Khóa luận tốt nghiệp tái bảo hiểm và áp dụng tại việt nam - Pdf 14



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA: KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài: TÁI BẢO HIỂM VÀ ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Minh Thu
Lớp : A2
Khoá : K42 A - KT& KDQT
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Phạm Thị Mai Khanh

Sinh viên: Nguyễn Minh Thu – A2 K42 KTNT 2
Mục lục
Danh mục từ viết tắt 1
Mục lục 2
Lời mở đầu 5
Chương I. Lý thuyết chung về TBH 7
I. Các khái niệm chung về TBH 7
1. TBH và sự ra đời của TBH 7
1.1 Lịch sử ra đời 7
1.2 Sự cần thiết khách quan của TBH 9
1.3 Khái niệm, ưu nhược điểm 11
2. Tác dụng của TBH 13
2.1 Với công ty nhượng TBH (Cendant) 14
2.2 Với người được bảo hiểm (Insured) 14
2.3 Với công ty nhận TBH (Reinsurer) 15
3. Nguyên tắc pháp lý trong bảo hiểm 15
II. Phân loại TBH 17
1. Phân loại theo hình thức TBH 18
1.1 TBH tạm thời (Facultative Reinsurance) 18
1.2 TBH cố định (Treaty) 20
1.3 TBH lựa chọn - bắt buộc (Facultative-Obligatory Reinsurance). 22
2. Phân loại theo phương thức TBH 23
2.2 TBH phi tỷ lệ 27
2.3 TBH kết hợp 31
III. Các bước ký kết hợp đồng TBH. 32
Chương II. Thị trường TBH phi nhân thọ Việt Nam 35
I. Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của thị trường TBH Việt Nam.35
1. Trước khi ban hành nghị định 100/CP về họat động kinh doanh bảo hiểm35
2. Sau khi ban hành nghị định 100/CP 36
3. Sau khi ban hành Luật bảo hiểm 2001 37

III. Một số giải pháp để phát triển thị trường TBH Việt Nam 79
1 Từ phía cơ quan quản lý nhà nước 79
1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp lý cho doanh nghiệp bảo hiểm 79
1.2 Hỗ trợ gián tiếp cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước về mặt kỹ
thuật, nghiệp vụ. 80
1.3 Nâng cao ý thức của người dân về bảo hiểm 81
2 Từ phía các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm 82
2.1 Không ngừng cải tiến, thiết kế sản phẩm bảo hiểm mới 82
2.2 Chú trọng hơn nữa vào hoạt động đầu tư 83
Tái bảo hiểm và áp dụng tại Việt Nam
Sinh viên: Nguyễn Minh Thu – A2 K42 KTNT 4
2.3 ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình cấp đơn, quản lý, khai
thác, bồi thường 84
2.4 Có chính sách phát triển và xây dựng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp
mình 85
3 Giải pháp cho công ty cổ phần TBH Quốc gia Việt Nam VINARE 87
Kết luận 89
Danh mục tài liệu tham khảo 90
Tái bảo hiểm và áp dụng tại Việt Nam
Sinh viên: Nguyễn Minh Thu – A2 K42 KTNT 5
Lời mở đầu
Bảo hiểm là một ngành kinh doanh có nguồn gốc từ rất xa xưa và cùng với nó
TBH cũng đã ra đời đã từ rất lâu và là một bộ phận không thể thiếu trong ngành bảo
hiểm. TBH mang lại những lợi ích rõ ràng cho các nhà bảo hiểm, người được bảo
hiểm và cả nền kinh tế trong môi trường kinh tế – xã hội toàn cầu không ngừng biến
động và tiềm ẩn nhiều rủi ro cần được bảo hiểm. Hiện nay, trên thế giới bất kỳ một
công ty bảo hiểm nào cũng cần đến hoạt động TBH và số lượng các nhà TBH
chuyên nghiệp cũng ngày một tăng với trình độ chuyên môn và khả năng tài chính
ngày càng cao như Swiss Re, Munich Re, Alianz Re, Aon Re
Tại Việt Nam hoạt động bảo hiểm chính thức ra đời năm 1965 đánh dấu bằng

