•
TRƯỜNG ĐAI HOC sư PHAM HÀ NÔI 2
• • • KHOA NGỮ VĂN
HOÀNG THỊ LƯỢT
NGHI THỨC NÓI VÒNG TRONG CA DAO
VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • •
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Đổ THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI, 2015
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Đỗ Thị Thu Hương, người đã
tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn th ành khóa luận này. Nhờ cô, tôi đã học hỏi được rất
nhiều về phương pháp nghiên cứu khoa học và biết cách nghiên cứu vấn đề khoa học một
cách nghiêm túc và đúng đắn nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các
LỜI CẢM
thầy cô trong khoa Ngữ Văn đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu để hoàn
thành khóa luận này.
Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của nhân dân Việt Nam xem dồi
dào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung động nhiều hơn về những khía
cạnh nào của cuộc đời thì không thể nào không nghiên cứu ca dao Việt Nam.
Ca dao Việt Nam là những bài tình tứ tiêu biểu cho lối thơ trữ tình, đó chính là
những bài ca dao viết về tình yêu của những con người lao động, tình yêu nam
nữ, yêu gia đình, tình cảm YỢ chồng thủy chung, gắn bó.
Ngoài biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất, ca dao còn phản ánh
ý thức lao động sản xuất của con người Việt Nam. Tính tư tưởng của nhân dân
Việt Nam biểu lộ ở ca dao không những làm cho con người ta cảm thông mà
còn gắn bó thân mật gần gũi nhau hơn.
1.2 Điều đặc biệt trong ca dao đó chính là nghi thức nói vòng. Nói vòng
trong ca dao xuất phát từ đặc trưng giao tiếp của người Việt, ưa cách nói nhẹ
nhàng tế nhị, ưánh lối nói trực tiếp khiến mất lòng. Chính YÌ thế nói vòng
trong ca dao là một cách nói gián tiếp bày tỏ tâm tư tình cảm của tác giả dân
gian một cách chân thành qua lời ca dao.
Vì thấy được tầm quan trọng của ca dao xuất phát từ hai lý do trên chúng
tôi chọn đề tài: Nghi thức nói vòng trong ca dao Việt Nam.
2. Lích sử vấn đề
■
Nói vòng là một hiện tượng ngôn ngữ xảy ra ttong hoạt động giao tiếp
thường ngày. Đây là một hiện tượng ngôn ngữ nảy sinh khi sự phát triển của tư
duy đã đạt tới trình độ cao. Trước đây cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu đã
từng nghiên cứu và đề cập đến nghi thức nói vòng trong giao tiếp và văn hóa
người Việt Nam, tuy nhiên trong ca dao thì chưa có công trình nào nhắc tới cụ
thể, chỉ có các công trình liên quan. Trong phạm vi đề tài của khóa luận, chúng
tôi xin nêu ra những tài liệu có liên quan và gần gũi nhất với vấn đề của khóa
luận. Cụ thể, có thể kể tới một số công trình nghiên cứu sau:
thể hiện tình cảm. Cả người nói và người nghe đều rất ý nhị, không thích sự sỗ
sàng ttong bày tỏ tình cảm. Điều này thuộc văn hóa ứng xử của ngưòi Việt và
vô hình chung nó đã ảnh hưởng tói ngôn ngữ.
Tiếp theo, tác giả Đỗ Thị Bảy vào năm 1999 cũng cho ra mắt công trình
tìm hiếu về “Sự phản ánh quan hệ gia đình, xã hội trong tục ngữ, ca dao người
Việt”, NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội. Qua việc tìm hiểu về mối quan hệ gia đình,
xã hội trong ca dao, tác giả khẳng định người Việt chúng ta có lối nói vòng,
thiên về gián tiếp để thể hiện sự tế nhị, tôn trọng người nghe. Trong cuộc sống
hàng ngày người Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề giao tiếp, ngưòi Việt
Nam do thiên về tình hơn về lí nên khi giao tiếp con người luôn đề cao vai trò
của việc xử dụng ngôn ngữ đẻ đảm bảo cho sự đoàn kết nhất trí, cho cuộc sống
vui vẻ hài hoà. Người Việt Nam luôn nhắc nhở nhau khi giao tiếp, nói năng
phải cân nhắc lựa chọn, tránh kiểu hành xử khiếm nhã làm mất lòng người
khác. Ông cha ta luôn dạy con cháu: Ấn phải nhai nói phải nghĩ. Hơn nữa người
Việt luôn coi trọng nghĩa tình, những lúc khó khăn, có công có việc người ta
đến với nhau vì tình chứ không phải vì yật chất, nên trong văn hoá ứng xử
Người Việt rất coi trọng tinh thần, đặt tinh thần lên hàng đầu.
