Khóa luận tốt nghiệp: Rèn luyện kỹ năng phòng chống xâm hại cho học sinh THCS tại Trung tâm KTTH HN số 3, phường Trung Tự, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội - Pdf 25

HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
KHOA GIÁO DỤC
VŨ THỊ THU TRANG
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG XÂM
HẠI CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI
TRUNG TÂM KTTH – HN SỐ 3
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Tâm lý giáo dục học
Người hướng dẫn khoa học
Th.S Nguyễn Thị Thanh
1
Hà Nội 2011
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
của các tập thể và cá nhân.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Quản lý giáo dục đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập, được lựa chọn đề tài nghiên cứu làm
khoá luận tốt nghiệp tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Giáo dục đã luôn dìu
dắt, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo, Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh đã nhiệt
tình chỉ bảo, hướng dẫn và dành thời gian quan tâm, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá
luận này.
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Thông tin Thư viện của
Học viện Quản lý giáo dục và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I đã giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình làm khoá luận.
Mặc dù đã dành thời gian và tâm huyết, nhưng do kiến thức và kỹ năng còn
nhiều hạn chế nên khoá luận của tôi còn nhiều sai sót, kính mong nhận được sự
góp ý của các thầy cô và các bạn để khoá luận của tôi có thể hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
2

phòng chống sự xâm hại còn là một khoảng trống lớn, do chưa nhận thức được
tầm quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống nói chung, và công tác tuyên
truyền, phổ biến pháp luật về Quyền Trẻ Em còn chưa được quan tâm đúng mức.
Xuất phát từ những lí do nêu trên, tôi đã chọn đề tài: "Rèn luyện kỹ năng
PCXH cho học sinh THCS tại Trung tâm KTTH - HN số 3, phường Trung Tự,
quận Đống Đa, thành phố Hà Nội” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng và thực hiện chuyên đề rèn luyện kỹ năng PCXH cho học sinh
THCS tại Trung tâm KTTH - HN số 3, phường Trung Tự, quận Đống Đa, thành
phố Hà Nội nhằm giúp các em có được những kỹ năng PCXH cần thiết để tự bảo
vệ bản thân mình.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc rèn luyện kỹ năng PCXH cho học sinh THCS.
3.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDKNS cho học sinh THCS tại Trung tâm KTTH - HN số 3.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc giáo dục kỹ năng PCXH cho học sinh
THCS.
4.2 Nghiên cứu thực trạng những kỹ năng và công tác rèn luyện kỹ năng phòng
4
chống cho học sinh THCS tại Trung tâm KTTH - HN số 3.
4.3 Xây dựng và thực hiện chuyên đề giáo dục kỹ năng PCXH để rèn luyện kỹ
năng PCXH cho học sinh THCS tại Trung tâm KTTH - HN số 3.
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1 Địa bàn nghiên cứu: Trung tâm KTTH - HN số 3, phường Trung Tự, quận
Đống Đa, thành phố Hà Nội.
5.2 Giới hạn nghiên cứu: Rèn luyện những kỹ năng PCXH cho học sinh lớp 8
(lớp Cắt May 1) tại Trung tâm KTTH - HN số 3.
6. Phương pháp nghiên cứu

phối hợp thực hiện thì: “Hành vi xâm hại là tất cả những hành động và lời nói làm
tổn thương đến người nhận, làm cho người nhận cảm thấy mình không được tôn
6
trọng, những cảm xúc của mình bị coi thường hoặc không được để ý đến”. [2]
1.1.2 Các hình thức xâm hại
Xâm hại được biểu hiện dưới nhiều hình thức như xâm hại về thể xác, vật chất
và tinh thần.
Các tình huống xâm hại về thể xác đối với học sinh trong độ tuổi trung học cơ
sở thường hay gặp phải có thể là: bị động chạm gây cảm giác khó chịu, bị cố tình
xô, đẩy, đánh hoặc nhổ nước bọt, bị đe dọa bằng bạo lực và bắt phải làm việc
xấu…
Các tình huống xâm hại về vật chất thường hay gặp phải đó là: bị người khác
cố tình làm hỏng đồ dùng cá nhân, bị cố tình lấy trộm đồ hoặc bị ép buộc phải đi
lấy trộm tiền hoặc đồ dùng của người khác…
Ngoài các tình huống bị xâm hại về vật chất và thể xác, các em học sinh trong
độ tuổi học sinh trung học cơ sở còn thường gặp phải nhiều tình huống xâm hại về
mặt tinh thần như: bị người khác gọi bằng cái tên không thích, bị chế nhạo, trêu
chọc hoặc bị tẩy chay, bị vu oan hoặc bị mạt sát, làm tổn thương lòng tự trọng…
Các tình huống xâm hại về thể xác và vật chất thường dễ nhận biết hơn, nhưng
những xâm hại về tinh thần đôi khi lại để lại những hậu quả nặng nề không thể nào
lường trước được.
1.1.3 Hậu quả của các hành vi xâm hại đối với trẻ em
Hành vi xâm hại là tất cả những hành động và lời nói làm tổn thương đến
người nhận, làm cho người nhận cảm thấy mình không được tôn trọng, những cảm
xúc của mình bị coi thường hoặc không được để ý đến.
Bất cứ hành vi xâm hại nào cũng sẽ để lại những hậu quả nhất định cho người
nhận, có thể là những tổn thương về vật chất hay thể xác và cũng có thể là những
tổn thương về mặt tinh thần.
7
Về mặt thể chất, cơ thể trẻ em đang trong thời kỳ phát triển, cho nên mọi hành

