1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ BÍCH LIỄU
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG
HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH LỚP 5 CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
2
NGHỆ AN - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ BÍCH LIỄU
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG
HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH LỚP 5 CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP
Chuyên ngành : GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
Việt cho học sinh của GVTH các trường ở huyện Châu Thành, Đồng Tháp...........27
1.3.2. Thực trạng hứng thú trong học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 5 huyện Châu
Thành, Đồng Tháp......................................................................................................28
1.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1......................................................................................43
4
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN
TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 5.....................................................................45
2.1. CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ
HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 5........................................45
2.1.1. Bám sát mục tiêu, chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học..............................45
2.1.2. Đề cao sự sáng tạo, tính tích cực của học sinh............................................45
2.1.3. Tính đến các đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5........................................47
2.1.4. Đảm bảo tính hấp dẫn.................................................................................. 48
2.2. XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP
MÔN TIẾNG VIỆT CHO HS LỚP 5........................................................................ 48
2.2.1.Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt thông qua việc khai thác, phát
triển nội dung bài học................................................................................................. 48
2.2.2. Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho HS lớp 5 thông qua các
phương pháp dạy học..................................................................................................54
2.2.3. Bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh thông qua các hình thức và kĩ thuật
dạy học........................................................................................................................62
2.2.4.Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt thông qua các phương tiện, thiết
bị dạy học....................................................................................................................73
2.2.5. Bồi dưỡng hứng thú học tập Tiếng Việt cho học sinh lớp 5 thông qua các hình
thức hoạt động ngoại khóa......................................................................................... 76
2.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2......................................................................................83
CHƯƠNG 3:THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM..................................................................85
nhân có sức chịu đựng dẻo dai, làm việc một cách say mê. Hứng thú học tập có
vai trò rất lớn trong hoạt động học tập của học sinh, làm tăng hiệu quả của quá
trình nhận thức.
Tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập là nhiệm vụ chung đặt
ra cho các nhà giáo dục, các thầy cô giáo ở nước ta cũng như ở mọi quốc gia
trên thế giới.
6
Tạo hứng thú học tập cho học sinh tiểu học có ý nghĩa rất quan trọng bởi
đây là bậc học đầu tiên của cuộc đời học sinh, có vai trò đặt nền tảng cho các
bậc học sau này.
Thực trạng dạy và học Tiếng Viêt nói chung và Tiếng Việt lớp 5 nói riêng
ở trường tiểu học hiện nay chưa tạo được không khí học tập hào hứng, chưa làm
cho việc học tiếng Việt của học sinh trở thành niềm vui và đạt được hiệu quả
như mong muốn.Trong khi đó, môn học Tiếng Việt là môn học quan trọng ở bậc
Tiểu học.
Lớp 5 là lớp có nội dung chương trình có yêu cầu khá cao, đa phần các
em học sinh trong huyện Châu Thành không thích học môn Tiếng Việt đặc biệt
là các phân môn như Tập đọc, Tập làm văn, Luyện từ và câu... Trong các tiết
học này, các em chưa có sự hứng thú học tập dẫn đến chất lượng môn học chưa
cao, ngày càng có ít học sinh giỏi tiếng Việt.
Mặt khác, hiện nay, ở Việt Nam, chưa có nhiều công trình nghiên cứu
chuyên sâu về các biện pháp bồi dưỡng, duy trì hứng thú học tập môn Tiếng
Việt cho học sinh lớp 5.
Vì những lý do trên, tôi đi sâu nghiên cứu vấn đề: “Một số biện pháp bồi
dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho HS lớp 5 các trường Tiểu học
huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp”.
2. Mục đích nghiên cứu
nói riêng, đồng thời nghiên cứu những cơ sở lý luận của đề tài. Từ đó nắm vững
một số vấn đề liên quan đến hứng thú học tập môn Tiếng Việt ở lớp 5.
- Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập: để nghiên cứu các
hiện tượng, và quá trình giáo dục liên quan đến hứng thú học tập.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
-Phương pháp quan sát: để thu thập những thông tin về thực trạng hứng
thú học tập của HS đối với môn TV, những biện pháp bồi dưỡng hứng thú mà
GV đã sử dụng.
