TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIẺƯ HỌC
NGUYỄN THỊ VĨNH
MỞ RỘNG VỐN TỪ TRONG MÔN
TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 3
KHÓA LUẬN TỔT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
•
•
C huyên ngành: P hư ơng pháp dạy học T iến g V iệt
HÀ NỘI - 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s u PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ VĨNH
MỞ RỘNG VỐN TỪ TRONG MÔN
TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 3
KHÓA LUẬN TỔT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tôi xin cam đoan: khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Mở rộng vốn từ
trong môn Tiếng Việt cho học sinh lóp 3” là kết quả của quá trình tìm hiểu,
nghiên cún của riêng tôi, không trùng với kết quả nghiên cún của bất kì công
trình nào khác đã công bố.
Hà Nội, ngày 26 tháng 04 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Vĩnh
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
BT1:
Bài tập 1
BT2:
Bài tập 2
BT3:
Bài tập 3
GV:
Giáo viên
HS:
4.
Nhiệm vụ nghiên c ứ u ................................................................................................. 2
5.
Đối tượng, phạm vi nghiên c ứ u ............................................................................... 2
6.
Phư ơng pháp nghiên c ứ u ..........................................................................................3
CHƯƠNG 1: C ơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ T H ự C TĨỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC
MỞ RỘNG VÓN T Ừ .............................................................................................................. 4
1.1. Cơ sở lý thuyết...............................................................................................................4
1.1.1. Cơ sở Tâm l í ........................................................................................................... 4
1.1.2. Cơ sở ngốn ngữ học............................................................................................... 6
1.2.
Cơ sở thực t i ễ n ....................................................................................................... 18
1.2.1.Thực trạng hoạt động dạy học M RVT trong phân môn L T & C ...................18
1.2.2. Thực trạng hoạt động dạy học MRVT trong phân môn Tập đ ọ c ......... 22
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP MỞ RỘNG VÓN TỪ T R O N G ............................. 24
CÁC PHÂN M ÔN TIẾN G V I Ệ T ................................................................................24
2.1.
Các biện pháp m ở rộng vốn từ trong p h ân môn Luyện từ và c â u .. 24
nhũng kiến thức cơ bản về tiếng Việt. Đó là việc dạy học sinh phát triển 4 kĩ
năng: nghe, nói, đọc, viết. Đối với “từ”, chương trình đã chú trọng dạy cho
học sinh thông qua tất cả các phân môn tiếng Việt, đặc biệt là phân môn
Luyện từ và câu ở lớp 3. Tuy nhiên việc dạy học chưa đạt được yêu cầu, mục
đích mà môn học đặt ra. Khả năng sử dụng cũng như hiểu biết của học sinh về
tiếng Việt còn hạn chế, vốn từ của các em còn nghèo nàn, kĩ năng thực hành
sử dụng từ còn kém. Có rất nhiều học sinh khi học xong Tiểu học không có
khả năng tạo ra văn bản bình thường hay trình bày một vấn đề nào đó.
Từ những lí do trên, với mong muốn tìm hiếu hệ thống bài tập mở rộng
vốn từ trong sách giáo khoa tiếng Việt và giúp học sinh sử dụng vốn từ một
cách có hiệu quả, tôi chọn đề tài khóa luận: “Mở rộng vốn từ trong môn
Tiếng Việt cho học sinh lóp 3”.
1
2. Lịch sử nghiên cửu vấn đề
Vấn đề mở rộng vốn tù’ cho học sinh tiểu học trước đây cũng có nhiều
công trình nghiên cứu quan tâm tới:
- Lê Hữu Tỉnh - Dạy từ ngữ cho học sinh tiểu học. Ở đây tác giả đưa ra
các cách mở rộng vốn từ rất cụ thể nhưng chủ yếu được sử dụng trong chương
trình sách giáo khoa cũ.
- Trong các cuốn: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học cũng như
Hỏi đáp về dạy tiếng Việt 3 thì các tác giả của các công trình này chủ yếu
hướng dẫn các cách mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện tù' và câu.
Trong khóa luận này chúng tôi mở rộng việc xem xét hoạt động mở
rộng vốn từ tới phân môn Tập đọc. Ket quả nghiên cún của các công trình đi
trước sẽ là định hướng đế chúng tôi hoàn thành khóa luận này.