tinh thần đều có xu hướng rụt rè, nhút nhát hoặc rất bướng bỉnh, có những hành vi
bất thường, tức thời không kiểm soát được, thậm chí còn có xu hướng bạo lực để
tự vệ. Các hành vi xâm hại như: doạ nạt, mắng mỏ, xúc phạm, chọc ghẹo, trêu đùa,
dè bỉu hoặc bị ép buộc làm việc xấu… đã gây ra những phản ứng rất tiêu cực ở trẻ,
dẫn đến rất nhiều những hậu quả đáng tiếc như vi phạm pháp luật, vi phạm chuẩn
mực đạo đức và đặc biệt là tình trạng bạo lực học đường tồn tại ở hình thức giữa
các em học sinh với nhau đang ngày càng gia tăng và trở thành vấn nạn của toàn
xã hội.
1.1.4 Kỹ năng phòng chống xâm hại
1.1.4.1 Khái niệm
Theo tài liệu của chương trình thực nghiệm “Giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh tiểu học” của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Kỹ năng nhận biết và phòng chống
xâm hại là kỹ năng xác định tình huống nào là tình huống bị xâm hại hoặc có nguy
cơ bị xâm hại. Khi trẻ hiểu được mức độ nguy hại của các tình huống xâm hại đó
và đưa ra những phản ứng phù hợp; tránh không để rơi vào các tình huống bị xâm
hại; nếu bị lâm vào các tình huống đó thì biết cách xử trí để giảm bớt hậu quả của
sự xâm hại thông qua thể hiện thái độ, lời nói hoặc hành động phù hợp”. [3]
1.1.4.2 Những kỹ năng phòng chống xâm hại
Từ khái niệm trên, có thể nhận thấy, kỹ năng này bao gồm hai nội dung đó là:
Kỹ năng phòng tránh xâm hại và Kỹ năng xử trí khi bị xâm hại.
9
a. Kỹ năng phòng tránh xâm hại được thể hiện ở một số kỹ năng cụ thể như:
- Kỹ năng quan sát thực tế: Thể hiện ở khả năng nắm bắt điều kiện, môi trường,
hoàn cảnh xung quanh, từ đó có thể đánh giá được tình hình cụ thể
và mức độ an toàn của bản thân.
- Kỹ năng nhận ra nguy cơ: Đó là khả năng nhận diện các tình huống có thể bị
xâm hại thông qua việc xác định các dấu hiệu của sự xâm hại và có những chuẩn
bị, đề phòng khi cần thiết.
- Kỹ năng xử lý nguy cơ: Thể hiện ở kỹ năng ra quyết định và giải quết vấn đề sau
khi nhận diện được các nguy cơ bị xâm hại, chủ động phòng tránh trước khi các