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được chia thành 3 chương như sau:
Chương I. Lý thuyết chung về TBH
Chương II. Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam
Chương III. Những cơ hội và thách thức với thị trường TBH phi nhân thọ
trong thời kỳ hội nhập.
Cuối cùng, cho phép người viết được gửi lời cảm ơn chân thành đến Thạc sỹ
Phạm Thị Mai Khanh – giảng viên trường Đại học Ngoại Thương, người đã nhiệt
tình giúp đỡ tôi trong quá trình viết khóa luận và đã đưa ra những góp ý quý báu để
bài khóa luận có thể tương đối hoàn chỉnh như hiện nay. Tuy vậy, do bản thân
người viết chỉ là một sinh viên không thuộc chuyên ngành bảo hiểm, thêm vào đó là
trình độ nghiên cứu còn hạn chế, khóa luận chắc hẳn không tránh khỏi nhiều sai sót.
Rất mong được các thầy cô chỉ bảo thêm.
Hà nội, tháng 11 năm 2006
Nguyễn Minh Thu
Lớp A2 K42A KTNT

Tái bảo hiểm và áp dụng tại Việt Nam
Sinh viên: Nguyễn Minh Thu – A2 K42 KTNT 7
CHƢƠNG I. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TBH
I. CÁC KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TBH
1. TBH và sự ra đời của TBH
1.1 Lịch sử ra đời
TBH ra đời muộn hơn so với bảo hiểm. Những dấu hiệu cổ xưa nhất về
bảo hiểm đã xuất hiện từ thế kỷ thứ V trước công nguyên, nhưng TBH với vị
trí là một ngành bổ trợ chỉ hình thành khi bảo hiểm đã phát triển đến một mức
độ nhất định. Vào cuối thời trung cổ, hoạt động giao thương bằng thuyền vượt
đại dương đã diễn ra khá sôi nổi tại Châu Âu. Những chuyến đi biển dài ngày
chứa đựng vô vàn rủi ro và vì vậy các ông chủ thuyền buôn đã có thói quen
mua bảo hiểm cho tàu và hàng trước mỗi chuyến đi, các tổ chức kinh doanh
bảo hiểm vào thời này cũng đã xuất hiện và hoạt động kinh doanh của họ đều

Mevissen. Chỉ trong 3 năm đầu thành lập, công ty này đã nhanh chóng mở
rộng hoạt động kinh doanh của mình ra các nước Đức, Áo, Thụy Sỹ, Bỉ, Hà
Lan Sự ra đời của Cologne đã đánh dấu một bước ngoặt trong việc kinh
doanh tái bao hiểm. Từ thời điểm này, TBH đã chính thức trở thành một
ngành kinh doanh độc lập và có hệ thống. Sau Cologne là sự ra đời của hàng
loạt các công ty TBH chuyên nghiệp khác:
 Công ty TBH Thụy Sĩ (Swiss Re) năm 1863.
 Công ty TBH London (London Guarantee Reinsurance Co.,Ltd)
năm 1869.
 Công ty TBH Munich (Munchenes Ruck AG) năm 1880.
2

