Một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú tập viết cho học sinh lớp 1 - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN YẾN OANH
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG
HỨNG THÚ TẬP VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2014
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN YẾN OANH
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG
HỨNG THÚ TẬP VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyênngành: Giáo dục học (cấp Tiểu học)
Mãsố: 60.14.01.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Chu Thị Thủy An
Nghệ An, 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- Ban giám hiệu trường Đại học Vinh và Đại học Sài Gòn, Khoa Giáo
dục tiểu học, Khoa Đào tạo sau đại học - trường Đại học Vinh, Phòng tổ chức
trường Đại học Sài Gòn.
- Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS
Chu Thị Thủy An - giáo viên hướng dẫn khoa học đã tận tâm bồi dưỡng kiến
thức, phương pháp nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
này.
- Đồng thời, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên
và học sinh lớp 1 các trường Tiểu học: Khai Minh; Kết Đoàn; Lương Thế
Vinh; Lê Ngọc Hân; Nguyễn Thái Bình trên địa bàn Quận 1, thành phố Hồ

33
1.4.1. Đặc điểm sinh lí 33
1.4.2. Đặc điểm tâm lí 34
1.5. Nội dung dạy học tập viết lớp 1 với việc hứng thú tập viết 37
1.5.1. Vai trò và mục tiêu của dạy học tập viết lớp 1 37
1.5.2. Nội dung dạy học tập viết lớp 1 38
1.5.3. Sự cần thiết phải bồi dưỡng hứng thú tập viết cho học sinh
lớp 1
39
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2 Thực trạng của việc bồi dưỡng hứng thú tập viết cho học
sinh lớp 1
42
2.1. Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng 42
2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng 43
2.2.1. Thực trạng hứng thú tập viết của học sinh 43
2.2.2. Thực trạng nhận thức của giáo viên về vấn đề bồi dưỡng hứng
thú tập viết
49
2.2.3. Thực trạng sử dụng các biện pháp bồi dưỡng hứng thú tập viết 51
4
Tiểu kết chương 2 52
Chương 3 Một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú tập viết cho học
sinh lớp 1
53
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 53
3.2. Một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú tập viết cho học sinh
lớp 1
54
3.2.1. Các biện pháp bồi dưỡng hứng thú dựa trên nội dung tập viết 54

Nhận xét, đánh giá đảm bảo sự công bằng
68
3.2.4.2.
Nhận xét, đánh giá nhấn mạnh mặt thành công và giảm nhẹ
sai sót
72
3.2.5. Các biện pháp bồi dưỡng hứng thú qua việc phát triển môi
trường chữ viết trong lớp đối với học sinh lớp 1
73
3.3. Thực nghiệm sư phạm 76
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN 82
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chữ viết là một trong những phát minh gây ấn tượng nhất, là thành tựu
đánh dấu sự phát triển của nhân loại. Việc hình thành và xây dựng những thói
quen tốt về chữ viết cho học sinh là một trong những nội dung giáo dục quan
trọng. Mặt khác, chữ viết còn thể hiện nền văn hoá, sự tinh hoa của một dân
tộc. Vì thế, vấn đề chữ viết được người xưa rất coi trọng. Ông cha ta thường
dùng câu thành ngữ: “Văn hay chữ tốt” để khen người viết chữ đẹp, học rộng,
tài cao. Đặc biệt, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng rất quan tâm đến vấn đề
này: “Chữ viết cũng là biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng,
viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tính kỷ
luật, lòng tự trọng đối với mình”[7].
Có thể khẳng định, từ khi ra đời cho đến nay, vai trò đặc biệt quan
trọng của chữ viết đã được khẳng định, nó là phương tiện không thể thiếu
trong đời sống xã hội. Thông qua chữ viết, con người có thể giao tiếp, trao đổi