thiết để đảm bảo an toàn cho bản thân trước các tình huống có nguy cơ bị xâm hại
hoặc làm giảm hậu quả của các hành vi xâm hại khi có cách xử trí phù hợp, kịp
thời.
1.1.5.3 Nội dung công tác rèn luyện kỹ năng phòng chống xâm hại
Công tác rèn luyện kỹ năng phòng chống xâm hại được thể hiện ở một số nội
dung như sau:
- Rèn luyện những kỹ năng phòng tránh xâm hại bao gồm: kỹ năng quan sát thực
tế, kỹ năng nhận biết các nguy cơ, kỹ năng xử lý nguy cơ, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ
trợ…
- Rèn luyện những kỹ năng xử trí khi bị xâm hại: xác định mức độ nghiêm trọng
của các tình huống bị xâm hại; lựa chọn chính xác việc nên chống trả ngay lập tức
hay nên tìm cách rút lui tự vệ an toàn; rèn luyện cách chống trả ngay lập tức thông
11
qua thái độ, lời nói và hành động; rèn luyện cách rút lui tự vệ an toàn trong từng
tình huống cụ thể…
- Ngoài ra còn rèn luyện một số kỹ năng cần thiết khác trong việc PCXH như: kỹ
năng làm chủ cảm xúc, kỹ năng phòng chống stress, kỹ năng vượt qua lo lắng sợ
hãi, kỹ năng khắc phục sự tức giận, kỹ năng xử lý và ứng phó linh hoạt…
1.1.5.4 Hình thức và phương pháp rèn luyện kỹ năng phòng chống xâm hại
- Hình thức: Rèn luyện kỹ năng PCXH thông qua các chương trình giáo dục kỹ
năng sống, các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại hoặc các buổi
sinh hoạt chuyên đề.
- Phương pháp: Rèn luyện kỹ năng PCXH bằng cách tham gia các trò chơi, đóng
vai xử lý tình huống.
1.2 Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác phòng chống
xâm hại trẻ em
1.2.1 Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em [4]
Ngày 20/11/1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước quốc tế
về quyền trẻ em. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu
Á phê chuẩn Công ước vào ngày 20/02/1990.

(Trích Điều 16)
5.Quyền được bảo vệ chống lại sự bóc lột: Cấm lợi dụng trẻ em, buộc các em
phải đi làm ăn xin, hoặc làm việc vì lợi ích riêng của người lớn. Đây chính là hình
13
thức bóc lột trẻ em. Không một ai có quyền làm điều đó, kể cả các bậc cha mẹ.
(Trích Điều 19)
6.Bảo vệ trẻ em chống mọi hình thức tra tấn và đối xử tàn tệ: Cấm mọi hành vi
làm nhục, đối xử dã man và vô nhân đạo đối với trẻ em. Người lớn có nghĩa vụ phải
bảo vệ các em và tố cáo với các nhà chức trách khi biết được ai đó đang phạm tội ác
này.
(Trích Điều 22).
1.2.2 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004 [7]
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11 được Quốc hội
khóa 11 thông qua ngày 15 tháng 06 năm 2004 quy định các quyền cơ bản, bổn
phận của trẻ em; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em. Theo đó, những quy định về phòng chống xâm hại
trẻ em được thể hiện trong một số điều khoản như sau:
1.Trẻ em có quyền được gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính
mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự.
(Trích Điều 14)
2.Gia đình, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể,
nhân phẩm và danh dự của trẻ em; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho
trẻ em. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ
em đều bị xử lí kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
(Trích Điều 26)
3.Các quyền của trẻ em đều phải được tôn trọng và thực hiện. Mọi hành vi vi
phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều
bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật.
(Trích Điều 6)
14

Tại hội thảo về Đổi mới giáo dục và Hội nhập quốc tế, bài viết của các tác giả
như Phạm Thụ, Trần Quốc Toản [1] đã khẳng định vai trò của KNS đối với học
sinh phổ thông trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, đó chính là cơ sở nền
tảng giúp học sinh biến những kiến thức thành những hành động cụ thể, những
thói quen và nếp sống lành mạnh. Khi có KNS, các em sẽ thành công hơn trong
cuộc sống, luôn làm chủ được cuộc sống của mình. KNS góp phần thúc đẩy sự
phát triển của từng cá nhân và xã hội, ngăn ngừa các vấn đề sức khoẻ, xã hội và
bảo vệ quyền con người, làm giảm thiểu các vấn đề xã hội nảy sinh từ việc cá nhân
thiếu kỹ năng sống .
Xã hội hiện đại có sự thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã hội và lối sống
với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con người chưa gặp,
chưa trải nghiệm, chưa phải ứng phó, đương đầu. Hoặc cũng có những vấn đề đã
xuất hiện trước đây, nhưng nó chưa phức tạp, khó khăn và đầy thách thức như
trong xã hội hiện đại, nên con người dễ hành động theo cảm tính và không tránh
khỏi rủi ro. Để phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống, chúng ta
mong muốn mỗi người có một cuộc sống tích cực, lành mạnh, hạnh phúc. Chính vì
vậy, kỹ năng sống đã trở thành một hợp phần quan trọng trong nhân cách con
người khi sống trong xã hội hiện đại.
Đối với học sinh trong lứa tuổi học sinhTHCS, đa số các em chưa có những
hiểu biết cơ bản về cơ thể, về sức khoẻ, lại có tâm lý tò mò, thích tìm hiểu và bắt
chước nên rất dễ bị kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo. Mặt khác, các em lại chưa có khả
16
năng làm chủ được những cảm xúc của bản thân khi gặp phải các tình huống nhạy
cảm nên nhiều khi có những phản ứng tiêu cực. Chính vì vậy, GDKNS nói chung
và kỹ năng PCXH nói riêng đối với các em có ý nghĩa rất to lớn.
Giáo dục kỹ năng PXH chính là giáo dục cho học sinh ý thức được giá trị của
bản thân trong mọi mối quan hệ xã hội. Từ đó, từng cá nhân mới có được niềm tin
vào bản thân, sau đó là niềm tin vào cuộc sống và xã hội.
Giáo dục kỹ năng PCXH sẽ giúp các em có được những hiểu biết cơ bản về thể
chất, tinh thần của bản thân mình. Từ đó, các em có khả năng tự bảo vệ, phòng

cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc.
Như vậy, có thể nhận thấy công tác giáo dục và rèn luyện kỹ năng phòng
chống xâm hại cho học sinh có một ý nghĩa to lớn và rất cần thiết, đặc biệt đối với
học sinh trong lứa tuổi học sinh trung học cơ sở. Trong chương I của đề tài, tác giả
đã trình bày một số vấn đề liên quan đến kỹ năng phòng chống xâm hại làm cơ sở
lý luận cho đề tài nghiên cứu. Trong chương II sau đây, tác giả sẽ trình bày những
cơ sở thực trạng của việc xây dựng chuyên đề rèn luyện kỹ năng phòng chống xâm
hại cho học sinh trung học cơ sở tại Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp Hướng nghiệp
số 3.

18
Chương II
CƠ SỞ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG PCXH CHO HỌC SINH THCS TẠI
TRUNG TÂM KTTH – HN SỐ 3
2.1 Một số vấn đề về Trung tâm Kỹ thuật - Tổng hợp Hướng nghiệp số 3
2.1.1 Sơ lược tình hình Trung tâm KTTH – HN số 3
Trung tâm KTTH – HN số 3 thực thuộc Phòng Giáo dục Quận Đống Đa, được
thành lập từ năm 1985, có nhiệm vụ chuyên dạy nghề và làm công tác hướng
nghiệp cho học sinh THCS và học sinh THPT trên địa bàn Quận Đống Đa.
Quy mô của Trung tâm năm 2010 gồm:
- Số lượng lớp nghề đã mở: 189 lớp
- Số lượng học sinh học nghề tại Trung Tâm:
+ Khối 8: 2680 học sinh
+ Khối 11: 1890 học sinh
19
Tổng số cán bộ, giáo viên và nhân viên đang làm việc tại Trung tâm là 24
người. Trong đó có 2 cán bộ quản lý (1 Giám đốc, 1 Phó Giám đốc), 16 giáo viên
và 6 cán bộ nhân viên khác, bao gồm cả nhân viên hướng dẫn thực hành.
Về cơ sở vật chất, hiện Trung tâm có 15 phòng học theo chức năng, trong đó

Trong thời gian hoạt động, tuy còn nhiều khó khăn song Ban Giám đốc cùng
tập thể cán bộ, nhân viên của Trung tâm đã cố gắng khắc phục khó khăn, hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao và đạt được một số thành tích đáng kể sau:
- Từ năm 2003 – 2008, Trung tâm được Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tặng
giấy khen Tập thể Tiên tiến.
- Chi bộ Đảng Trung tâm nhiều năm liền được Quận uỷ công nhận là cơ sở Đảng
trong sạch, vững mạnh và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Công đoàn Trung tâm trong nhiều năm qua luôn được khen thưởng và công nhận
là Công đoàn vững mạnh.
- Tại các cuộc thi nghề phổ thông, Trung tâm còn giành được một số giải cao: 1
giải nhất môn Làm hoa; 1 giải nhì môn Tin học; 1 giải nhì môn Cắt may và một
giải ba môn Thêu.
- Ngoài ra Trung tâm còn nhận được nhiều giấy khen của Quận, UBND Quận,
Phường về thành tích tốt trong các hoạt động toàn diện.
- Danh hiệu cao nhất đã đạt được: Tập thể lao động Tiên tiến cấp Thành phố.
2.2 Một số đặc điểm tâm lý của học sinh THCS tại Trung tâm Kỹ thuật Tổng
hợp – Hướng nghiệp số 3
21
2.2.1 Sự phát triển tâm lý ở lứa tuổi học sinh THCS
Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11, 12 tuổi đến 14,
15 tuổi. Đó là những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 tại các trường THCS.
Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong
thời kỳ phát triển của trẻ em. Vị trí đặc biệt này được phản ánh bằng những tên gọi
khác nhau của nó: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất
trị”[6]…Những tên gọi đó nói lên tính phức tạp và tầm quan trọng của lứa tuổi này
trong quá trình phát triển của trẻ em.
Đây là giai đoạn chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành, là quãng đời
diễn ra những “biến cố”[8] rất khác biệt. Nội dung cơ bản của sự khác biệt ở lứa
tuổi thiếu niên với các em ở lứa tuổi khác là sự phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối
về các mặt trí tuệ, đạo đức. Sự xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành do