3. Mục đích nghiên cứu
Nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học mở rộng vốn từ trong
1.1. Co’ sỏ’ lý thuyết
1.1.1. Cơ s ở Tâm lí
Việc nghiên cứu cơ chế tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất trong đó có tiếng
mẹ đẻ tù’ lâu đã lôi cuốn sự chú ý của các nhà khoa học về ngôn ngữ và tâm lí
trên thế giới. Chúng ta có thể nêu tên tuổi của một số nhà khoa học danh tiếng
như
L.Bloomfield,
R.jacobson,
N.Chomsky,
D.slobin,
C.A.ferguson,
Lenneberg, M.M.Lewis, H.Wallon, J.Piaget, L.S.Vygotskij, A.N.Leont’ev,
A.A.Leont’ev, A.M.Shakhnarovivh, Ju.A.Sorokin...
Đe tìm hiểu cơ chế tiếp thu tiếng mẹ đẻ ở loài người nói chung (phương
diện phát sinh loài), các nhà khoa học không có con đường nào khác là phải
nghiên cún qua con đường phát sinh của cá thế, nghĩa là khảo sát qua sự phát
sinh ngôn ngữ ở trẻ em. Thông qua việc tìm hiêu ngôn ngữ ở trẻ em, các nhà
nghiên cứu có thể làm sáng tỏ nhiều vấn đề lí luận quan trọng. Chẳng hạn,
mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, cơ chế lĩnh hội sản sinh lời nói, đặc
biệt là ứng dụng vào dạy tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài...
Ớ Việt Nam, các công trình nghiên cún ngôn ngữ trẻ em tuy chưa
nhiều, nhung cũng đạt được nhũng thành tựu đáng khích lệ. Các kết quả
nghiên cứu trong lĩnh vực này đã cho những chỉ số đáng tin cậy của sự phát
triển về các mặt ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng ở những lứa tuổi khác nhau. So
hiểu của học sinh. Vận dụng kinh nghiệm sống của học sinh để liên hệ với tù’
ngữ cũng là một cách khác để dựa vào cái cụ thể mà đi tới nhũng nội dung
trừu tượng. Day từ mơn man, ta có thể gợi lại những cảm giác mát dịu mà các
em cảm nhận được tù' trên da dẻ khi một làn gió nhẹ thổi lướt qua (điều mà
bản thân các em đã trải qua trên thực tế). Tuy nhiên, nghĩa của từ tách khỏi
văn bản bao giờ cũng mang tính chất trùn tượng và khái quát. Lấy một từ chỉ
5
vật cụ thể, từ đèn chẳng hạn, đèn gợi cho ta một hình ảnh về một sự vật chung
chung nó gộp rất nhiều thứ mà đặc điểm bề ngoài, cấu tạo, cách sử dụng.. .rất
khác nhau (đèn dầu, đèn điện, đèn pin, đèn măng-sông, đèn đất...). Đó là tính
khái quát của từ. Vậy thì đèn là cái gì? Đó là cái có đặc điểm chung của các
loại đèn cụ thể trong thực tế còn lại sau khi đã dứt bỏ những chi tiết riêng rẽ
của tòng cái. Đặc điếm chung đó là “đồ vật dùng để soi sáng”. Những đặc
điểm này đều mang tính trùn tượng.
Ta thường nhắc người dạy nên dựa vào vật thực, tranh ảnh, đồ vật để
dạy các em hiểu từ. Nhưng cần phải thấy rằng nhà trường có nhiệm vụ phát
triển năng lực tư duy trừu tượng cho các em. Cho nên, ngay ở tiểu học, đi vào
giải nghĩa từ ngữ, dần dần từ thấp đến cao, ta cũng cần có ý thức luyện cho
các em tiếp cận, tiến tới tự tìm ra nhũng định nghĩa khái quát, trùn tượng
đúng với cái mà từ biểu đạt.
Mặt khác, các em ở lứa tuổi tiểu học vốn sống còn ít nên vốn từ cũng ít.
Có những từ giáo viên thấy bình thường nhung có thể mới lạ, khó hiểu đối
với các em. Sự phân phối từ giữa các em cùng lứa tuổi cũng khác xa nhau.
Đối với những em sống ở đô thị, những tù’ như ti vi, xe máy, nhà tầng...đều
quen thuộc dễ hiếu, trong khi các em ở nông thôn lại khó hình dung. Ngược
lại, từ ngữ gắn liền với việc đồng áng lại là “dễ” đối với những em sống ở
vùng nông nghiệp.
một tập hợp. Chính tập hợp từ ngữ có quan hệ với nhau đã tạo ra tính hệ
thống cho từ ngữ của bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới, trong đó, không ngoại
trừ tiếng Việt. Điểm chung, điểm thống nhất trong một phạm vi nào đó giữa
các từ và ngữ là hạt nhân tạo nên các mối quan hệ, và đó là cơ sở để các từ
ngữ tập hợp nhau lại thành hệ thống. Do được tập họp thành hệ thống nên khi
nhắc đến một từ ta có thể liên tưởng ngay với các từ khác có điểm đồng nhất
với nó.