Bên cạnh đó, trong các công trình nghiên cứu về ca dao, nghi thức nói
vòng cũng được đề cập đến. Trong công trình nghiên cứu “ Thi pháp ca dao” của
Nguyễn Xuân Kính năm 1992, tác giả đã viết về cách thức nói vòng ừong ca
dao qua việc sử dụng biện pháp phú, tỉ và hứng. Thể hứng là một loại ca dao
được mở đầu bằng một hay vài câu tả ngoại cảnh để gợi hứng, sau đó tác giả
mới xúc cảm sinh tình, muốn bộc lộ nỗi lòng của mình. Thể phú là là phô bầy,
mô tả. Phô bầy, mô tả một cách trực tiếp về con người, về cảnh vật thiên
nhiên... Phú cũng là tự sự, kể chuyện về những sự việc, những biến cố xảy ra
trong cuộc đời. Thể tỉ là so sánh. Tác giả tập trung làm rõ hiệu quả của hai biện
pháp này trong ca dao. Vì ca dao trữ tình chủ yếu là bộc lộ tình cảm, tâm sự cá
nhân nên cảnh được mô tả, hay chuyện được kể lại (dù thật hay hư cấu) cũng
đêm trong “ Biểu tượng thơ ca tác giả Hà Công Tài cũng chú ý đi sâu tìm hiểu
“Biểu tượng trăng trong thơ ca dân gian Năm 1998, Phạm Thu Yến viết chuyên
luận “Những thế giới nghệ thuật ca dao” một lần nữa nhấn mạnh hơn vai trò của
biểu tượng trong cách nói vòng của nhân dân lao động. Trong đó, ta thấy, tác
giả đã làm rõ khái niệm biểu tượng trong sự phân biệt biểu tượng và ẩn dụ,
phân loại biểu tượng theo tiêu chí đối tượng và tiêu chí cấu trúc, đặc điểm và ý
nghĩa của biểu tượng, sự hình thành và phát triển của biểu tượng. Năm 2001
đến 2005, trong các bài báo, luận văn tiến sỹ của tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa
“Biểu tượng chiếc áo trong đời sổng tinh thần người Việt qua thơ ca, và Biểu tượng
đôi giày trong văn hóa và ngôn ngữ thơ ca Việt Nam” và luận án tiến sĩ “Sự phát
triển ỷ nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam ”... đã
nghiên cứu các biểu tượng này ở ca dao trong tính chỉnh thể, chú ý đến những
biến thể, những hình thái cũng như ý nghĩa của biểu tượng đặc biệt là mối quan
hệ giữa các biểu tượng làm nổi bật chiều sâu của đặc trưng văn hóa và cảm xúc
thẩm mỹ của biểu tượng. Luận án tiến sỹ “Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao
truyền thống” của tác giả Nguyễn Thu Ngọc Điệp 2002 đã khảo sát - thống kê
khá hoàn chỉnh về chi tiết các hệ thống biểu tượng ừong ca dao; gồm ba hệ
thống lớn ừong đó gồm nhiều tiểu hệ thống dựa trên tiêu chí đối tượng. Tác giả
cũng đã thành công khi đưa ra: khái niệm biểu tượng nghệ thuật ừong ca dao,
tìm hiểu nguồn gốc, phân loại miêu tả, cấu tạo và chức năng của biểu tượng
nghệ thuật trong ca dao. Nhìn chung, các tác giả đã có những phát hiện mới về
đặc điểm, vai trò của biểu tượng trong thơ ca dân gian tới nghi thức nói vòng
của nhân dân ta. Biểu tượng trong thơ ca dân gian càng phong phú càng thể
hiện rõ cách nói gián tiếp song đầy ý vị của người dân lao động. Từ đó, chúng
ta hiểu thêm về mỹ học dân tộc, về đặc điểm tư duy người Việt: ưa ngụ ý hơn
nói thẳng, ưa gợi hơn nói rõ ràng.