cho học sinh nhìn vào để viết theo. Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Một
số biện pháp bồi dưỡng hứng thú tập viết cho học sinh lớp 1 làm đề tài
nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng hứng tập viết cho học sinh lớp 1
nhằm nâng cao chất lượng dạy tập viết ở tiểu học
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình tập viết cho học sinh lớp 1.
7
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp bồi dưỡng hứng thú tập viết cho học sinh lớp 1.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ khảo sát hiện trạng và thử nghiệm kết quả nghiên cứu ở một
số trường Tiểu học trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Chúng tôi giả định rằng nếu đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng
hứng thú tập viết cho học sinh lớp 1 thì hiệu quả rèn luyện chữ viết sẽ được
nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài.
5.2. Nghiên cứu thực trạng bồi dưỡng hứng thú tập viết cho học sinh
lớp 1 các trường Tiểu học ở Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh.
5.3. Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú tập
viết cho học sinh lớp 1.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu: Để nghiên cứu lịch sử của
vấn đề nghiên cứu hứng thú tập viết lớp 1, đồng thời nghiên cứu những cơ sở
lý luận của đề tài. Từ đó, nắm vững một số vấn đề liên quan đến hứng thú tập

- Chương 3: Một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú tập viết cho học
sinh lớp 1
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ
TẬP VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1.Những công trình nghiên cứu về bồi dưỡng hứng thú học tập
Từ những năm 20 của thế kỷ trước, nhà tâm lý học nổi tiếng
X.L.Rubinstein (1902-1960) trong các công trình nghiên cứu tâm lý học đại
cương đã đưa ra các khái niệm về hứng thú, con đường hình thành hứng thú
và cho rằng hứng thú là biểu hiện của ý chí, tình cảm.
I.F.Kha-la-mốp nghiên cứu hứng thú học tập của học sinh trong cuốn
“Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào”, tác giả đã bàn nhiều về
những đặc điểm, nguyên nhân cũng như biện pháp để hình thành hứng thú
học tập cho học sinh, nêu rõ tầm quan trọng của hứng thú trong hoạt động
nhận thức của con người.
Nhà tâm lý học Xô Viết Liu-bli-xcai-a cùng các cộng sự của bà đã đề
cập tới những khía cạnh khác nhau của hứng thú nói chung và hứng thú học
tập của học sinh nói riêng. Họ cho rằng hứng thú học tập là một trong những
tiền đề quan trọng để đưa đến kết quả học tập cao của học sinh. Ba-phô-vich –
một nhà tâm lý học Xô Viết nổi tiếng khác, quan niệm rằng, hứng thú học tập
với tư cách là một động cơ học tập, nó quyết định trực tiếp đến thành tích học
tập tương ứng. Hứng thú học tập là cái “tự điều chỉnh tâm lý cao nhất” trong
hệ thống các thứ bậc, các động cơ học tập của học sinh.
Vấn đề hứng thú học tập đối với các môn học, ở Việt Nam, cũng đã có
khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Từ những năm 1960, các tác giả Đức
10
Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân trong cuốn Tâm lý học giảng dạy đã đề cập
đến những vấn đề lí luận chung về hứng thú.