Việc thành lập các công ty TBH chuyên nghiệp là một sự kiện có tính
chất quan trọng trong việc phát triển của ngành bảo hiểm. Bằng cách TBH,
các công ty bảo hiểm đã có sẵn trong tay nguồn đảm bảo đắc lực cho hoạt
động kinh doanh của họ. Do đó, khả năng cạnh tranh của các công ty bảo
hiểm gốc và khả năng phục vụ của các công ty TBH cũng được cải tiến bằng
việc mở rộng TBH cho các loại hình bảo hiểm với các thị trường bảo hiểm
nước ngoài. Hai cuộc chiến tranh thế giới làm ảnh hưởng tới sự phát triển của
ngành bảo hiểm nói chung và TBH nói riêng, nhất là các công ty TBH ở Đức. 2
PGS. TS Hoàng Văn Châu, TS Vũ Sĩ Tuấn, TS Nguyễn Như Tiến – Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh
- Trường Đại học Ngoại Thương - NXB Khoa học và Kỹ thuật – 2002
Tái bảo hiểm và áp dụng tại Việt Nam
Sinh viên: Nguyễn Minh Thu – A2 K42 KTNT 9
Đặc biệt là chiến tranh thế giới lần thứ II đã ảnh hưởng đến nền kinh tế các
nước là rất lớn, làm cho hoạt động bảo hiểm và TBH bị ngưng trệ, thậm chí ở
một số nước, nhà cầm quyền còn trưng dụng cả quỹ bảo hiểm để phục vụ

hơn bao giờ hết. Thêm vào đó, tình hình kinh tế xã hội toàn cầu nói chung và
tại Việt Nam nói riêng đang tiềm ẩn những bất ổn từ nhiều phía: bất ổn chính
trị, khủng bố, thiên tai Trong thời đại toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, một
tổn thất dù xảy ra tại bất kỳ điểm nào trên thế giới ngày càng phẳng này cũng
có thể làm ngưng trệ cả chuỗi giá trị toàn cầu. Điều đó lý giải tại sao quỹ bảo
hiểm tại các nước phát triển nhất thế giới hiện nay lên đến 10% GDP.
Bảo hiểm và TBH có mối liên hệ rất chặt chẽ. Bảo hiểm là tiền đề của
TBH, và ngược lại TBH giúp bảo hiểm mở rộng phạm vi của mình. Trong
quá trình kinh doanh các công ty bảo hiểm thường xuyên bị đe dọa phá sản
bởi nhiều nguyên nhân như:
 Do đối tượng tham gia bảo hiểm có giá trị quá lớn mà khả năng tài
chính của công ty bảo hiểm lại có hạn. Điều này đặc biệt phổ biến ở các
nền kinh tế đang phát triển, nơi có hệ thống tài chính còn yếu kém.
 Do nhiều tổn thất lớn xảy ra liên tục trong một thời gian ngắn vì tác
động của thiên tai, lụt lội, đặc biệt là trong bối cảnh khí hậu toàn biến
chuyển ngày càng xấu, tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường.
 Do phương pháp và kỹ thuật xác định phí bảo hiểm không chính xác,
thu không đủ bù chi dẫn đến phá sản.
 Do đối tượng tham gia bảo hiểm hoạt động ở địa bàn quá xa, công ty
không đủ khả năng kiểm soát và quản lý rủi ro.
Để đối phó với nguy cơ phá sản mà vẫn tiếp tục nhận được các đơn bảo
hiểm với giá trị lớn, các công ty bảo hiểm đã phải tìm cách chia sẻ rủi ro với
nhau. Có hai phương pháp được các nhà bảo hiểm áp dụng là đồng bảo hiểm
và TBH.
Tái bảo hiểm và áp dụng tại Việt Nam
Sinh viên: Nguyễn Minh Thu – A2 K42 KTNT 11
Đồng bảo hiểm là việc nhiều công ty bảo hiểm cùng bảo hiểm cho một
đối tượng tham gia, như vậy mỗi công ty chỉ phải chịu một phần rủi ro nếu
đối tượng tham gia bảo hiểm gặp tổn thất. Tuy nhiên hình thức này có hai
nhược điểm lớn là:

liền với nghiệp vụ bảo hiểm gốc
Như vậy, nếu như bảo hiểm là hình thức dàn trải tổn thất của một ít
người cho nhiều người cùng chịu thì TBH là hình thức dàn trải một lần nữa
những tổn thất mà các công ty bảo hiểm phải gánh chịu. Nói cách khác, TBH
là bảo hiểm cho các nhà bảo hiểm.
TBH được chia thành hai phần tùy theo góc độ nghiên cứu là: TBH đi
và TBH nhận.
TBH đi (Outward Reinsurance): hay còn gọi là nhượng TBH tức là một
công ty bảo hiểm gốc (là công ty khai thác dịch vụ bảo hiểm trực tiếp từ
khách hàng) phân tán rủi ro cho các công ty TBH . Trong trường hợp này
công ty bảo hiểm gốc phải chuyển bớt một phần phí cho các công ty TBH và
nhận được từ họ yếu tố đảm bảo và ổn định kinh doanh của mình.
Quá trình ngược lại được gọi là TBH nhận (Inward Reinsurance) hay
còn gọi là nhận TBH.
1.3.2 Quan hệ giữa các bên tham gia
Trong một nghiệp vụ TBH cơ bản có những bên tham gia chính sau:
 Ngƣời đƣợc bảo hiểm: là người ký kết hợp đồng bảo hiểm thông
thường với công ty bảo hiểm gốc để bảo hiểm cho đối tượng được bảo
hiểm khỏi những rủi ro được xác định trong hợp đồng bảo hiểm.
 Công ty bảo hiểm gốc: là công ty cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho
người được bảo hiểm, thu phí bảo hiểm và nhận trách nhiệm bồi 3
PGS. TS Hoàng Văn Châu, TS Vũ Sĩ Tuấn, TS Nguyễn Như Tiến – Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh
- Trường Đại học Ngoại Thương - NXB Khoa học và Kỹ thuật – 2002
Tái bảo hiểm và áp dụng tại Việt Nam
Sinh viên: Nguyễn Minh Thu – A2 K42 KTNT 13
thường cho người được bảo hiểm khi có tổn thất xảy ra với đối tượng
bảo hiểm như trong hợp đồng.

2.1 Với công ty nhượng TBH (Cendant)
Tác dụng đầu tiên là TBH giúp cho công ty nhượng TBH tăng khả năng
nhận bảo hiểm và có thể nhận bảo hiểm những rủi ro lớn mà không cần tăng
thêm vốn. Công ty nhượng TBH có thể kinh doanh dựa vào vốn của công ty
nhận TBH. Nếu không có TBH thì công ty nhượng chỉ có thể nhận bảo hiểm
cho những rủi ro tương đương với số vốn của mình.
Thứ hai, TBH giúp công ty nhượng có thể phân tán rủi ro một cách
rộng rãi, đặc biệt là các thảm họa tự nhiên có thể đe doạ cho nền kinh tế quốc
dân như động đất, bão lụt …
Thứ ba, là TBH giúp đảm bảo khả năng thanh toán tiền bồi thường
trong trường hợp xảy ra những thiệt hại lớn hay những rủi ro mang tính thảm
họa. Nhờ đó tình hình tài chính cả công ty nhượng TBH được đảm bảo tính
ổn định hơn.
Thứ tư, TBH có thể giúp người bảo hiểm sửa chữa tính bất thường, đột
biến của rủi ro. Người bảo hiểm cũng có thể nhận được sự tư vấn nghiệp vụ từ
những nhà nhận TBH.
Cuối cùng, sau khi chuyển phần phí TBH cho công ty nhận TBH, công
ty bảo hiểm gốc còn nhận được một khoản tiền hoa hồng cho các dịch vụ mà
mình khai thác được. Nhiều khi đây là yếu tố quan trọng để các công ty bảo
hiểm gốc quyết định sẽ ký hợp đồng TBH với công ty TBH nào.
2.2 Với người được bảo hiểm (Insured)
Tái bảo hiểm và áp dụng tại Việt Nam
Sinh viên: Nguyễn Minh Thu – A2 K42 KTNT 15
Người được bảo hiểm sẽ được đảm bảo rằng số tiền tổn thất sẽ được
thanh toán khi số tiền bảo hiểm và số tiền tổn thất là quá lớn.
Nghiệp vụ TBH sẽ hạn chế xu hướng gia tăng phí bảo hiểm vì nếu
không có TBH thì công ty bảo hiểm gốc sẽ phải thu một khoản phí bảo hiểm
rất lớn để đề phòng bị phá sản khi có thảm hoạ xảy ra.
2.3 Với công ty nhận TBH (Reinsurer).
Đối với công ty nhận TBH chuyên nghiệp: Một công ty nhận TBH