- Phương pháp điều tra (điều tra bằng phiếu và phỏng vấn) : Là phương
pháp sử dụng hệ thống câu hỏi để thu thập các số liệu từ giáo viên và học sinh
lớp năm của huyện Châu Thành để tìm hiểu về vấn đề bồi dưỡng hứng thú của
giáo viên và mức độ hứng thú của học sinh..
8
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục để vận dụng các vấn đề lí
luận giáo dục liên quan đến hứng thú vào phân tích thực tiễn bỗi dưỡng hứng
thú học Tiếng Việt cho học sinh lớp 5.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: để những người có trình độ cao góp
ý, hướng cách triển khai một đề tài hoặc đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp thử nghiệm sư phạm: để thử nghiệm những biện pháp bồi
dưỡng hứng thú học tập môn TV cho HS lớp 5 mà đề tài đã đề xuất.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Xây dựng một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn
Tiếng Việt cho HS lớp 5.
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm.
Giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, nghiên cứu hứng thú học
môn Toán của học sinh trường Tiểu học Xuân Hoà đã đưa ra một số biện pháp
phát triển hứng thú học tập môn Toán cho học sinh. Ngoài ra, còn một số nhà
tâm lý học như: Lê Khanh, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc
Thành, Trần Hữu Luyến….[13,21,37] đã nghiên cứu vấn đề hứng thú học tập
của học sinh.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn
Tiếng Việt
Đối với môn Tiếng Việt ở Tiểu học đã có một số tác giả quan tâm nghiên
cứu. Có nhiều ý kiến cho rằng, học sinh Tiểu học hiện nay ít hứng thú với môn
Tiếng Việt, tuy nhiên, các tác giả chưa nghiên cứu cụ thể thực trạng mức độ
hứng thú của học sinh như thế nào.
Tác giả Lê Phương Nga thông qua việc tìm hiểu vốn từ của học sinh Tiểu
học đã kêu gọi các nhà giáo dục hãy quan tâm hơn nữa đối với việc bồi dưỡng
hứng thú học tập cho học sinh trong phân môn Từ ngữ nói riêng và môn Tiếng
Việt nói chung để làm phong phú vốn từ cho học sinh Tiểu học. Tác giả Lê
Phương Nga cũng đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng hứng thú học tập của học
sinh qua quyển Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt [22].
Một số tác giả như Phạm Thế Sơn, Phan Thiều, Lê Hữu Tĩnh [30] đã
nghiên cứu về thực trạng hứng thú và chất lượng học tập của học sinh đối với
phân môn Từ ngữ. Các tác giả này nhận xét rằng, học sinh Tiểu học hiện nay
không hứng thú học Từ ngữ.
Tác giả Thái Thị Hoa cũng nghiên cứu thực trạng hứng thú học môn
Tiếng Việt của học sinh lớp 2 [15]. Trên cơ sở đó, đưa ra một số yếu tố ảnh
hưởng đến hứng thú học tập môn học này ở lớp 2.
11
Tác giả Phan Thị Hiền đã nghiên cứu mức độ hứng thú học tập hứng thú
12
X.L.Ru-bin- stein coi “hứng thú là biểu hiện của tính tích cực hoạt động trí
óc và tình cảm”.
N.P.Đô-brư-nhin, T. Ri-bô nhận xét: “Hứng thú là khuynh hướng lựa chọn
của con người, của tư tưởng, ý định của con người” [11, 225].
Theo định nghĩa của Từ điển tâm lí học: “Hứng thú là sự biến đổi có tính
giả định của trạng thái tinh thần tích cực hoặc yếu, hoặc mạnh mẽ của các cá
nhân đối với đối tượng khác nhau hoặc môi trường cũng như đối với các hiện
tượng, các ngành nghề và các lĩnh vực kiến thức khác nhau” [37].
Những định nghĩa trên ít nhiều đã đi sâu vào tìm hiểu bản chất tâm lí của
hứng thú, tuy nhiên vẫn mang tính chất phiến diện. Xét cho cùng, hứng thú
không phải là một nhu cầu, cũng không phải là một thái độ nhận thức hoặc xu
hướng, chú ý.
Hứng thú và nhu cầu là hai thuộc tính khác nhau của xu hướng cá nhân.