Tìm hiểu nghi thức nói vòng ừong ca dao để thấy được đặc trưng văn
hóa giao tiếp người Việt Nam. Đó là lối nói xa gần, ưa vòng vo, bóng gió. Từ
đó góp phần hữu ích vào việc giảng dạy ca dao ừong nhà trường nói chung.
3.2 Nhiêm vu
•
■
-
Tổng hợp các vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
-
Khảo sát, thống kê và phân loại ngữ liệu
-
Phân tích một số mục đích của lối nói vòng ttong ca dao
4. Đổi tượng và phạm vỉ nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghi thức nói vòng trong ca dao Việt
Nam.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đe phục vụ cho mục đích nghiên cứu, ngữ liệu được khảo sát ttong
cuốn:
Ca dao trữ tình Việt Nam, Phan Hách, NXB Hải Phòng, 2006.
7. Bố eue
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo khóa luận
của chúng tôi có hai chương:
Chương 1 : Cơ sở lí luận
Chương 2: Các kiểu nói vòng trong ca dao Việt nam
NỘIDUNG CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÍ LUÂN
1.1.
1.1.1.
Khái quát
Khái niêm.
Nói vòng là một lối nói phổ biến trong ngôn ngữ của nhiều dân tộc. Bản
chất của nó là một phép thế danh từ, hay thế đồng sở chỉ, song khác phép thế
thông thường ở chỗ, người ta có thể suy ra sở chỉ của cụm từ nói vòng, dựa vào
ý nghĩa của bản thân cụm từ đó, mà không cần dựa nhiều vào ngữ cảnh như
phép thế các danh ngữ đồng sở chỉ thông thường. Chính vì vậy mà R.martin
(1976) đã xếp lối nói vòng vào loại câu đồng nghĩa ngữ nghĩa học (parphrase
semantique)
Theo tác giả Hữu Đạt, nói vòng là kiểu nói mà người nói (hay người viết)
chú ý muốn tạo ra một phát ngôn nhằm hỏi hay thông báo hoặc trả lời một vấn
đề nào đó mà không muốn nói thẳng ra.
1.1.2.
Quá trình hình thành nghỉ thức nói vòng
Trước hết cần khẳng định rằng, nói vòng là một hiện tượng ngôn ngữ
thường xảy ra trong hoạt động giao tiếp hàng ngày, ở các chức năng như phong
cách khẩu ngữ, phong cách nghệ thuật... về mặt lịch sử, nói vòng là hiện tượng
Cơ sở tạo ra các kiểu nói vòng.
Muốn tạo ra các kiểu nói vòng, người ta phải giả định rằng, người nghe có
cùng với mình những tri thức về nền ngôn ngữ, văn hóa, phong tục. Nghĩa là
hai bên có thể cùng giải mã được các tín hiệu ngôn ngữ mà người nói thiết lập
trong một bối cảnh giao tiếp cụ thể. Điều này quy định, muốn nói vòng thành
công và có hiệu lực trong giao tiếp người nói cần phải hiểu rõ đối tượng của
mình .
Từ những điều trên có thể tìm hiểu một số đặc điểm của cách thức nói
vòng.
1.1.5.
Đặc điểm của cách thức nói vòng.
1.1.5.1.
Tính đồng chiếu
Xét đối thoại:
A: Hôm nay thứ mấy hả anh ?
B: Thứ bảy, (nhưng) anh lại mắc họp.
Sở dĩ đối thoại này được coi là đối thoại theo kiểu nói vòng là vì giữa hai
người đối thoại có một mối quan hệ đồng chiếu với thứ bảy. Chẳng hạn họ có
thói quen, cứ đến thứ bảy là B lại rủ A đi picnic. Lần này, không thấy B rủ, A
sốt ruột nhưng tế nhị không hỏi trực tiếp mình có đi chơi không mà nói vòng
thành một câu khác. Nếu B không có quan hệ đồng chiếu vói A thì câu trả lời
mạnh đến ý thức tỉnh táo của người nghe khi phải gặp các hiện tượng nói vòng.
