LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này, chúng tôi gặp
rất nhiều khó khăn và bỡ ngỡ. Nhưng dưới sự chỉ bảo tận tình của thạc sĩ Lê
Thị Lan Anh, chúng tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với
đề tài: Các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập tiếng Việt cho học sinh tiểu
học. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cô.
Qua đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong
khoa Giáo dục Tiểu học và các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Phạm Thị Loan
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin khẳng định đề tài: Các biện pháp bồi dưỡng hứng
thú học tập tiếng Việt cho học sinh tiểu học là kết quả nghiên cứu
của riêng mình, đồng thời đề tài này không trùng với kết quả của
các tác giả khác.
Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Sinh viên
Phạm Thị Loan
1. Lí do chọn đề tài
3
2. Lịch sử vấn đề
4
3. Mục đích nghiên cứu
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6
6. Phương pháp nghiên cứu
6
7. Cấu trúc đề tài
6
Nội dung
1.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập tiếng Việt
30
của HSTH
Chương 2: Các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập tiếng Việt
36
cho HSTH
2.1. Tạo động cơ học tập cho HS thông qua việc giúp HS ý thức
36
được lợi ích của việc học
2.2. GV giúp HS thấy được sự thú vị, vẻ đẹp và khả năng kì diệu của
chính đối tượng học tập - tiếng Việt, văn chương
6
38
2.3. Tạo điều kiện cho HS tiếp xúc trực tiếp nhiều với những tác
45
phẩm văn chương, những mẫu hình sử dụng ngôn ngữ mẫu mực
2.4. Sử dụng các thông tin bên lề giờ học
Phụ lục
67
7
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục phổ thông nước ta, cấp tiểu học được xem là
nền tảng, từ đó các em có thể học tiếp lên các bậc học khác. Ở cấp học tiểu
học, môn Tiếng Việt có vị trí đặc biệt quan trọng, chiếm thời lượng lớn nhất
bao gồm nhiều phân môn khác nhau. Học tốt môn Tiếng Việt, học sinh sẽ có
cơ sở để tiếp thu và diễn đạt tốt các môn học khác. Nắm vững kiến thức tiếng
Việt và luyện tập thành thạo các kĩ năng đọc, nghe, nói, viết, các em sẽ suy
nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng và có khả năng làm chủ được tiếng nói và
chữ viết của dân tộc.
Cũng như các môn học khác, muốn học tốt môn Tiếng Việt, trước hết
mỗi học sinh cần phải say mê và hứng thú. Tạo hứng thú cho HS trong quá
trình học tập là nhiệm vụ chung đặt ra cho các thầy cô giáo, các nhà giáo dục
ở nước ta cũng như mọi quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, một yêu cầu đặt
ra cho GV tiểu học trong giai đoạn hiện nay là cần quan tâm nhiều hơn đến
việc hình thành và bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh. Do vậy, mỗi GV
phải không ngừng học hỏi, suy nghĩ để tìm ra những cách thức, những con
đường thuận lợi nhất để đạt được mục đích đó. Nhưng làm thế nào để vừa
kích thích hứng thú học tập của HS, vừa thực hiện tốt mục tiêu của tiết dạy là
sự trăn trở của tất cả mọi GV nói chung. Đối với GV tiểu học điều đó còn khó
khăn hơn rất nhiều vì đối tượng HS là lứa tuổi có nhiều đặc điểm đặc biệt về
Cũng theo tinh thần ấy, tác giả Trương Đức Thành và tác giả Nguyễn
Văn Tứ cũng đã đề cập trong hai cuốn Những bài tập tiếng Việt lí thú (Trương
Đức Thành chủ biên) và Chuyện vui chữ nghĩa (Nguyễn Văn Tứ). Ngoài ra,
các tác giả Trần Mạnh Hưởng, Lê Phương Nga và Nguyễn Thị Hạnh trong
cuốn Trò chơi học tập tiếng Việt ở tiểu học cũng đã nêu ra một số trò chơi
nhằm nâng cao hứng thú học tập tiếng Việt cho HSTH.
Để góp phần nâng cao lòng yêu thích tiếng mẹ đẻ - thứ của cải vô cùng
quý giá mà ông cha ta đã để lại, tác giả Trịnh Mạnh đã viết ra cuốn Tiếng Việt
9
lí thú. Trong cuốn sách này, tác giả tìm hiểu những điều lí thú xoay quanh
tiếng Việt nhằm tạo hứng thú học tập tiếng Việt cho HSTH.