Hai thuộc tính này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hứng thú nảy sinh trên cơ
sở nhu cầu hay nhu cầu là cơ sở hình thành hứng thú. Tuy nhiên, hứng thú và
nhu cầu không thể đồng nhất. Có khi hứng thú dừng lại ở nhu cầu, có khi có nhu
cầu nhưng không hứng thú. Nhu cầu có thể không có yếu tố hấp dẫn. Chẳng hạn
có nhu cầu học ngoại ngữ nhưng môn ngoại ngữ khó cũng không làm cho ta
hứng thú (vì không có yếu tố khoái cảm).
Hứng thú đi liền với chú ý, nhất là chú ý không chủ định. Hứng thú mang
màu sắc cảm xúc. Đó là dấu hiệu không thể thiếu của hứng thú. Nhưng không
phải bất kì thái độ cảm xúc nào cũng gây nên hứng thú mà đó phải là những cảm
xúc sâu sắc, tích cực của cá nhân đối với đối tượng.
A.G.Cô-va-li-ôp sau khi phê phán những định nghĩa trên đã đưa ra định
nghĩa: “Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó do ý
nghĩa của nó trong đời sống và do sự hấp dẫn về mặt tình cảm của nó” [11,228].
Tuy nhiên, định nghĩa này chưa hẳn đã làm rõ tầm quan trọng của đối
tượng đối với cá nhân. Do đó, ta có thể rút ra định nghĩa sau: “Hứng thú là thái
ứng giữa đặc điểm của đối tượng với phẩm chất của chủ thể tạo ra hứng thú, hay
mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể có mức độ tương ứng giữa yêu cầu của
đối tượng với yêu cầu của chủ thể có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành
hứng thú của cá nhân. Điều này thể hiện quan điểm quyết định đi đến kết luận
14
khi xem xét hứng thú: cái bên ngoài quyết định cái bên trong, sự tương tác giữa
các tác động khách quan và các điều kiện chủ quan của chủ thể tạo ra hứng thú.
Sự tương tác này chỉ diễn ra trong hoạt động của chính chủ thể.
c. Vai trò của hứng thú trong hoạt động của cá nhân
Hứng thú được coi là thái độ tích cực của cá nhân đối với hiện thực khách
quan. Thái độ tích cực đó được biểu hiện ở chỗ nó có vai trò rất lớn đối với hoạt
động của con người.
Hứng thú tạo cho cá nhân một trạng thái tình cảm dễ chịu. Như phần định
nghĩa đã nói, đối tượng của hứng thú không chỉ có ý nghĩa về mặt đời sống mà
còn có khả năng đưa lại cho cá nhân những khoái cảm. Do đó, khi có hứng thú
đối với lĩnh vực hoạt động nào đó thì cá nhân luôn cảm thấy sung sướng thoải
mái trong hoạt động đó.
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động một cách sáng
tạo. Thái độ sáng tạo đối với lao động là luôn luôn tìm tòi cách hoàn thành hoạt
động ấy một cách hoàn hảo nhất. Những tìm tòi như vậy có thể không đưa đến
kết quả nếu như bản thân phạm vi các hiện tượng mà mình đang tìm tòi bị bó
hẹp trong khuôn khổ của những điều kiện hoạt động quen thuộc có sẵn. Vai trò
của hứng thú ở đây cũng là mở rộng khuôn khổ ấy. Hứng thú kích thích người ta
chuẩn bị tích cực về mọi mặt để có thể bắt tay trực tiếp vào hành động sau này.
Khi hứng thú phát triển sâu sắc đến mức độ biến thành một nhu cầu gay gắt của
mình thì cá nhân thấy cần phải hành động để thỏa mãn hứng thú đó. Thường
thường khi hứng thú đã phát triển đến mức độ như vậy thì cá nhân bắt tay vào
báo, hứng thú tìm tòi, áp dụng tri thức khoa học… Song hứng thú học tập bộ
môn là điều kiện tiên quyết, là yếu tố quyết định chi phối các biểu hiện của hứng
thú khác.
Hứng thú học tập có đối tượng hẹp hơn nhiều so với hứng thú nhận thức.
Khái niệm học tập hiểu theo nghĩa rộng là việc lĩnh hội những kinh nghiệm lịch
sử, xã hội nói chung. Nghĩa là, nó gần với khái niệm nhận thức. Nhưng khái
niệm học tập theo đúng nghĩa TLH là: “Hoạt động chỉ nảy sinh, hình thành và
phát triển ở trẻ em từ 6 tuổi khi đi học nhờ phương pháp nhà trường. PP nhà
trường bao gồm nội dung dạy học, PP chiếm lĩnh tri thức (cách học) và tổ chức
cho HS lĩnh hội tri thức (từ phía nhà trường) một cách chuyên biệt” [21,118].