Nói một cách khác nói vòng là một hiện tượng đa nghĩa, trong đó cái nghĩa
chính của thông báo bao giờ cũng nằm dưới bề mặt cấu trúc của phát ngôn, đòi
hỏi người nghe phải có sự liên tưởng thông qua vốn hiểu biết về ngôn ngữ, văn
hóa, thói quen tư duy dân tộc.
Kiểu nói vòng này do được sử dụng nhiều làn nên nó có tính ổn định và
bền vững cao nó được củng cố trong ý thức dân tộc trở thành thứ di sản văn
hóa đặc biệt. Đó là các thành ngữ, quán ngữ, ca dao. Khi chuyển sang các ngôn
ngữ khác, người ta phải căn cứ vào nội dung của cái điều khác để dịch chứ
không dựa vào cấu trúc bề mặt từ nội dung của cái điều này.
1.1.6.
Phân biệt nói vòng vói uyển ngữ, nhã ngữ
Uyển ngữ là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, nó có ý nghĩa là nói cho
tốt đẹp. Trong tiếng Việt tùy theo phạm vi nghiên cứu mà thuật ngữ này còn
được gọi bằng tên khác như nói giảm, nói tránh, khinh ngữ hay nhã ngữ.
Uyển ngữ được các nhà nghiên cứu định nghĩa như là một sự thay thế một
từ ngữ không được ưa thích nhằm giữ được thể diện, tránh sự mất thể diện của
người nói hoặc người nghe thông qua việc làm chạm tự ái của họ, hoặc giữ thể
diện cho một người, hay phe thứ ba nào đó, biểu thị một tình huống, con người
dưới ánh sáng dễ chịu, hơn là dưới ánh sáng mạnh mẽ của thực tại, hoặc dưới
sự định nghĩa trực tiếp, thô sơ ban đầu hay để che dấu một sự thật khó chịu,
một xúc phạm làm giảm nhẹ việc vi phạm khuôn phép.
Từ đó ta có thể khái quát một cách chung nhất uyển ngữ là những từ ngữ
được cấu tạo lại, biểu đạt lại một ý nghĩa đã có một cách tế nhị và đảm bảo
nguyên tắc lịch sự trong giao tiếp.
người Việt Nam.
Đặc trưng thứ 2 đó là lấy tình cảm làm nguyên tắc ửng xử.
Nguồn gốc văn hóa nông nghiệp với đặc trưng trọng tình đã dẫn đến
ngưòi Việt lấy tình cảm lấy sự yêu ghét làm nguyên tắc ứng xử.
Đặc trưng thứ 3 ừong đặc trưng cơ bản của giao tiếp đó là đối tượng giao
tiếp ưa tìm hiểu quan sát đánh giá.
Người Việt Nam thích tìm hiểu về tuổi tác, gia đình, nghề nghiệp, trình độ
học vấn... của đối tượng giao tiếp. Đặc tính này chẳng qua cũng chính là sản
phẩm của tính cộng đồng làng xã mà ra.
Do tính cộng đồng người Việt thấy mình tự có trách nhiệm quan tâm với
người khác nhưng mối quan tâm hay thể hiện sự quan tâm đúng mực thì phải
biết rõ hoàn cảnh. Ngoài ra, do các mối quan hệ xã hội người ta cần tìm hiểu để
có cách ứng xử cho thỏa đáng. Biết tính cách biết người để lựa chọn đối tượng
giao tiếp cho phù họp.
Một đặc trưng nữa trong giao tiếp cơ bản của người Việt đó là chủ thể
giao tiếp trọng danh dự. Danh dự được người Việt gắn với năng lực giao tiếp
lời nói ra để lại dấu vết, thành tiếng tăm, để lưu truyền đến tai nhiều người, tạo
nên tai tiếng. Vì thế, người Việt Nam rất trọng danh dự của cá nhân, cũng như
danh dự gia đỉnh, danh dự đất nước.