Tính hệ thống của từ ngữ được biếu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau.
Trong hệ thống lớn có chứa các tiểu hệ thống (hệ thống con). Tức là hệ thống
7
lớn có chứa nhũng điểm chung ở mức độ rộng nhất, khái quát nhất được phân
đều cho các tù’ nằm trong hệ thống lớn. Nhưng trong hệ thống lớm này lại có từ
đồng nhất với nhau ở nhũng phạm vi sự vật, hiện tượng hẹp hơn. Tức là điểm
đồng nhất ấy chỉ có ở một số tù’trong hệ thống lớn, tạo nên các hệ thống nhỏ.
Sau đây, chúng tôi sẽ nói rõ hơn về tính hệ thống của từ ngữ theo các
trường cụ thể.
ì. ỉ. 1.2. Trường cấu tạo - trường ngữ nghĩa
a/ Trường cấu tao
Tác giả Đỗ Hũu Châu trong “Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt” (NXB
ĐHQG 1995) đã nhận định: “Cấu tạo từ trước hết là cấu tạo hàng loạt các từ
giống nhau về ngữ nghĩa (và khác với hàng loạt các từ khác về ngữ nghĩa),
cho nên, phải lấy ngữ nghĩa làm nên tiêu chí hàng đầu để tiến hành phân loại”
(phân loại từ về mặt cấu tạo). Và theo quan niệm phân loại này, tác giả chia
các từ tiếng Việt về mặt cấu tạo thành: từ đơn (phương thức từ hóa), từ phức
(gồm: từ láy (phương thức láy), tù' ghép (phương thức ghép). “Mỗi loại lớn
gồm những từ có đặc tính ngữ nghĩa và hình thức giống nhau, đến lượt mình
sẽ được phân chia thành các kiểu cấu tạo nhỏ hơn cũng gồm những từ tương
từ có cùng yếu tố cấu tạo. Sự hiểu biết về trường cấu tạo sẽ là định hướng tốt
cho giáo viên dạy học sinh thực hiện dạng bài tập này.
b/ Trường nghĩa
Tính hệ thống của từ ngữ không chỉ được biểu hiện ở mặt cấu tạo. Neu
phân từ theo những quan hệ ngữ nghĩa, chúng ta cũng có thể tìm thấy tính hệ
thống của nó.
Đe thấy tính hệ thống về mặt ngữ nghĩa của từ ngữ được biểu hiện như
thế nào, chúng ta đi xem xét lí thuyết về trường nghĩa:
9
Trường nghĩa: là tập họp của các từ đồng nhất với nhau về một ý nghĩa
nào đó. Tức là tập hợp các từ nằm trong một hệ thống nào đó không phải do
tính chất ngẫu nhiên mà có. Cái để kéo chúng lại với nhau, cái để chúng xuất
hiện nối tiếp nhau chính là những mối quan hệ về ngữ nghĩa. Quan hệ này
được thiết lập xuất phát từ sự đồng nhất, từ những cái chung giữa các từ.
Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt” đã nhận định:
“Tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống
ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể
hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa của chúng” (1; 127).
Một tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Với các
trường nghĩa, chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ
ngữ nghĩa trong lòng một trường.
Ví dụ: - ếch, nhái, chẫu chuộc.. .là tập họp các từ nằm chung trong một
trường ngữ nghĩa: họ ếch nhái.
-
Hiền lành, đôn hậu, chất phát, cù mì, hiền dịu.. .là tập hợp các
chọn danh từ có ý nghĩa biểu vật khái quát làm gốc để tập họp các từ.
Trường “con người” và “thiên nhiên” nhỏ hơn trường “vũ trụ”.
Trường “con người” rộng hơn trường: “nhà trương”, “lao động”, “nông
nghiệp”. Cơ sở để phân lập các trường nghĩa biểu vật là ý nghĩa biểu vật chứ
không phải các từ. “Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ có thể nằm
trong nhiều trường nhỏ khác nhau tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu vật của
nó” (7; 777).
Thông thường những từ có phạm vi biểu vật rộng sẽ đi vào nhiều
trường, nhũng từ có ý nghĩa biểu vật sẽ đi vào ít trường.
Ví dụ: tốt, đẹp, xấu.. .đi vào tất cả các trường.