- Hợp đồng TBH cũng mang tính chất như một hợp đồng bảo hiểm.
- Người được bảo hiểm gốc là người thứ ba trong hợp đồng TBH.
- Hợp đồng bảo hiểm gốc và hợp đồng TBH phải tồn tại song song.
Như vậy có nghĩa là nếu công ty nhận TBH bị phá sản thì công ty
nhượng TBH vẫn có trách nhiệm đối với toàn bộ số tiền bảo hiểm ghi trên
đơn bảo hiểm. Nhưng nếu công ty nhượng TBH bị phá sản thì người được
bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm gốc không có quyền khiếu nại đối với
công ty nhận TBH. Tuy nhiên, hệ thống luật Anh – Mỹ vẫn cho phép người
được bảo hiểm gốc có quyền được hưởng bồi thường trực tiếp từ người nhận
TBH trong một số trường hợp đặc biệt nhưng phải có điều khoản “ Cut –
through clause” trong hợp đồng TBH. Điều khoản này cho phép người được
bảo hiểm gốc có thể trực tiếp yêu cầu công ty nhận TBH thanh toán một phần
tổn thất trong trường hợp công ty bảo hiểm không có khả năng thanh toán
hoặc bị phá sản.
Mọi nguyên tắc pháp lý áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm cũng đều được
áp dụng tương tự cho hợp đồng TBH giữa công ty nhượng và nhận TBH.
Nguyên tắc tín nhiệm tuyệt đối (The Utmost Good Faith) là nét đặt
trưng trong TBH. Trong hợp đồng TBH, nguyên tắc này phải đặc biệt được 4
PGS. TS Hoàng Văn Châu, TS Vũ Sĩ Tuấn, TS Nguyễn Như Tiến – Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh
- Trường Đại học Ngoại Thương - NXB Khoa học và Kỹ thuật – 2002
Tỏi bo him v ỏp dng ti Vit Nam
Sinh viờn: Nguyn Minh Thu A2 K42 KTNT 17
tụn trng. C th l cụng ty nhng TBH phi cung cp y mi thụng tin
liờn quan ti i tng bo him cho cụng ty nhn TBH bit, nu cú ri ro
xy ra thỡ phi thụng bỏo v tớnh toỏn tn tht mt cỏch trung thc. Ngc li,
cụng ty nhn TBH cng phi trung thc trong vic a ra nhng thng kờ tn
tht trờn th trng th gii tớnh ỳng phớ bo him.


TBH v-ợt tỷ lệ bồi
th-ờng
(stop loss)