Đặc trưng thứ 5 trong giao tiếp cơ bản của người Việt đó là cách thức giao
tiếp ưa tế nhị, ý tứ trong sự hòa thuận.
Để giao tiếp tế nhị khiến ngưòi Việt có thói “vòng vo tam quốc ” không đi
thẳng trực tiếp vào vấn đề như người Phương Tây. Chính lối giao tiếp ưa tế nhị
này mà người Việt rất đắn đo, cân nhắc trong ứng xử, và rồi cũng chính sự đắn
đo cân nhắc này mà ngưòi Việt trở nên thiếu quyết đoán trong công việc. Đe
tránh nhược điểm này, và không muốn để mất lòng ai thì người Việt đã thay thế
bằng nụ cười.
Đặc trưng cuối cùng trong các đặc trưng giao tiếp cơ bản của người Việt
Xu thế ước lệ bộc lộ ở chỗ tiếng Việt thích những cách diễn đạt bằng con
số biểu trưng. Lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố, lối sống ổn định có quan hệ tốt
với mọi người, dẫn đến xu hướng trong sự cân đối hài hòa trong ngôn từ - một
biểu hiện khác của tính biểu trưng.
Tính cân xứng là một đặc tính rất điển hình của tiếng Việt. Theo nguyên
lý cấu trúc loại hình tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn kết xong nó chứa
đựng khối lượng không nhỏ các từ song kết. cho nên thực chất trong ngôn từ
lời nói Việt cấu trúc song kết lại là chủ đạo. Ví dụ: “Già kén kẹn hom ”, “Tai bay
vạ gió
Tiếng Việt rất phát triển hình thức câu đối là một sản phẩm văn chương
đặc biệt vừa công phu tỉ mỉ lại vừa cô đọng ngắn gọn .
Đặc điểm thứ hai của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam là rất giàu tính chất
biểu cảm - sản phẩm tất yếu của nền văn học ttọng tình cảm.
về mặt từ ngữ chất biểu cảm thể hiện ở chỗ: bên cạnh yếu tố gốc mang
sắc thái nghĩa trung hòa, thường có rất nhiều biến thể vói những sắc thái nghĩa
biểu cảm, như các từ ngữ chỉ màu sắc. Chúng ít sử dụng từ mang sắc trung
hòa, nhưng lại sử dụng các từ có sắc thái biểu cảm rõ nét. Ví dụ : béo ú, trắng
xóa, xanh lè...v.v
về mặt ngữ Pháp tiếng Việt sử dụng rất nhiều các hư từ có sắc thái biểu
cảm: à, ư, nhỉ, nhé.v.v.
Cấu trúc iểc hóa mang sắc thái đánh giá cũng góp phàn quan trọng trong
việc tăng cường hình thành các phương tiện biểu cảm cho tiếng việt.
Nghệ thuật ngôn từ Việt Nam còn có đặc điểm thứ ba là: tỉnh động và tính
linh hoạt.
Tính động, tính linh hoạt, trước hết bộc lộ ở hệ thống ngữ pháp. Trong khi
ngữ pháp biến hình của các ngôn ngữ châu Âu là một thủ pháp chặt chẽ tới
đầy tình cảm thiết tha. Ca dao dân ca là kết tinh thuần tuý của tinh thần dân
tộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam. Với cội nguồn lịch sử và chữ
viết rất phong phú đa dạng nên ca dao và dân ca có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian, cũng như các nhà khoa học có
liên quan, đã khẳng định những dấu tích của ca dao cách chúng ta khoảng trên
dưới 2.500 năm. Đặng Văn Lung, phát biểu: ‘Tái cả các dân tộc trên thế giới
suốt mấy nghìn năm chỗ nào cũng có dân ca và ca dao. Vì thế nói về ca dao dân ca
của một dân tộc hay ca dao dân ca nói chung là vấn đề rất lớn. Nó tồn tại rất lâu, từ
hàng ngàn năm trước và như các nhà khoa học nghiên cứu trước đây, các học giả đã
nói ca dao ra đời khi trong lòng mình có những điều muốn thể hiện ra, muốn nói lên.