Đoàn viên, Đảng viên,...đàn ông, đàn bà,...thầy giáo,...công nhân,..chỉ
đi vào trường “con người”.
Vì có nhiều từ đi vào nhiều trường nghĩa biểu vật khác nhau nên tù' ngữ
trong các trường này có hiện tượng thẩm thấu hoặc giao thoa nhau, nghĩa là
đường biên giới giữa các trường rất mờ, có thể đặt một từ ở trường biểu vật
này cũng được mà đặt ở trường biểu vật kia cũng được.
Ví dụ: bàn, ghế, máy móc,...có chung nét nghĩa “sự vật nhân tạo”
nhưng nói đến sự vật nhân tạo là nói đến người. Do đó, hoàn toàn có thể đưa
các từ này vào trường chỉ người thành một trường nhỏ. Tuy nhiên, sự vật
nhân tạo lại có “đời sống” riêng cho nên cũng có thể tách ra thành một trường
lớn, đồng cáp với trường chỉ người: trường sự vật.
Trong một trường biếu vật, quan hệ của các từ đối với trường là không
giống nhau, có nhũng từ gắn chặt với trường tạo thành nhũng từ điển hình của
trường (lõi trung tâm của trường), những từ quan hệ lỏng lẻo với trường thì
tạo thành những ngoại vi (hay gọi là biên). Những từ tạo thành lõi trung tâm
thì ít xảy ra chuyển trường, ít chạy sang các trường khác, nhưng từ biên của
trường dễ chuyển sang các trường khác.
Ví dụ: tốt, xấu, đẹp,.. .là những từ biên, có thể đi vào nhiều trường.
- Miền chỉ động vật: bầy, đàn, lũ, món (món cá)...
- Miền chỉ thực vật: khóm, cụm, búi, nhóm, m ớ...
Phạm vi của trường biểu niệm rộng hay hẹp là tùy thuộc vào số lượng
các nét nghĩa. Neu số lượng các nét nghĩa ít, khái quát thì trường rộng và
nhiều từ. Ngược lại, trường có số lượng nét nghĩa nhiều thì trường biếu niệm
hẹp và ít từ.
Ví dụ: trường biểu niệm có cấu trúc: (hoạt động) (tự tác động) (dời
chỗ). Với ba nét nghĩa ấy sẽ có các từ sau: đi, chạy, nhảy, lăn, lê, bò, về, ra,
vào, lên, xuống, qua, sang, vượt...
13
Cũng trường biểu niệm này, thêm một nét nghĩa nữa: (hoạt động) (tự
tác động) (dời chỗ) (có hướng nhất định) số lượng từ ngữ ít hơn: ra, vào, lên,
xuống, xuôi, ngược...
Cơ sở để phân lập các trường nghĩa biểu niệm là ý nghĩa biểu niệm chứ
không phải là từ. Vì thế, có nhiều từ có thể nằm ở nhiều trường khác nhau.
Ngược lại, có những từ nằm ở ít trường. Thông thường, những từ có nhiều
nghĩa biểu niệm thì có thể đi vào nhiều trường. Ngược lại, những từ có ít
nghĩa biểu niệm thì sẽ đi vào ít trường (một nét nghĩa nào đó có thể nằm trong
cấu trúc biểu niệm của một số trường).
Chính do hiện tượng một từ có thể đi vào nhiều trường nghĩa biểu niệm
khác nhau nên từ ngữ trong các trường này có hiện tượng thẩn thấu hoặc giao
nhau. Hiện tượng nhập nhằng này có thể quy về hai trường hợp: thứ nhất do
tính nhiều nghĩa. Thứ hai, do bản than cấu trúc ngữ nghĩa mà chúng ta lấy làm
cơ sở chứa một hoặc một vài nét nghĩa, nét nghĩa đồng thời có thể có mặt
trong một số cấu trúc nghĩa khác nhau.
Ví dụ: Từ “sập” (cái sập) có thể đi vào hai trường biểu niệm sau:
Trường 1: Có cấu trúc biểu niệm: (sự vật) (đồ dùng) (để chứa đựng): tủ,
ra âm thanh” nhưng lại phát ra âm thanh có “ý định”. Chúng ta chỉ “gọi” khi
muốn ai đó chú ý mà đến với mình, con chó chỉ “sủa” khi chúng muốn báo gì
đó cho chủ. Vì vậy, khi bị đánh nhau, con chó chỉ “kêu” hoặc “oăng oẵng”
chứ không “sủa”. Và von người, khi đau đớn hay vui mừng quá cũng chỉ
“hét”, “thét”, “rít”, “rên” ... chứ không gọi.
