Lời cảm ơn
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em và
các bạn. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn
chân thành tới:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, chuyên ngành giáo dục học
(Bậc Tiểu học) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Châu Giang đã hết lòng
giúp đỡ, động viên, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong
suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều
kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận
văn.
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa
nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của
Thầy/Cô và các anh chị học viên.
Nghi xuân, ngày 15 tháng 8 năm 2014
Học viên
Phạm Thị Duân
i
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Diễn giải
GS – TS Giáo sư – Tiến sĩ
PGS – TS Phó giáo sư – Tiến sĩ
GV – HS Giáo viên – Học sinh
GDNGLL Giáo dục ngoài giờ lên lớp
GD & ĐT Giáo dục và đào tạo
SGK Sách giáo khoa
TH Tiểu học
iv
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong Chương trình Tiểu học do Bộ GD& ĐT ban hành kèm theo
quyết định số 43/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 09 tháng 11 năm 2001 nêu rõ:
"Mục tiêu dạy học Toán ở bậc Tiểu học nhằm giúp học sinh có kiến thức cơ
bản về số học, các số tự nhiên, phân số Hình thành các kỹ năng Bước
đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng
cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống;
kích thích trí tưởng tượng; chăm học và hứng thú học tập môn Toán"
(373(v). [27])
Nghiên cứu các tài liệu lý luận cũng cho thấy: Hứng thú là yếu tố tạo ra
chất lượng học tập ở người học. Khi có hứng thú học tập học sinh sẽ:
- Say mê với môn học.
- Tự tin, chủ động chiếm lĩnh các kiến thức mới,
- Tích cực và sáng tạo khi giải quyết những nhiệm vụ học tập
Có thể nói rằng hứng thú học tập là điều kiện tất yếu để mỗi học sinh
phát huy vai trò tích cực, chủ động và tự giác của mình trong quá trình học
tập.
Trong dạy học ở Tiểu học, học sinh thường gặp nhiều khó khăn khi lĩnh
hội các kiến thức toán học, đặc biệt là học sinh lớp 4, bởi: Ở giai đoạn đầu
Tiểu học (lớp 1, 2 ,3) môn Toán chủ yếu gồm các nội dung gần gũi với cuộc
sống của trẻ, sử dụng các kinh nghiệm đời sống của trẻ, nhưng sang giai đoạn
cuối Tiểu học (lớp 4, 5) cấu trúc chương trình môn Toán tập trung vào các nội
dung có tính khái quát, tính hệ thống cao hơn, khá trừu tượng hơn. Đòi hỏi
học sinh phải nỗ lực rất nhiều mới có thể lĩnh hội được kiến thức.
1
Mặt khác, thực tiễn còn cho thấy việc lĩnh hội kiến thức Toán học của
học sinh ở lớp 4 chưa hiệu quả. Bởi đại đa số học sinh lớp 4 nói riêng và học
sinh cuối Tiểu học nói chung chưa thực sự hứng thú với môn Toán. Hơn nữa
môn Toán nói riêng thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các
trường Tiểu học còn ít được quan tâm chú trọng, nếu có cũng chỉ diễn ra đơn
điệu, cứng nhắc, chưa phát huy được hết ý nghĩa thực chất của nó đối với việc
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Vì vậy, chúng tôi thiết nghĩ việc bồi
dưỡng hứng thú học tập môn Toán cho học sinh thông qua các hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp nếu làm tốt sẽ giúp các em cảm thấy môn học này không
còn khô khan nữa. Vì thế để tìm kiếm các biện pháp hiệu quả giúp học sinh
thành công hơn trong quá trình học tập môn Toán của học sinh lớp 4, chúng tôi
quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán
lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4
thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm góp phần nâng cao chất
lượng dạy học toán trong trường Tiểu học.
3.Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp
3.2. Đối tượng nghiên cứu
3
Biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4 thông qua hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp
4 thông qua quá trình tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại một số
trường Tiểu học trên địa bàn huyện Nghi Xuân – Hà Tĩnh.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán
lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có tính khoa học và khả
thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán trong trường Tiểu học.
phận cấu thành của hứng thú nhận thức - lĩnh vực được nhiều tác giả trong và
ngoài nước tập trung nghiên cứu.
- I.F.Kha-la-mốp nghiên cứu hứng thú học tập của học sinh trong cuốn
”Phát huy tính tích cực của học sinh thế nào”, tác giả đã bàn nhiều về những
đặc điểm, nguyên nhân cũng như biện pháp để hình thành hứng thú học tập
cho học sinh, nêu rõ tầm quan trọng của hứng thú trong hoạt động nhận thức
của con người.