16
Do vậy, hứng thú học tập là loại hứng thú gắn với các môn học trong nhà
trường. Nó là thái độ đặc biệt của học sinh với môn học mà HS thấy có ý nghĩa
và có
khả năng đem lại khoái cảm trong quá trình học tập bộ môn.
Đối tượng của hứng thú học tập là nội dung các môn học và hoạt động học
để lĩnh hội nội dung đó. Hứng thú học tập bao gồm: hứng thú lựa chọn của HS
đối với các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và hứng thú với các hoạt động học tập để đạt
tới những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đó trong các môn học.
Hứng thú học tập quan hệ mật thiết với nhu cầu nhận thức của cá nhân.
Nhu cầu là tiền đề, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển hứng thú. HS có nhu
cầu nhận thức cao là tiền đề nảy sinh hứng thú học tập. Càng hứng thú học tập
bao nhiêu càng có nhu cầu đi sâu nhận thức đối tượng bấy nhiêu.
b. Sự hình thành và phát triển hứng thú học tập
“Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó, do
có ý nghĩa của nó trong đời sống và do sự hấp dẫn về tình cảm của nó” [11,128].
Ý nghĩa quan trọng của đối tượng hoạt động có thể do nhiều nguyên nhân
- Mức độ dễ dàng tiếp thu của một môn học mà HS cảm thấy mình có năng
lực hơn.
- Giảng dạy tốt môn học.
Trong tất cả các động cơ trên thì động cơ dễ dàng tiếp thu của môn học mà
HS cảm thấy có năng lực hơn và giảng dạy tốt môn học có ý nghĩa nhất đối với
HSTH.
Vì vậy, đối với các môn học nói chung, môn Tiếng Việt nói riêng GV cần
có các PPDH để HS dễ tiếp thu và yêu thích môn học, để HS có hứng thú học
tập ổn định.
* Phẩm chất cá nhân
- Trình độ phát triển trí tuệ của cá nhân:
Để HS thấy được ý nghĩa của đối tượng trong đời sống hoặc bị đối tượng
hấp dẫn thì HS phải có một trình độ nhất định. P.P.Blôn-xki khẳng định: “Một
cái đầu trống rỗng thì không thể suy luận được; cái đầu đó càng có nhiều kinh
nghiệm và tri thức thì càng có khả năng suy luận hơn” [38,105].
18
Tư chất và năng lực có ý nghĩa quan trọng về phương diện lựa chọn đối
tượng. Thái độ lựa chọn đối tượng và sự rung cảm của cá nhân kèm theo thái độ
phụ thuộc vào những đặc thù riêng của tư chất và năng lực.
Trí tuệ HS càng phát triển thì khả năng nhận thức và hoạt động nhận thức
của các em càng tăng thêm và điều đó giải thích sự phát triển, sự khơi sâu và
những biến đổi về chất trong hứng thú của các em.
- Đặc điểm tâm lí cá nhân.
- Tổ chức của hệ vận động - cảm giác càng phát triển cũng như cảm xúc
của cá nhân càng phát triển thì khi đối tượng tác động đến chủ thể một cách mới
mẻ, ấn tượng hay sinh động sẽ làm cho chủ thể bị hấp dẫn.
* Tập thể HS
tư duy diễn ra tập trung hơn và đạt hiệu quả cao hơn.
Hứng thú làm tăng khả năng tri giác có chủ định, tăng cường tính lựa chọn
của tri giác và đẩy nhanh tốc độ tri giác.
Hứng thú tăng cường các quá trình ghi nhớ có ý nghĩa, giúp HS nhớ bài lâu
hơn và bền vững hơn. Nhiều nhà TLH nổi tiếng như L.X.Vư-gốt-xki, R.E.Lê-vina cho rằng, chính trong quá trình DH tạo nên độ bền và chiều sâu của tri thức.
Tri thức lĩnh hội nhờ hứng thú thường nhớ lâu và dễ tái hiện.
Hứng thú thúc đẩy sự phát triển của tư duy độc lập, óc phê phán và tăng
cường tính sáng tạo, linh hoạt của tư duy.
Như vậy, hứng thú tác động đến quá trình nhận thức của HS trong học tập.