Nhờ các từ điển hình này mà chúng ta dễ dàng nhận ra tính trung gian
của “nói”, “kêu” .... Trong câu “có tiếng người nói ở ngoài đê” thì “nói” thuộc
về trường (i) còn trong câu “tác giả đã nói đến nhiều trong tác phẩm”, “anh ta
nói cho tôi biết” thì “nói” thuộc trường (i i).
15
❖ Mối quan hệ giữa trường biểu vật và trường biểu niệm:
Ta biết rằng, ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm là những góc độ
nhìn khác nhau khi nghiên cún xem xét một từ (nằm trong hệ thống từ vụng).
Vì thế cho nên khi lập các trường nghĩa biểu vật thì dựa vào ý nghĩa biểu vật,
khi chia nhỏ trường biểu vật thì dựa vào ý nghĩa biểu niệm.
Ví dụ: Khi lập trường “con người”, dựa trên ý nghĩa biểuvật là
con
người khi chia nhỏ trường biểu vật con người ra thành các trường nhỏ: giới
tính, nghề nghiệp, tuổi tác, tính chất.. .dựa vào nét nghĩa biểu niệm.
“Neu lấy những nét nghĩa biểu niệm trong cấu trúc biếu niệm làm tiêu
chí lớn để tập hợp thì chúng ta có các trường nghĩa biểu vật. Nhưng khi cần
phân một trường nghĩa biểu vật thành các trường nhỏ thì lại phải dựa vào các
nét nghĩa trong cấu trúc biếu niệm” (1; 187). Ngược lại, khi phân lập trường
biểu niệm thì dựa trên cấu trúc biểu niệm, nhưng khi chia nhỏ trường biểu
niệm thì dựa trên những nét nghĩa của trường biểu vật.
chính là cơ sở giúp cho việc dạy học tích cực hóa vốn từ hiệu quả.
b4. Trường liên tưởng
Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là nhũng từ cùng nằm
trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là nhũng từ
có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm. Song,
trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới do xuất hiện
đồng thời với từ trung tâm trong những gữ cảnh có chủ đề tương đối đồng
nhất lặp đi lặp lại.
Ví dụ: Từ “mặt trời” có thể xác định được các từ liên tưởng: chói
chang, rực rỡ, lóa mắt, đỏ, mọc, lặn, ban mai, sáng...hoặc từ “mặt trăng” có
thể xác định được các từ liên tưởng: êm dịu, thanh bình, chú cuội, chị Hằng...
Tóm lại: Phân lập từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường tù’ vựng
ngữ nghĩa là để phát hiện ra tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vụng về
mặt ngữ nghĩa. Mỗi tập họp từ được xếp vào một trường đều dựa trên sự đồng
nhất nào đó. Sự đồng nhất này tạo ra mối quan hệ giữa các từ. Chính và vậy,
khi nhắc đến từ này sẽ gợi cho người đọc nghĩ đến những từ khác có “dính
dáng” đến nó về mặt ngữ nghĩa.
17
cấu trúc biểu niệm chính là cái cốt lõi để chúng ta phân lập các từ
thành những hệ thống từ ngữ. Bởi cấu trúc biểu niệm vừa là cái chung cho
nhiều từ, là một tổ chức nhũng nét nghĩa chung, ở những mức độ khái quát và
cụ thể khác nhau, vừa là cái riêng cho từng từ, do sự có mặt của các nét nghĩa
hạn chế biểu vật trong cấu trúc chung đó. Với cấu trúc biểu niệm, chúng ta
phát hiện ra tính hệ thống về ngữ nghĩa là cái chung. Ớ đây từ cái riêng mà
nhận ra cái chung, từ cái chung lại trở về với cái riêng, điều chỉnh lại cái
riêng, hiểu sâu sắc thêm cái riêng.
Dựa vào cái chung có phạm vi rộng hay hẹp mà chúng ta phân thành
Tìm các từ chỉ sự vật trong kho thơ sau:
Tay em đánh răng
Răng răng hoa nhài
Tay em chải tóc
Tóc ngời nắng mai
(Tiếng Việt 3, tập một, tr.8)
2.
Tìm các từ
a.
Chỉ trẻ em
b.
Chỉ tính nết của trẻ em
c.
Chỉ tình cảm hoặc sự chăm sóc của người lớn đối với trẻ em
M: thiếu niên
M: ngoan ngoãn
M: thương yêu
(Tiếng Việt 3, tập một, tr.16)
3.
19