chuyển trong sự phát triển thể chất, sinh lý của mình. Mặt khác, chính người lớn
cũng không hoàn toàn coi lứa tuổi này giống như những đửa trẻ trước đây nữa,
(Trong nhiều gia đình, các em đã tham gia lao động, góp phần giải quyết những
khó khăn về kinh tế hoặc tăng thu nhập. Về mặt tri thức, nhiều em cảm thấy mình
cao hơn bố, mẹ…). Tất cả những điều đó gây ra ở lứa tuổi thiếu niên nguyện vọng
muốn được làm người lớn và được đối xử như người lớn.
Tuy nhiên, về mặt xã hội mà xét, thiếu niên vẫn còn là những học sinh, còn
phụ thuộc vào bố, mẹ về nhiều mặt. Ở các em có nhiều biểu hiện mang tính trẻ
con: trong dáng dấp, hành vi. Bởi vậy, nhìn chung người lớn vẫn coi thiếu niên là
23
những đứa trẻ. Từ đó xảy ra mâu thuẫn khá phổ biến giữa người lớn và trẻ em
trong giao tiếp và ứng xử. Sự không thay đổi về ứng xử giữa người lớn với thiếu
niên, trong khi thiếu niên lại tự coi mình là người lớn, gây ra không ít những đụng
độ, thậm chí xung đột ở lứa tuổi này.
Khi ý thức tự trọng và ý muốn được đối xử như người lớn phát triển, về phía
mình, thiếu niên thường có tâm lý “phóng đại” [8] các năng lực của mình, thường
đánh giá cao hơn hiện thực. Điều này thường thể hiện dưới dạng ngang bướng, tỏ
ra “anh hùng”, “bất cần” [6] trước những việc làm hàng ngày cũng như những thất
bại mà thiếu niên trải nghiệm. Đây chính là một trong những khó khăn điển hình
trong tâm lý của lứa tuổi thiếu niên.
Một đặc điểm đặc trưng khác ở lứa tuổi thiếu niên đó là sự nảy sinh những
rung cảm, xúc cảm giới tính mới lạ. Quan hệ với bạn khác giới ở tuổi thiếu niên
không còn “hồn nhiên”, “vô tư” [6] như các em học sinh nhỏ nữa. Thêm vào nữa,
lứa tuổi này hầu hết các em chưa có những hiểu biết cơ bản về sức khoẻ, lại có tâm
lý tò mò, thích tìm hiểu và bắt chước nên trong một số hoàn cảnh cụ thể, các em
đã không làm chủ được bản thân, dễ bị lôi kéo, bị kích thích bởi những văn hoá
phẩm thiếu lành mạnh hoặc do hậu quả giáo dục không tốt của người lớn. Đây
cũng là một khó khăn cơ bản trong tâm lý lứa tuổi thiếu niên.
Ngoài ra, ở tuổi thiếu niên còn có những thay đổi căn bản về hình thái và giải
phẫu sinh lý khác, có ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của các em đó là: các tuyến

có ý nghĩa đặc biệt. Giờ học đối với các em không chỉ đơn thuần là việc học tập,
25

Trích đoạn Thông điệp của chuyên đề Kỹ năng phòng chống những xâm hại vật chất Kỹ năng phòng chống xâm hại tinh thần Kỹ năng phòng chống xâm hại về thể xác Kỹ năng xử trí khi gặp Nêu ra một số Thảo luận Phiếu học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status