Những điều đó được gọi là ca dao. "
Câu nói, làn điệu, giọng hát là những đòi hỏi bức thiết nảy sinh trong đời
sống xã hội, qua thời gian, những câu nói hay, những làn điệu hấp dẫn đã được
nhân dân sưu tập và gìn giữ. Cùng xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của đời sống
xã hội và trí tuệ của nhân dân đã đúc kết nên. Qua lời ca, câu hát, ca dao và dân
ca Việt Nam là những câu nói đúc kết những kinh nghiệm sống, những quan
niệm về nhân cách, nhân đức ở mỗi con người. Càng đi sâu vào tìm hiểu ca dao
dân ca, chúng ta sẽ thấy được những nét tài hoa, óc sáng tạo đầy tinh thần thẩm
mỹ. Tuy nhiên ở mỗi loại hình lại có những đặc điểm riêng biệt
Ca dao dân ca là loại hình văn nghệ truyền miệng, là một hình thức văn
hóa dân gian đã có từ rất lâu. Nó có thể là một câu nói triết lý bao hàm một nội
dung giáo dục của ai đó. Trải qua thời gian, mọi người thấy đúng và nghe theo,
thậm chí họ có thể thêm vào hoặc bớt đi để đúng với từng hoàn cảnh cụ thể. Vì
vậy, có thể nói ca dao dân ca là của quàn chúng nhân dân sáng tác nên và họ có
thể sáng tác trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong lễ hội, trong lao động sản xuất.
Chất trí tuệ, giàu tư tưởng tình cảm trong ca dao dân ca là những nguồn
nhựa sống bổ sung cho văn hóa dân gian thêm phong phú và đậm đà bản sắc.
trên đỉnh núi, có dòng sông bên lở bên bồi, có mặt biển long lanh ánh bạc và
những con thuyền thấp thoáng ngoài khơi xa. Nghe lòi ru của mẹ, trẻ thơ như
được tiếp thêm nguồn dự trữ lớn lao về lòng yêu quê hương, đất nước, chắp
cánh cho tuổi thơ của con thêm vững bước và sáng ngời niềm tin.
Lấy nguồn cảm hứng từ thực tế cuộc sống, ca dao dân ca được sáng tạo
nên, đó là lời ăn, tiếng nói của ông cha ta tích lũy từ ngàn đời. Đó là những câu
nói đúc kết từ những kinh nghiệm sản xuất răn dậy con cháu, bao hàm những
nội dung mang ý nghĩa triết lý dạy bảo rất sâu sa. Đó là những câu hát được
truyền tải bằng âm thanh giọng điệu ngôn ngữ với nội dung nghệ thuật phong
phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc. Bởi vậy, ca dao dân ca là sản phẩm văn
hoá tinh thần và cần thiết đối với mỗi dân tộc, con người.
Từ thực tế cuộc sống những câu hát dân gian, những lối nói chân thành
chất phác nhưng cũng không kém phần triết lý sâu sắc, thực tế là những cái
hay, cái tinh tuý của dân tộc được kết tinh từ cuộc sống hàng ngày. Trong ứng
xử giao tiếp ông cha ta đã có vô vàn những câu nói đúc kết về những lối nói,
những hành vi ứng xử khéo léo, lịch sự và duyên dáng.
Mai Ngọc Chừ, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia phát biểu:
“Trước hết tôi xin nói về lời chào, người Việt Nam rất coi trọng lời chào.
Người ta thường nói: “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ”. Trong ca dao thì tiếng
chào không chỉ nói lên phép lịch sự của con người Việt Nam mà tiếng chào còn
là cái cớ để những đôi trai gái làm quen với nhau, đó là những lời chào bắt
duyên trong văn học dân gian. ”
Ví dụ:
Gặp nhau ăn một miếng trầu Mai ra đường cái gặp nhau
ta chào Câu thơ, giọng hát với cái đích là phục yụ nhân sinh. Con ngưòi luôn có
hoài bão vươn tới cái hay, cái đẹp, cái thanh tao của cuộc sống là chân, thiện,
tạo thành một hệ thống hình ảnh thiên nhiên, con người và lao động cùng hoà
quyện vào nhau, tạo dựng nên cách nghĩ, cách cảm về cuộc sống, thiên nhiên
và con người rất Việt Nam.