Vấn đề tạo hứng thú học tập tiếng Việt cho HSTH cũng được đề cập
trực tiếp trong một số tài liệu tham khảo, giáo trình, chuyên đề giảng dạy hay
tạp chí như:
Trong bài Bồi dưỡng hứng thú của học sinh với môn Tiếng Việt (năm
2000), tác giả Lê Xuân Thại đã nêu ra tầm quan trọng của việc bồi dưỡng
hứng thú học tập cho HS. Việc bồi dưỡng hứng thú học tập có vai trò vô cùng
quan trọng trong việc giúp HS lĩnh hội tri thức, đặc biệt là lĩnh hội các kiến
thức về tiếng Việt.
Tác giả Lê Phương Nga trong bài viết Bảo đảm sự thành công cho học
sinh tiểu học trong giờ học Tiếng Việt những ngày đầu tiên đến trường, Tạp
chí Tâm lí học 2/2004, đã khẳng định một trong những yếu tố dẫn đến thành
công của giờ học Tiếng Việt chính là việc bồi dưỡng hứng thú học tập tiếng
Việt cho HS.
Việc nghiên cứu vấn đề tạo hứng thú học tập tiếng Việt cho HSTH
không còn là vấn đề mới mẻ, nó đã được đề cập một cách khách quan và cụ
thể trên các bài báo, tạp chí, trong các cuốn sách và các công trình khoa học.
+ Phương pháp hệ thống
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, phần Nội dung của đề tài gồm hai
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập tiếng Việt cho
học sinh tiểu học
11
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Hứng thú
1.1.1.1. Khái niệm hứng thú
Hứng thú là một hiện tượng tâm lí khá phức tạp. Song, đó cũng là một
lĩnh vực lí thú, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Những nghiên
cứu của các tác giả khác nhau cho thấy thuật ngữ “hứng thú” được sử dụng
khá rộng rãi, thậm chí có nhiều quan niệm, nhiều cách giải thích khác nhau về
hứng thú. Mỗi quan niệm nhìn “hứng thú” theo những góc độ khác nhau.
Quan niệm của các nhà tâm lí học và giáo dục học tư sản về hứng thú
cũng rất khác nhau. Một số coi hứng thú như một thuộc tính bẩm sinh của con
người, một số khác lại chú trọng đến nguồn gốc sinh vật của hứng thú, tiêu
biểu là S.Klaparet, năm 1946, trong công trình Tâm lí học trẻ em và giáo dục
học thực nghiệm thì cho rằng: “Hứng thú là dấu hiệu của nhu cầu, bản năng
khát vọng đòi hỏi được thoả mãn”; hoặc cũng có một số lại đồng nhất hứng
thú với bản năng.
năng tạo nên hứng thú ở HS mà chỉ cho phép phát triển và hoàn thiện những
mầm mống ban đầu có sẵn trong HS.
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học thấy cần phải xác định rõ
sự khác biệt của hứng thú với các khái niệm gần với nó (như nhu cầu, xúc
cảm…), cần phải phân tích cho được cấu trúc của hứng thú, các giai đoạn
phát triển khác nhau của hứng thú ở cùng một con người.
Nhà tâm lí học M.G.Marôzôva khi phân tích cấu trúc của hứng thú kết
luận rằng ít nhất có ba yếu tố đặc trưng cho hứng thú:
- Có cảm xúc đúng đắn với hoạt động.
13
- Có khía cạnh nhận thức với xúc cảm này (được tác giả gọi là niềm vui
tìm hiểu và nhận thức).
- Có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động. Tức là hoạt
động tự nó lôi cuốn và kích thích, không phụ thuộc vào các động cơ khác.
Ba yếu tố trên có liên quan chặt chẽ với nhau trong hứng thú của cá
nhân. Ở các giai đoạn phát triển khác nhau của hứng thú, mỗi yếu tố đó có thể
nổi lên mạnh mẽ ít hay nhiều.
Như vậy, có thể nói hứng thú là sự kết hợp nhuần nhuyễn hữu cơ giữa
quá trình nhận thức và quá trình tình cảm của cá nhân.
- Thành phần nhận thức của hứng thú tham gia vào nhiệm vụ tìm thấy
giá trị, ý nghĩa, tầm quan trọng của đối tượng đối với cuộc sống nói chung và
cá nhân nói riêng. Nhận thức đối tượng là nắm lấy và hiểu rõ đối tượng với
mức độ sâu sắc, đi sâu vào bản chất của đối tượng.