Hứng thú học tập còn tạo ra những xúc cảm, tình cảm tích cực ở HS trong quá
trình học tập. Nó có khả năng làm tăng sức làm việc, làm cho HS học tập say
mê, không mệt mỏi. Hứng thú học tập làm nảy sinh tính tích cực hoạt động ở
HS. Những HS có hứng thú học tập thực sự thường học tập một cách tích cực,
chủ động, sáng tạo hơn. Các em không chỉ chú ý nghe giảng trên lớp mà còn
tiến hành nhiều hình thức học tập khác nhau như: học bài ở nhà, tìm đọc các tài
liệu tham khảo…
Tóm lại, hứng thú học tập tác động toàn diện đến bản thân người học, đến
tiến trình hoạt động và phát triển của quá trình DH, đến hiệu quả của quá trình
20
DH. Bởi vậy, hình thành và phát triển hứng thú học tập cho HS là mục tiêu quan
trọng mà mỗi GV cần hướng tới.
d. Biểu hiện của hứng thú học tập
Sự biểu hiện của hứng thú học tập chính là sự cụ thể hoá các giai đoạn
phát triển của hứng thú, các dấu hiệu được biểu hiện ở mức độ phát triển cao
dần của hứng thú tương ứng với mỗi giai đoạn. Khi học sinh có hứng thú với
môn học ta có thể thấy những biểu hiện cụ thể sau:
Tập trung chú ý cao độ và tích cực phát biểu trong giờ học: Chú ý của
phải dẫn đến tính tích cực hành động, tích cực suy nghĩ tìm tòi để ứng dụng tri
thức vào thực tiễn. Tính tích cực hành động và suy nghĩ mang tính chủ quan của
học sinh phụ thuộc vào nhận thức và khả năng của các em. Hành động và suy
nghĩ tìm tòi trở thành nhu cầu cần thiết, nguyện vọng chính đáng của bản thân,
các em tích cực tự giác hoạt động với sức mạnh và sự say mê bên trong mà
không cần đến sự khuyến khích động viên của người khác.
Hứng thú học tập biẻu hiện rõ nhất ở kết quả học tập: Kết quả học tập là
sản phẩm của cả một quá trình học tập và rèn luyện. Nó vừa phản ánh trình độ
kiến thức của học sinh vừa đánh giá trình độ và phương pháp giảng dạy của giáo
viên, nên nó là thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng giáo dục. Một học
sinh chăm chỉ học bài, từ chỗ tập trung chú ý nghe giảng, tích cực phát biểu
trong giờ học, đến chỗ làm bài tập đầy đủ, và tích luỹ tri thức thì bao giờ kết quả
học tập cũng cao hơn.
Mỗi dấu hiệu trên đây đều có sự kết hợp giữa ba yếu tố nhận thức, thái
độ, hành vi. Điều đó một lần nữa khẳng định thành phần cấu trúc của hứng thú,
hứng thú học tập phải bao gồm 3 mặt là nhận thức, thái độ và hành vi. Các mặt
này có mối quan hệ mật thiết với nhau, sự biểu hiện của các dấu hiệu tương ứng
với các giai đoạn hình thành và phát triển của hứng thú. Mức độ chú ý nghe
giảng và thích thú với bài học tương ứng với giai đoạn hình thành của hứng thú,
mức độ học và làm bài tập đầy đủ tương ứng với giai đoạn hình thành thái độ
nhận thức. Dấu hiệu nêu thắc mắc và tìm câu hỏi có liên quan đến môn học, vận
dụng kiến thức môn học vào thực tiễn và luôn đạt kết quả cao chứng tỏ hứng thú
đã bền vững và hướng toàn bộ hoạt động của cá nhân theo hướng tích cực. Dấu
hiệu này tương ứng với sự hình thành hành vi của hứng thú. Như vậy, hứng thú
22
học tập biểu hiện thông qua những yếu tố bên trong và bên ngoài, tạo nên tính
tích cực hoá rộng rãi trong hoạt động trí tuệ, tiếp thu trí tuệ để hình thành kỹ
Khi đã có hứng thú học tập, không chỉ dừng ở mức độ nhận thức hay cảm
xúc mà tất yếu phải tiến tới tích cực hành động. Một HS chăm chú nghe giảng,
tích cực phát biểu, chăm chỉ học và làm bài, đọc thêm những tài liệu, biết ứng
dụng kiến thức đã học vào cuộc sống thì chắc chắn phải đạt kết quả cao trong
học tập.