TBH cố định

TBH tạm thời
Tái bảo hiểm và áp dụng tại Việt Nam
Sinh viên: Nguyễn Minh Thu – A2 K42 KTNT 18
1. Phân loại theo hình thức TBH
Có 2 hình thức TBH chính là TBH tạm thời và TBH cố định. Xét về
xuất xứ thì TBH tạm thời ra đời trước, tuy nhiên hình thức này dần bộc lộ
nhiều nhược điểm khiến nó được sử dụng ít đi và thay vào đó là hình thức
TBH cố định. Ngoài ra còn có một hình thức TBH nữa là sự kết hợp giữa 2
hình thức trên gọi là TBH lựa chọn-bắt buộc.
1.1 TBH tạm thời (Facultative Reinsurance)
1.1.1 Khái niệm
TBH tạm thời hay còn gọi là TBH tuỳ ý lựa chọn, là hình thức TBH cơ
bản và cổ điển nhất. Theo hình thức này, công ty bảo hiểm gốc chuyển
nhượng cho công ty TBH từng dịch vụ hay từng đơn bảo hiểm một cách riêng
lẻ. Về phần mình, công ty TBH có quyền nhận hay từ chối dịch vụ và đơn bảo
hiểm đó. Công ty bảo hiểm gốc có toàn quyền quyết định TBH cho dịch vụ
nào, với tỷ lệ bao nhiêu, cho công ty TBH nào là tuỳ họ. Mặt khác công ty
TBH có quyền nhận hay từ chối hoặc chỉ nhận TBH với một tỷ lệ mà họ cho
là thích hợp.
Công ty bảo hiểm gốc có nghĩa vụ phải cung cấp cho công ty TBH mọi
thông tin có liên quan đến dịch vụ được bảo hiểm. Trên thực tế nhà TBH cũng
tiến hành đánh giá mức độ rủi ro của dịch vụ rồi quyết định có nhận TBH hay
không mà không cần đầy đủ các chi tiết.

thể dẫn đến việc rò rỉ tin tức cho các đối thủ cạnh tranh.
1.1.3 Trường hợp áp dụng hình thức TBH tạm thời
Tái bảo hiểm và áp dụng tại Việt Nam
Sinh viên: Nguyễn Minh Thu – A2 K42 KTNT 20
Mặc dù TBH tạm thời xuất hiện cùng với sự ra đời của bảo hiểm và có
những nhược điểm như trên, song ngày nay nó vẫn được sử dụng trong một số
trường hợp.
 Nhà bảo hiểm gốc không hiểu biết đầy đủ về một loại rủi ro nào đó và
yêu cầu công ty TBH giúp đỡ. Khi ấy nhà TBH sẽ là người xác định
mức phí, các điều khoản và điều kiện bảo hiểm cũng như những hạn
chế cần thiết cho dịch vụ của nhà bảo hiểm gốc.
 Những thỏa thuận TBH tự động hiện có của công ty bảo hiểm gốc
không bao gồm một số rủi ro hay một phần những rủi ro nào đó. Nếu
nhà bảo hiểm gốc vẫn quyết định nhận bảo hiểm cho rủi ro đó thì phải
tiến hành thu xếp TBH tạm thời.
 Rủi ro nhận bảo hiểm có thể có giá trị vượt quá phạm vi những thỏa
thuận TBH tự động. Do đó phải thu xếp TBH tạm thời cho phần giá trị
vượt quá này.
 Công ty bảo hiểm gốc cũng có thể muốn tránh không đưa những dịch
vụ có nguy cơ tổn thất cao vào những thỏa thuận TBH tự động hiện có
của mình. Do đó, họ phải tiến hành thu xếp TBH tạm thời trước để
giảm bớt khả năng tổn thất trước khi đưa vào hợp đồng TBH tự động.
1.2 TBH cố định (Treaty)
1.2.1 Khái niệm
TBH cố định hay còn gọi là TBH bắt buộc, là hình thức TBH mà theo
đó công ty nhượng phải nhượng cho nhà TBH tất cả các đơn vị rủi ro bảo
hiểm gốc mà hai bên đã thoả thuận và quy định trong hợp đồng. Ngược lại,
nhà TBH cũng buộc phải chấp nhận bảo hiểm toàn bộ các rủi ro đó.
1.2.2 Ưu, nhược điểm
* Ưu điểm:

Tái bảo hiểm và áp dụng tại Việt Nam
Sinh viên: Nguyễn Minh Thu – A2 K42 KTNT 22
hiểm hoạt động trên thị trường hiện nay đều có những hợp đồng TBH cố định
ký với một nhà TBH khác. Thực tế, chỉ khi nào trách nhiệm bảo hiểm vượt
quá giới hạn của hợp đồng cố định thì công ty bảo hiểm gốc mới thu xếp phần
vượt quá đó vào hợp đồng tạm thời.
1.3 TBH lựa chọn - bắt buộc (Facultative-Obligatory Reinsurance).
1.3.1 Khái niệm
TBH hiểm lựa chọn - bắt buộc là một hình thức bảo hiểm mà công ty
nhượng không bắt buộc phải nhượng tất cả những dịch vụ mà mình nhận bảo
hiểm, nhưng ngược lại nhà TBH bắt buộc phải chấp nhận các dịch vụ mà
công ty nhượng đã đưa vào thoả thuận này với điều kiện là những dịch vụ đó
phải phù hợp với nội dung và điều khoản đã qui ước của hợp đồng TBH thoả
thuận. Các bên tham gia hợp đồng TBH tuỳ ý lựa chọn- bắt buộc cần phải có
sự trung thực tuyệt đối để đảm bảo lợi ích cho các nhà nhận TBH.
1.3.2 Ưu, nhược điểm
* Ưu điểm:
 Công ty nhượng TBH không bắt buộc phải nhượng tất cả những dịch
vụ mà mình nhận bảo hiểm. Họ có lựa chọn dịch vụ để chào TBH từng
phần trách nhiệm vượt quá khả năng giữ lại của mình cho một hoặc
một số nhà TBH mà họ lựa chọn, thay vì đem phân chia toàn bộ các
phần vượt quá khả năng ấy cho các nhà TBH. Tuy nhiên, công ty
nhượng không được lợi dụng hình thức TBH này để lựa chọn những rủi
ro xảy ra tổn thất đưa vào hợp đồng và giữ lại những rủi ro có độ an
toàn cao hơn. Để phòng ngừa trường hợp này xảy ra, nhà TBH phải
nắm được ý đồ của công ty nhượng, xem xét kỹ các rủi ro mà công ty
nhượng đem TBH và thường xuyên canh chừng diễn biến của thoả ước
mà mình đã ký kết.
Tái bảo hiểm và áp dụng tại Việt Nam
Sinh viên: Nguyễn Minh Thu – A2 K42 KTNT 23

2.1 TBH theo tỷ lệ
TBH theo tỷ lệ hay còn gọi là TBH theo số tiền bảo hiểm, là phương
thức TBH mà trong đó trách nhiệm của công ty nhượng tái bảo hiểm và nhà
TBH đối với đơn vị rủi ro được bảo hiểm phân bố theo tỷ lệ tham gia của mỗi
bên trên cơ sở số tiền được bảo hiểm. Phương thức này được chia làm hai
loại:
 TBH số thành.
 TBH mức dôi.
2.1.1 TBH số thành - Quota share
Trong phương thức này, công ty nhượng buộc phải nhượng và công ty
nhận buộc phải nhận một tỷ lệ (thường được thể hiện dưới dạng đơn vị phần
trăm) đã ấn định trước đối với tất cả các dịch vụ mà công ty nhượng khai thác
được, trong mỗi loại hình đã được thỏa thuận. Thông thường có một mức giới
hạn cho số tiền bảo hiểm tối đa với tỷ lệ phân chia đã ấn định trước. Phí bảo
hiểm và trách nhiệm bồi thường được chia sẻ giữa công ty nhượng và nhà
TBH theo theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên và số tiền bảo hiểm.
Ví dụ:
Công ty bảo hiểm A thu xếp một hợp đồng TBH số thành cho các đơn
bảo hiểm xe cơ giới với công ty TBH B trong năm 2006. Trong năm đó, phí
bảo hiểm mà công ty A thu được là 10 triệu USD và tổn thất phải trả cho
người được bảo hiểm là 6 triệu USD. Phí nhượng tái và mức đòi bồi thường
nhà TBH trong trường hợp này được tính như sau:

đơn vị: triệu USD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status