- Thành phần tình cảm của hứng thú có vai trò hết sức quan trọng. Nó
giúp cho nhận thức của con người được nhanh hơn, mạnh hơn, dễ dàng hơn,
thoải mái hơn. Bởi vì tình cảm là nguồn sức mạnh nuôi dưỡng hứng thú, đẩy
hứng thú hình thành và phát triển.
Hứng thú có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống và hoạt động của
con người. Macxim Gorki đã từng viết rằng: Nếu con người yêu thích công
việc của mình thì dù việc ấy là đơn giản cũng có thể trở thành sáng tạo. Cùng
với nhu cầu, hứng thú kích thích hoạt động làm cho con người trở nên tích
cực, say mê, tự giác trong hoạt động. Công việc nào có hứng thú thì được con
người thực hiện một cách dễ dàng và có hiệu quả cao.
Đối với hoạt động nhận thức thì hứng thú càng có vai trò quan trọng
đặc biệt. Chúng ta biết rằng hứng thú và nhận thức có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Mỗi hứng thú đều bao hàm ở mức độ nào đó nhận thức của cá nhân
đối với đối tượng. Ngược lại hoạt động nhận thức nếu không có hứng thú thì
thần kinh mau mệt mỏi, dễ mất tập trung, sự nhận thức sẽ không đạt được
15
mục đích cao nhất của nó. Về mặt tâm lí, khi đã có hứng thú thì cá nhân
hướng toàn bộ quá trình nhận thức vào đối tượng, làm cho quá trình nhận
thức ấy được tăng cường và có hiệu quả hơn; quan sát tinh nhạy hơn; ghi nhớ
nhanh bền hơn; chú ý tập trung hơn; tưởng tượng phong phú hơn và tư duy
sâu sắc hơn.
Đối với HSTH, hứng thú là động cơ mãnh liệt thúc đẩy sự phát triển về
nhiều mặt. Làm gì không có hứng thú các em không thể tập trung sức lực và
trí lực, không thể đạt kết quả như mong muốn. Hứng thú của trẻ xuất phát từ
cuộc sống và trong hoạt động.
Hứng thú có vai trò quan trọng như vậy nên điều quan trọng và quyết
định trước hết trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt là khơi dậy và
phát triển hứng thú của HS đối với môn Tiếng Việt. Kinh nghiệm thực tế cho
thấy bất kì HS nào, từ các HS bình thường cho đến các em có năng khiếu,
muốn học giỏi môn Tiếng Việt thì trước hết phải ham thích ở mức độ cao
hơn, say mê môn Tiếng Việt. Có ham thích mới chăm chỉ, chịu khó học và có
Hứng thú nhận thức có liên quan chặt chẽ với một số hiện tượng gần
gũi với nó như nhu cầu nhận thức, tính tò mò, ham hiểu biết… nhưng không
đồng nhất với chúng. Như vậy, nhu cầu không đồng nhất với hứng thú nhưng
nó là cơ sở để hình thành hứng thú. Hơn nữa, bản thân hứng thú cũng có thể
trở thành nhu cầu của cá nhân.
Trong quá trình phát triển hứng thú ở cá nhân thì tính tò mò là biểu
hiện đầu tiên của hứng thú nhận thức. Tính tò mò là sự chú ý mạnh mẽ vào
yếu tố bất ngờ, cái thay đổi, cái mới xuất hiện ở môi trường bên ngoài. Sự chú
ý này có thể kéo dài và đầy xúc cảm nhưng chỉ xuất phát từ khía cạnh bên
ngoài mà không đi sâu vào bản chất đối tượng.
Tính tò mò bao gồm những xúc cảm đúng đắn lẫn động cơ trực tiếp,
nhưng không bao hàm yếu tố nhận thức. Do đó tính tò mò sẽ mất đi nếu như
không xây dựng được ở HS lòng mong muốn tìm hiểu đối tượng một cách sâu
17
sắc hơn. Sau tính tò mò thì tính ham hiểu biết xuất hiện, tạo thành thái độ
nhận thức ban đầu. Tính ham hiểu biết gần gũi với hứng thú nhưng không tập
trung vào một đối tượng hoặc một hoạt động nhất định.
Hứng thú học tập là một trường hợp của hứng thú nhận thức. Vì vậy,
theo chúng tôi, hứng thú học tập là thái độ yêu thích đặc biệt của HS đối với
việc học, được thể hiện qua nhiều mức độ như sự chú ý, tập trung, sự ham thích
và cao nhất là niềm đam mê đối với một đối tượng trong quá trình học tập.