đẹp, viết nhanh qua bộ giáo án Luyện chữ đẹp [5].
Nhìn chung đã có tác giả đã quan tâm đến vấn đề tập viết như thế nào
để đạt được kết quả tốt. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu cụ thể về
thực trạng và các biện pháp bồi dưỡng, duy trì hứng thú tập viết nói chung
cũng như hứng thú tập viết lớp 1 nói riêng.
1.2. HỨNG THÚ VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP
1.2.1. Hứng thú
a. Khái niệm hứng thú
Thuật ngữ hứng thú có nhiều cách hiểu với nhiều khía cạnh khác nhau:
- Theo từ điển Tiếng Việt thì “Hứng thú là sự ham thích”[33, tr 457];
“hứng thú biểu hiện một nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo
khoái cảm, thích thú và huy động sinh lực để cố gắng thực hiện” [34, tr861].
Theo định nghĩa của Từ điển tâm lí học: “Hứng thú là sự biến đổi có tính
giả định của trạng thái tinh thần tích cực hoặc yếu, hoặc mạnh mẽ của các cá
nhân đối với đối tượng khác nhau hoặc môi trường cũng như đối với các hiện
tượng, các ngành nghề và các lĩnh vực kiến thức khác nhau” [21, tr4].
Những định nghĩa trên ít nhiều đã đi sâu vào tìm hiểu bản chất tâm lí của
hứng thú, tuy nhiên vẫn mang tính chất phiến diện. Xét cho cùng, hứng thú
không phải là một nhu cầu, cũng không phải là một thái độ nhận thức hoặc xu
hướng, chú ý.
12
Hứng thú và nhu cầu là hai thuộc tính khác nhau của xu hướng cá nhân.
Hai thuộc tính này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hứng thú nảy sinh trên
cơ sở nhu cầu hay nhu cầu là cơ sở hình thành hứng thú. Tuy nhiên, hứng thú
và nhu cầu không thể đồng nhất. Có khi hứng thú dừng lại ở nhu cầu, có khi
có nhu cầu nhưng không hứng thú. Nhu cầu có thể không có yếu tố hấp dẫn.
Chẳng hạn có nhu cầu học ngoại ngữ nhưng môn ngoại ngữ khó cũng không
làm cho ta hứng thú (vì không có yếu tố khoái cảm).
Hứng thú đi liền với chú ý, nhất là chú ý không chủ định. Hứng thú
mang màu sắc cảm xúc. Đó là dấu hiệu không thể thiếu của hứng thú. Nhưng

riêng lẻ không có ý nghĩa với hứng thú, không nói lên mức độ của hứng thú.
Có những đối tượng ta biết là rất cần, rất có ý nghĩa nhưng ta không thấy
thích, không thấy hứng thú, ngược lại có những đối tượng ta thích nhưng chỉ
là thoáng qua không có nhu cầu đi sâu tìm hiểu hoạt động với đối tượng nghĩa
là không có hứng thú. Chỉ những đối tượng nào chủ thể nhận thức được ý
nghĩa của nó và ý nghĩa đó lại phù hợp với nhu cầu của chính chủ thể mới tạo
ra được hứng thú. Sự tương ứng giữa đặc điểm của đối tượng với phẩm chất
của chủ thể tạo ra hứng thú, hay mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể có
mức độ tương ứng giữa yêu cầu của đối tượng với yêu cầu của chủ thể có ý
nghĩa quan trọng đối với việc hình thành hứng thú của cá nhân. Điều này thể
hiện quan điểm quyết định đi đến kết luận khi xem xét hứng thú: cái bên
ngoài quyết định cái bên trong, sự tương tác giữa các tác động khách quan và
các điều kiện chủ quan của chủ thể tạo ra hứng thú. Sự tương tác này chỉ diễn
ra trong hoạt động của chính chủ thể.
14
c. Vai trò của hứng thú trong hoạt động của cá nhân
Hứng thú được coi là thái độ tích cực của cá nhân đối với hiện thực
khách quan. Thái độ tích cực đó được biểu hiện ở chỗ nó có vai trò rất lớn đối
với hoạt động của con người.
Hứng thú tạo cho cá nhân một trạng thái tình cảm dễ chịu. Như phần
định nghĩa đã nói, đối tượng của hứng thú không chỉ có ý nghĩa về mặt đời
sống mà còn có khả năng đưa lại cho cá nhân những khoái cảm. Do đó, khi có
hứng thú đối với lĩnh vực hoạt động nào đó thì cá nhân luôn cảm thấy sung
sướng thoải mái trong hoạt động đó.
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động một cách
sáng tạo. Thái độ sáng tạo đối với lao động là luôn luôn tìm tòi cách hoàn
thành hoạt động ấy một cách hoàn hảo nhất. Những tìm tòi như vậy có thể
không đưa đến kết quả nếu như bản thân phạm vi các hiện tượng mà mình
đang tìm tòi bị bó hẹp trong khuôn khổ của những điều kiện hoạt động quen
thuôc có sẵn. Vai trò của hứng thú ở đây cũng là mở rộng khuôn khổ ấy.

