dựng và lắp đặt, bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình 24
dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường. Hạn chế
này sẽ được bãi bỏ vào ngày 1/1/2008.
- Sau 5 năm kể từ khi gia nhập, cho phép doanh nghiệp bảo hiểm
nước ngoài thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ, căn cứ vào
các quy định quản lý thận trọng.
 Đối với phương thức cung cấp hiện diện thể nhân: chưa có cam kết trừ
các cam kết chung về nhập cảnh và lưu trú tạm thời.
2.2.2 Cam kết đối xử quốc gia
 Đối với phương thức cung cấp qua biên giới, tiêu dùng ở nước ngoài
và hiện diện thương mại: mở cửa không hạn chế
 Đối với phương thức cung cấp hiện diện thể nhân: chưa cam kết ngoài
các cam kết chung.
2.2.3 Cam kết bổ sung
Là các biện pháp ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp và tiêu dùng dịch
vụ nhưng không thuộc về hạn chế tiếp cận thị trường hay hạn chế về đối xử

Có thể nói, các cam kết cho phép thành lập pháp nhân thực hiện kinh
doanh dịch vụ bảo hiểm là những cam kết mang tính chất tự do hoá thị trường
bảo hiểm và có ảnh hưởng lớn nhất đối với các doanh nghiệp bảo hiểm hiện
đang hoạt động trên thị trường cũng như tới tình hình chung của thị trường.
Việc cho phép thêm các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước
ngoài tham gia cung cấp dịch vụ bảo hiểm tại thị trường Việt Nam sẽ tăng
thêm năng lực khai thác bảo hiểm của thị trường bảo hiểm. Bên cạnh đó, các
doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với kinh nghiệm hoạt động lâu năm trên
phạm vi quốc tế sẽ giúp chuyển giao công nghệ khai thác bảo hiểm và đào tạo
đội ngũ cán bộ làm công tác bảo hiểm tại Việt Nam.
Với năng lực tài chính mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm mới tham gia
thị trường này cũng sẽ cho ra đời các sản phẩm bảo hiểm mới, đáp ứng tốt
hơn nhu cầu của khách hàng. Trong điều kiện cung cấp dịch vụ tốt hơn, khách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status