1.1.2.2. Sự hình thành và phát triển hứng thú học tập ở HSTH
Hứng thú học tập có vai trò rất quan trọng trong hoạt động học tập nói
riêng và trong việc phát triển thái độ của cá nhân với thực tiễn khách quan nói
chung. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà sư phạm là hướng
dẫn một cách kiên trì, có mục đích hứng thú của HS ngay từ tuổi thơ. Để giáo
dục hứng thú có hiệu quả, các nhà giáo dục cần nắm được sự hình thành và
1.1.3. Hứng thú học tập tiếng Việt của HSTH
1.1.3.1. Mục tiêu và đặc điểm của môn Tiếng Việt ở tiểu học
1.1.3.1.1. Mục tiêu của môn Tiếng Việt
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:
1. Hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe,
nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của
lứa tuổi.
Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác
của tư duy.
2. Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của
Việt Nam và nước ngoài.
3. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự
trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
19
1.1.3.1.2. Đặc điểm của môn Tiếng Việt
Tiếng Việt là một môn học có vị trí quan trọng trong chương trình tiểu
học. Đây là môn học vừa có vai trò trang bị cho HS công cụ ngôn ngữ, vừa
là môn học thuộc Khoa học Xã hội và Nhân văn có nhiệm vụ trang bị cho
HS những kiến thức khoa học về tiếng Việt, những kĩ năng sử dụng tiếng
Việt để học sinh tự hoàn thiện nhân cách của mình ở phương diện ngôn ngữ
và văn hóa.
* Các bộ phận của chương trình
Chương trình Tiếng Việt tiểu học - 2000 gồm những bộ phận sau:
- Kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói).
- Tri thức tiếng Việt (một số hiểu biết cơ sở, tối thiểu về ngữ âm, chính
viết, nghe, nói lên một mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn, trong đó yêu cầu viết
hoàn chỉnh một số văn bản, yêu cầu đọc - hiểu được đặc biệt coi trọng.
HS ở giai đoạn này đã được cung cấp những khái niệm cơ bản về một
số đơn vị ngôn ngữ và quy tắc sử dụng tiếng Việt làm nền móng cho việc phát
triển kĩ năng. Bên cạnh những bài học thực hành (ở giai đoạn trước), các em
được học các bài về tri thức tiếng Việt (từ vựng, ngữ pháp, văn bản, phong
cách…). Những bài học này cũng không phải là lý thuyết đơn thuần, được
tiếp nhận hoàn toàn bằng con đường tư duy trừu tượng, mà chủ yếu vẫn bằng
con đường nhận diện, phát hiện trên những ngữ liệu đã đọc, viết, nghe, nói;
rồi sau đó mới khái quát thành những khái niệm.
* Trọng tâm và điểm khó của chương trình
Các kĩ năng sử dụng tiếng Việt là trọng tâm của chương trình
Xuất phát từ mục tiêu của môn học, các kĩ năng sử dụng tiếng Việt trở
thành trọng tâm học và luyện tập suốt cấp tiểu học. Kĩ năng sử dụng tiếng
Việt là một hệ thống kĩ năng đặc biệt, vừa liên quan đến hoạt động của bộ
21
não, của tư duy vừa liên quan đến hoạt động của một số giác quan. Nó mang
tính hệ thống cao, là hệ thống của các hệ thống. Nó gắn liền với văn hóa ứng
xử, mang đậm tính dân tộc, gắn với vốn kinh nghiệm, vốn hiểu biết của cá
nhân. Nó còn mang tính thực hành cao, gắn liền với các dạng hoạt động lời
nói, các tình huống giao tiếp.
Luyện tập các kĩ năng sử dụng tiếng Việt trên hai phương diện gắn với
hoạt động của các giác quan và hoạt động tư duy
Đề cao việc học tập các kĩ năng sử dụng tiếng Việt là điểm mới và
điểm khó của chương trình. Để giảng dạy tốt các kĩ năng sử dụng tiếng Việt
cần nắm được hai phương diện của các kĩ năng này: phương diện kĩ thuật và
phương diện thông hiểu nội dung. Một người muốn nói hoặc viết được trước
Các kĩ năng sử dụng tiếng Việt là một hệ thống phức hợp các kĩ năng
bộ phận và kĩ năng tổng hợp. Nói cách khác mỗi kĩ năng sử dụng tiếng Việt là
một hệ thống phức tạp.
Ví dụ, về kĩ năng viết, để viết được một văn bản hoàn chỉnh, HS phải
huy động cả một hệ thống nhiều kĩ năng bộ phận. Trước hết là kĩ năng viết
chữ (viết con chữ, tiếng, từ ...), sau đó là kĩ năng viết đúng (về chính tả, về từ,
về câu), các kĩ năng lựa chọn sắp xếp tư liệu, ý tứ để tạo thành dàn bài; kĩ
năng liên kết câu, liên kết đoạn, dựng đoạn văn ... để thành bài hoàn chỉnh; kĩ
năng kiểm tra, sửa chữa bài viết và đánh giá kết quả...