hứng thú khác. Vì vậy, hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt
của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt
tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong quá trình nhận thức và trong đời
sống cá nhân.
b. Sự hình thành và phát triển hứng thú học tập
“Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó,
do có ý nghĩa của nó trong đời sống và do sự hấp dẫn về tình cảm của nó”
[12, tr128].
16
Hứng thú học tập được hình thành, biểu hiện và phát triển trong hoạt
động học tập. Cũng như các thuộc tính tâm lý khác của cá nhân, hứng thú học
tập được phát triển cùng với sự phát triển của nhân cách, thông qua hoạt động
học tập, trong đó chủ thể luôn tích cực tự giác hành động (A. N. Leonchiep,
N. G. Marôzôva, A. A. Lublinxkaia )
Các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên xô trước đây
cũng đã khẳng định, sự hình thành hứng thú học tập, không phải là một quá
trình tự nhiên, khép kín, mà nó được qui định bởi môi trường, phạm vi và tính
chất hoạt động nhận thức của bản thân mỗi chủ thể và bởi mối quan hệ của
chủ thể với những người khác xung quanh, nhờ quá trình dạy học và giáo dục
trong nhà trường, bởi vị trí và vai trò của họ trong hoạt động tập thể, sự ảnh
hưởng giáo dục của tập thể đối với họ Mặt khác sự phát triển của hứng thú
học tập còn gắn liền với sự phát triển của lứa tuổi.
Do các quan niệm khác nhau về bản chất của hứng thú học tập, một số
tác giả đã không đi đến thống nhất trong việc phân tích con đường hình thành
và phát triển của loại hứng thú này. Như Okôn, Machuskin coi việc dạy học
nêu vấn đề là biện pháp cơ bản để hình thành và phát triển hứng thú học tập.
Còn G. I. Sukina cho rằng, nguồn gốc cơ bản của hứng thú này nằm trong
hoạt động học tập, đặc biệt là trong nội dung tài liệu của học sinh. Từ đó tác
giả khẳng định, để hình thành và phát triển hứng thú học tập cho các em phải
chú ý đến việc lựa chọn, đổi mới tài liệu học tập và tổ chức hoạt động học của

động học tập, G. I. Sukina và N. G. Marôzôva đều thống nhất rằng, hứng học
tập có 4 mức độ sau:
18
- Có thể xem sự tò mò, tính ham hiểu biết, sự xúc cảm với đối tượng,
với hoạt động mà chủ thể lựa chọn (ở mức độ ban đầu còn rất cảm tính) là
những dấu hiệu ban đầu của hứng thú học tập. Những biểu hiện này nảy sinh
từ tuổi nhà trẻ và phát triển mạnh ở tuổi mẫu giáo (khi trẻ được tiếp xúc khá
rộng rãi với môi trường xung quanh. Đây chưa phải là hứng thú nhận thức
thực sự, nhưng là những tiền đề quan trọng để hứng thú học tập nảy sinh và
phát triển.
- Rung động nhận thức có tình huống được tạo ra do những điều kiện
cụ thể, trực tiếp của tình huống hoạt động. Đây là mức độ đầu của hứng thú
học tập. Nó thường dễ dàng bị dập tắt nếu không được củng cố, hệ thống hóa,
nhờ việc tổ chức những hoạt động nhận thức phong phú, sinh động.
- Hứng thú học tập mang tính xúc cảm - nhận thức: Mức độ này đặc
trưng bởi sự bền vững và khái quát hơn, nhờ những xúc cảm - nhận thức tình
huống đã được củng cố và phát triển, nhưng nó vẫn chưa phải là hứng thú học
tập thực sự. Mức độ này thường được biểu hiện rõ rệt và chủ yếu ở học sinh
tiểu học và đầu trung học cơ sở. ở giai đoạn này chủ yếu chủ thể hoạt động đã
biểu lộ rõ những xúc cảm bắt nguồn từ hoạt động nhận thức, những niềm vui
nhận thức do hoạt động học tập mang lại. Hứng thú nhận thức ở lứa tuổi này
liên quan chặt chẽ với thành tích học tập.
- Hứng thú học tập thực sự được hình thành và trở nên bền vững. ở
giai đoạn này hứng thú học tập trở nên sâu sắc hơn. Nó hướng toàn bộ hoạt
động nhận thức của con người theo một dòng nhất định và thường quyết
định việc chọn nghề nghiệp, cuộc sống tương lai của cá nhân. ở mức độ
này, chủ thể không chỉ có những xúc cảm, niềm vui, sự thỏa mãn do hoạt
động nhận thức mang lại, mà còn có cả ý chí bền vững, được biểu lộ rõ khi
chủ thể gặp khó khăn trong quá trình nhận thức, tìm tòi cách thức hoàn
19