c. Biện pháp nâng cao hứng thú học tập cho học sinh
Một yêu cầu đặt ra cho giáo viên tiểu học trong giai đoạn hiện nay là cần
sử dụng những phương pháp năng động hơn trong dạy học nhằm phát huy tính
tích cực của học sinh và bồi dưỡng hứng thú học tập cho các em. Mỗi giáo viên
phải không ngừng học hỏi, suy nghĩ để tìm ra những cách thức, những con
đường thuận lợi nhất để đạt được mục đích đó. Có thể nói, làm thế nào để vừa
kích thích hứng thú học tập của học sinh vừa thực hiện tốt mục tiêu của tiết dạy
là sự trăn trở của tất cả mọi giáo viên.
- Hứng thú học tập là thái độ yêu thích đặc biệt của học sinh đối với việc
học, được thể hiện qua nhiều mức độ như: sự chú ý, tập trung, sự ham thích và
cao nhất là niềm đam mê. Ở cấp tiểu học, đa số các em đều chỉ thể hiện ở mức
chú ý, tập trung chứ rất ít học sinh đạt tới mức độ đam mê do các em chưa ý
thức được những lợi ích của việc học tập. Cho nên, đối với học sinh tiểu học,
với tâm lí thích được khen và động viên thì những lời khuyến khích của thầy cô
sẽ là động lực thúc đẩy các em cố gắng hơn, tập trung hơn trong giờ học.
Có thể chỉ với một lời khen: “Hôm nay cô thấy con làm bài tập này rất
tốt” hoặc là: “Con đã hiểu được nội dung của bài thơ rồi đấy”. Giáo viên đã kích
thích sự hứng thú vốn tiềm ẩn trong học sinh về đối tượng mình đang học, thái
độ hứng thú đó sẽ là điểm khởi đầu cho một chuỗi những biến đổi trong nhận
thức của học sinh về lợi ích của việc học. Do đó, giáo viên tiểu học phải coi
trọng việc bồi dưỡng hứng thú học tập cho các em ngay từ những buổi học đầu
tiên, những bài học đầu tiên. Đây là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự khéo léo
trong nghệ thuật sư phạm.
- Tổ chức các hình thức học tập phong phú, tăng cường hình thức học tập
Với tư cách là một môn học trung tâm ở tiểu học, nó vừa là đối tượng
nghiên cứu vừa là công cụ để học tập tất cả các môn học khác. Kỹ năng nghe,
nói, đọc, viết là phương tiện cần thiết để hoạt động lao động học tập của học
sinh. Nếu không có môn Tiếng Việt thì trẻ em không thể học được các môn học
khác trong nhà trường. Nói cách khác, trẻ em nắm kỹ năng học tập, trước hết
25
cần nghiên cứu Tiếng Việt - chìa khóa nhận thức của học vấn, của sự phát triển
trí tuệ đúng đắn.
Môn Tiếng Việt gúp em có khả năng tư duy và khả năng biểu đạt. Không
có một phạm vi hoạt động xã hội nào mà không đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc
Tiếng Việt.
Môn Tiếng Việt rèn luyện cho các em kĩ năng ngôn ngữ: nghe, đọc, nói,
viết nhằm giúp học sinh sử dụng Tiếng Việt có hiệu quả trong giao tiếp và suy
nghĩ.
Môn Tiếng Việt gợi mở cho học sinh cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngôn
từ Tiếng Việt và hiểu được phần nào cuộc sống xung quanh. Môn Tiếng Việt bồi
dưỡng cho các em tình cảm chân thành, lành mạnh như tình cảm gia đình, tình
thầy trò, tình bạn bè, tình yêu quê hương, đất nước, con người. Đồng thời hình
thành và phát triển ở học sinh những phẩm chất tốt đẹp. Có thể nói, nếu không
có Tiếng Việt sẽ không có bất cứ một hoạt động nào khác trong nhà trường.
b. Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học
Theo Chương trình Giáo dục phổ thông – cấp Tiểu học (ban hành kèm
theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD-ĐT ngày 05-5-2006 của Bộ trưởng Giáo
dục và Đào tạo), mục tiêu của môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học là:
“1. Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt
(nghe, đọc, nói, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của
lứa tuổi.