Do vậy, việc tổ chức dạy luyện tập kĩ năng sử dụng tiếng Việt được
chia nhỏ thành các kĩ năng bộ phận và gắn với yêu cầu mức độ luyện tập khác
nhau ở từng lớp (nhất là ở các lớp 1, 2, 3). Chỉ khi đã thành thạo các kĩ năng
bộ phận, chương trình mới tiến tới việc luyện tập các kĩ năng tổng hợp (chủ
yếu ở lớp 4, 5).
23
Kết hợp luyện tập các kĩ năng sử dụng tiếng Việt với việc học văn hoá
ứng xử bằng ngôn ngữ của người Việt, tích luỹ kinh nghiệm giao tiếp
Dạy luyện tập kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong các dạng hoạt động lời
nói, và các tình huống giao tiếp đa dạng là một nguyên tắc quan trọng trong
việc thực hiện chương trình Tiếng Việt tiểu học. Bởi lẽ, ngôn ngữ có quan hệ
chặt chẽ với văn hóa của một dân tộc, nhất là văn hóa ứng xử. Thông qua các
bài tập thực hành đơn giản như giới thiệu về bản thân, gia đình, lớp học, bạn
bè ... theo mục đích nhất định, HS được luyện tập về các kĩ năng ứng xử trong
các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.
Ví dụ, về dạy luyện tập kĩ năng nói, chương trình đã quy định có hai
dạng kĩ năng cần rèn luyện: nói trong hội thoại, và nói thành bài. Hai dạng kĩ
năng này được dạy ở tất cả các phân môn Tiếng Việt theo quan điểm tích hợp
Để phát hiện những HS có hứng thú và năng khiếu môn Tiếng Việt cần
trả lời được câu hỏi thế nào là HS có năng khiếu tiếng Việt. Thuật ngữ “năng
khiếu” được dùng ở đây không định chỉ một khả năng gì đặc biệt, mà nhằm
chỉ đặc điểm của một số HS có thiên hướng và năng lực hơn các em khác về
một lĩnh vực nào đó. Những HS có hứng thú và năng khiếu tiếng Việt có
những biểu hiện sau:
- Các em có lòng say mê văn học, có hứng thú với nghệ thuật ngôn từ,
các em yêu thích thơ ca, ham mê đọc sách báo, thích nghe kể chuyện. Có
những em có ước mơ trở thành nhà văn. Nói chung, biểu hiện có hứng thú và
năng khiếu tiếng Việt ở phần lớn các em là thích thú quan sát, quan tâm đến
mọi người và mọi vật ở xung quanh, không hờ hững trước vẻ đẹp của ngôn từ
văn chương, thích đọc, ghi nhớ và ghi chép những câu văn, câu thơ hay.
- Các em có những phẩm chất tư duy cần cho sự phát triển năng lực
tiếng Việt và văn học. Đây là những phẩm chất tư duy có tính thống nhất
25
nhưng không đồng nhất: tư duy phân loại, phân tích, trừu tượng hóa, khái
quát hóa… rất cần có để học tốt tiếng Việt và tư duy hình tượng, cụ thể rất
cần để học giỏi văn.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng việc học tiếng Việt của HSTH
1.2.1.1. Hứng thú học tập của HS đối với môn Tiếng Việt
Căn cứ vào quan điểm cho rằng có thể coi hứng thú là thái độ - xúc
cảm (thái độ này nảy sinh từ rung động nhận thức - xúc cảm) đối với đối
tượng, trước hết chúng tôi đặt câu hỏi có tính chất phỏng vấn 100 em HS lớp
4 trường Tiểu học Xuân Hòa nhằm tìm hiểu hứng thú học tập môn Tiếng Việt
của các em. Để thu được kết quả một cách khách quan, tránh hỏi trực diện vào
môn Tiếng Việt (là môn được điều tra) chúng tôi đề nghị các em trả lời theo 5
4,52
2
2.
Tiếng Việt
447
4,47
3
3.
Khoa học
350
3,50
7
4.
Lịch sử
217
2,75
8
8.
Thể dục
485
4,85
1
9.
Kĩ thuật
190
1,90
12
10. Tin học
438
4,38
Số
HS
25
%
25%
Bình thường
Số
%
HS
32
32%
Không thích
Số
HS
0
%
0%
Chán
Số
HS
0