Tiểu kết chương 1:
Trong chương này chứng tôi đã trình bày một số vẫn đề lí thuyết làm cơ
sở cho đề tài đó là những vấn đề khái niệm về nghi thức nói vòng, quá trình
hình thành nghi thức nói vòng, đặc trưng văn hóa cách thức nói vòng, phân biệt
nói vòng với uyển ngữ, nhã ngữ, vài nét về văn hóa giao tiếp của người Việt
Nam.
CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NÓI VÒNG TRONG CA DAO VIỆT NAM.
2.1.
Kết quả thống kê
Đe tài đã khảo sát 978 bài ca dao, trong đó có 251 bài sử dụng nghi thức
nói vòng. Dựa vào mục đích giao tiếp chúng tôi phân loại nghi thức nói vòng
thành các kiểu nhỏ như sau:
Bảng thống kê số lượng ca dao sử dụng nghi thúc nói vòng với các muc
đích khác nhau.
STT
Tiêu chí
Tông sô
(%)
1
5
Nói vòng nhăm mục đích khen ngợi
28
11.2%
20
7.9%
6
Nói vòng nhăm mục đích khác (từ chôi, từ
phủ định đến khẳng định...)
2.2.
Miêu tả nghi thức nói vòng trong ca dao Việt Nam.
2.2.1.
Nói vòng nhằm mục đích tỏ tình.
Ca dao Việt Nam có nhiều bài ca dao thể hiện tình yêu lứa đôi, tình cả ừai
gái, đó là những tiếng nói, tiếng hát mượt mà, nhuần nhị, được vun trồng từ
mảnh đất của người lao động gian lao vất vả, nhưng lãng mạn, thủy chung và
giàu tình nghĩa. Những chàng trai cô gái, tỏ tình với nhau bằng những bài ca
bất khuất của ông cha ta, trong đấu tranh, thế mà ở đây nó lại xuất hiện trong
tình yêu đôi lứa. Tre đi liền với Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ
đồng lúa chín (Thép Mới). Nhưng ở đây lại là tre non trong chính tình yêu của
đôi nam nữ. Hình ảnh tre non với câu hỏi:
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng ?.
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng ? là câu hỏi được thể hiện bằng hai hình
ảnh ẩn dụ Tre non đủ lá nói về vẻ đẹp ttẻ trung, xinh tươi của cô gái đang đối
diện tâm tình. Ẩn dụ thứ hai đan sàng nên chăng ? là sự ướm duyên, tỏ tình kín
đáo.
Chữ thanh bắt vần vói chữ anh, chữ nàng bắt vần với chữ sàng đã làm cho
nhạc điệu câu thơ nhẹ nhàng, êm ái, đọc lên nghe rất thú vị. Thiếu nữ lần đầu
nghe được lời tỏ tình ý nhị ấy sao mà chẳng thấy vui sướng.
Cách tỏ tình ý tứ tế nhị bằng lối nói vòng, vừa bóng bẩy, vừa biểu cảm YÌ
đó là ngôn ngữ của con tim, của tâm hồn mà không hề thô lỗ, sống sượng như
anh chàng thợ cày này:
Gặp đây anh nẳm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không ?
Cho dù có thân mật đến đâu nhưng cái cử chỉ đường đột nẳm cổ tay và hỏi
một câu sỗ sàng có lấy anh không thì thật vô duyên.
Bằng lối nói vòng, đầy ẩn ý, ta thấy được chàng trai trong cuộc là một
ngưòi phong nhã, lịch sự, tế nhị. Câu hỏi của chàng trai thì mặn mà đầy ẩn ý.
Còn câu trả lời của cô gái vừa thông minh sắc sảo, lại vừa có duyên. Một nửa
câu xác nhận và một nửa câu hỏi lại:
Đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre non đủ lá non chăng hỡi chàng ?
Cô gái nhắc lại hai hình ảnh ẩn dụ đan sàng và tre non đủ lá có ngữ điệu
nhẹ nhàng, lễ phép, biểu lộ sự hài lòng, đồng ý, chấp nhận, lời tỏ tình của
chàng trai, vừa thể hiện sự dịu dàng của cô gái cùng tình cảm cô dành cho