biểu ý kiến, xây dựng, nhận xét bài cho giờ học trở nên sôi nổi, việc tiếp thu
tri thức sẽ trở nên nhẹ nhàng và thường mang lại hiệu quả cao.
- Khi có hứng thú, học sinh thường thích viết bài: Hứng thú học tập
không chỉ dừng lại ở sự chú ý nghe giảng trên lớp mà các em còn tự giác viết
bài đầy đủ và sạch đẹp. Học sinh có khả năng nhận diện tốt và viết bài tốt thì
mới chăm chỉ học bài, ngược lại sự thành công khi viết đẹp sẽ tạo ra niềm vui
trí tuệ, kích thích sự phát triển của hứng thú, học sinh tin vào khả năng của
bản thân, thấy được cái hay cái đẹp của môn học, khi đó hứng thú với môn
học ngày càng được nâng cao.
- Hứng thú thể hiện nhu cầu nhận thức đã phát triển cao: Cũng như
hứng thú, hứng thú học tập có mối quan hệ mật thiết với nhu cầu nhận thức.
Học tập không chỉ có ý nghĩa về mặt đời sống mà còn có khả năng mang lại
cho học sinh những khoái cảm đặc biệt. Khi học sinh có hứng thú với môn
học các em thường có nhu cầu hiểu biết nhiều hơn, luôn cảm thấy cần thiết để
thoả mãn nhu cầu đó thì học sinh thấy cần phải hành động học tập, cần phải
tích luỹ tri thức và tất cả những gì liên quan tới môn học.
- Hứng thú biểu hiện ở tính tích cực hành động, tích cực suy nghĩ tìm
tòi: Hứng thú học tập không chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức hay thái độ, mà
tất yếu phải dẫn đến tính tích cực hành động, tích cực suy nghĩ tìm tòi để ứng
dụng tri thức vào thực tiễn. Các em không thoả mãn với viết đúng mà còn
muốn viết đẹp, viết chữ nghiêng, tìm hiểu cách trình bày đối với đoạn văn,
đoạn thơ, sự kết hợp giữa chữ hoa và chữ thường, chữ cỡ lớn- cỡ nhỡ- cỡ
nhỏ Tính tích cực hành động và suy nghĩ mang tính chủ quan của học sinh
21
phụ thuộc vào nhận thức và khả năng của các em. Hành động và suy nghĩ tìm
tòi trở thành nhu cầu cần thiết, nguyện vọng chính đáng của bản thân, các
em tích cực tự giác hoạt động với sức mạnh và sự say mê bên trong mà không
cần đến sự khuyến khích động viên của người khác.
- Hứng thú học tập biẻu hiện rõ nhất ở kết quả học tập: Kết quả học tập
là sản phẩm của cả một quá trình học tập và rèn luyện. Nó vừa phản ánh khả

trong học tập. Cụ thể là:
* Trong lớp chú ý nghe giảng.
* Tích cực phát biểu ý kiến, tích cực thể hiện khả năng của mình với
bạn bè thông qua những bài viết…
Chú ý nghe giảng và tích cực phát biểu trong giờ học là dấu hiệu đầu
tiên của hứng thú học tập, hoạt động học là hoạt động căng thẳng nên nếu chỉ
có ý thức nghĩa vụ và ý thức tổ chức kỉ luật thì không đủ để bắt học sinh chú
ý thường xuyên, lâu dài. Chỉ có hứng thú thì học sinh mới tập trung, chú ý lâu
vào bài học. Khi có hứng thú, học sinh thường hoàn thành các nhiệm vụ học
tập mà giáo viên giao. Có nhu cầu hiểu biết nhiều hơn nên thường tìm tòi sưu
tầm và học hỏi từ bạn bè, người thân. Khi đã có hứng thú học tập, không chỉ
dừng ở mức độ nhận thức hay cảm xúc mà tất yếu phải tiến tới tích cực hành
động. Một học sinh chăm chú nghe giảng, tích cực phát biểu, chăm chỉ học và
viết bài, đọc thêm những tài liệu, biết ứng dụng kiến thức đã học vào cuộc
sống thì chắc chắn phải đạt kết quả cao trong học tập.
23
1.3. ĐẶC ĐIỂM CHỮ VIẾT TIẾNG VIỆT VỚI VIỆC BỒI DƯỠNG
HỨNG THÚ TẬP VIẾT
1.3.1. Đặc điểm chữ viết Tiếng Việt
a. Chữ viết ghi âm vị
Âm thanh ngôn ngữ ra đời trước, chữ viết ra đời sau với mục đích là
khắc phục những hạn chế của âm thanh ngôn ngữ trong giao tiếp. Vì thế vào
khoảng thế kỉ XVII, môt số giáo sĩ phương Tây đã dựa vào bộ chữ cái la tinh
để xây dựng một thứ chữ mới ghi âm tiếng Việt nhằm phục vụ cho việc
truyền giảng đạo Thiên chúa. Đó là “chữ quốc ngữ”.
Chữ Quốc ngữ ở thời buổi đầu chưa phản ánh một cách khoa học cơ
cấu ngữ âm tiếng Việt, còn chịu nhiều ảnh hưởng cách ghi âm theo tiếng nước
ngoài. Trong vòng hai thế kỉ tiếp theo, chữ Quốc ngữ được cải tiến, từng bước
ổn định. Điều này thể hiện rõ giữa chữ và âm, giữa cách viết và cách đọc có
mức độ phù hợp khá cao.

hiện viết chữ theo một quy trình hợp lí.
+ Kĩ thuật sử dụng thuận tiện như: Rê bút, lia bút, viết liền mạch… dạy
cho học sinh đều xuất phát từ đặc điểm của bộ chữ cái La tinh nhằm đạt tốc
độ viết sẽ nhanh, chữ viết đẹp và mềm mại. Đối với chữ cái La tinh, kĩ thuật
cầm bút, vận động đúng của cổ tay, bàn tay là rất quan trọng. nếu cầm bút sai,
đưa nét bút sai sẽ ảnh hưởng đến tốc độ viết, ảnh hưởng đến tính thẩm mĩ của
chữ. Đối với chữ cái Latinh viết đúng, viết đẹp và viết nhanh đi liền với nhau,
không tách rời nhau. Nếu viết sai, sẽ không đẹp và chậm.
25

Trích đoạn Phương pháp trò chơi tập Phương pháp luyện tập thực hành Các biện pháp bồi dưỡng hứng thú khi sử dụng các phương Nhận xét, đánh giá đảm bảo sự công bằng Các biện pháp bồi dưỡng hứng thú qua việc phát triển mô
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status