- V.N. Macsimôva nghiên cứu "Tác dụng của giảng dạy nêu vấn đề đến
hứng thú nhận thức của học sinh" (1974).
- N.G.Môracôva nghiên cứu "Tác dụng của giảng dạy nêu vấn đề đến
hứng thú nhận thức của học sinh" (1975), "Hứng thú trong mối quan hệ với
hoạt động nâng cao hiệu quả giờ lên lớp" (1975)
- V.L Pagiơnhicốp tập trung làm rõ "Sự hình thành khuynh hướng xã
hội của hứng thú ở học sinh trong quá trình tham gia công tác ngoài nhà
trường". (1975)
Nhìn chung, các tác giả này đi sâu nghiên cứu hứng thú trong lĩnh vực
giáo dục và các giai đoạn phát triển trí tuệ của học sinh, đặc biệt là hứng thú
nhận thức. Qua đó, cho chúng ta thấy hứng thú nhận thức là một yếu tố quan
trọng thúc đẩy sự hình thành động cơ học tập, góp phần nâng cao chất lượng
học tập.
Về vấn đề hứng thú học tập môn Toán ở Tiểu học thời gian gần đây có
một số công trình nghiên cứu có liên quan, như:
6
- Dương Thị Thanh Thanh: "Nghiên cứu hứng thú học tập môn Toán
của HS lớp 4 Tiểu học" (2005). Tác giả đã làm rõ lý luận về hứng thú học tập
toán và từ đó đề xuất các phương án để nâng cao hứng thú học tập cho học
sinh lớp 4.
- Trần Ngọc Lan với: "Hệ thống trò chơi củng cố 5 mạch kiến thức
Toán ở Tiểu học"- (2005). Tác giả đã chỉ ra cách thiết kế tổ chức các trò chơi
theo 5 mạch kiến thức có tác dụng thiết thực với học sinh Tiểu học.
sinh Tiểu học. Trong hệ thống thực nghiệm dạy học của Dancốp, có nêu:
Những nét chủ yếu trong hướng dạy học phát triển là: "Tôn trọng vốn sống
của trẻ khi dạy học, làm như vậy sẽ kích thích được lòng ham muốn học tập,
sự tìm tòi và khả năng tự học của các em" [49].
Nhìn chung, việc nghiên cứu về hứng thú học tập môn Toán Tiểu học
và các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán đã được nhiều nhà
tâm lý học trong và ngoài nước quan tâm; tuy nhiên, các tác giả thường chỉ
tiếp cận vấn đề theo những hướng đơn lẻ mà chưa có tính tổng thể, nên việc
vận dụng các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán trong thực tiễn
còn nhiều hạn chế.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.1. Hứng thú học tập.
1.2.1.1. Khái niệm về hứng thú học tập.
Để tìm hiểu khái niệm hứng thú học tập chúng ta cần phân biệt rõ hai
khái niệm hứng thú học tập và hứng thú nhận thức:
- Hứng thú nhận thức có đối tượng là việc nhận thức thế giới khách
quan nói chung. Đối tượng của hứng thú nhận thức là quá trình nhận thức bản
chất và quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan. Do
8
phạm vi rộng nên hứng thú nhận thức có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác
nhau trong cuộc sống và hoạt động của con người.
- Hứng thú học tập có đối tượng hẹp hơn nhiều so với hứng thú nhận
thức.
+ Khái niệm học tập hiểu theo nghĩa rộng là việc lĩnh hội những kinh
nghiệm lịch sử xã hội nói chung, nghĩa là nó gần với khái niệm nhận thức.
+ Theo đúng nghĩa Tâm lý học học tập là hoạt động của người học
được tổ chức chuyên biệt bằng phương pháp nhà trường với nội dung, phương
pháp và hình thức tổ chức khoa học nhằm giúp người học lĩnh hội kinh
nghiệm lịch sử - xã hội của loài người.
Do vậy, chúng tôi quan niệm hứng thú học tập là loại hứng thú gắn với
1.2.1.3. Các biểu hiện cơ bản của hứng thú học tập
Hứng thú học tập được thể hiện ra bên ngoài thông qua các dấu hiệu cơ
bản như sau:
- Sự chú ý nghe giảng và tích cực phát biểu xây dựng bài trong giờ học
là dấu hiệu đầu tiên của hứng thú học tập. Hoạt động học tập là hoạt động
căng thẳng, kéo dài nên nếu chỉ có ý thức nghĩa vụ và ý thức tổ chức kỷ luật
thì không đủ để bắt học sinh chú ý thường xuyên và lâu dài được. Chỉ có
hứng thú thì học sinh mới có thể huy động tập trung chú ý lâu dài vào đối
tượng. Cũng chỉ có hứng thú thì học sinh mới có nhu cầu hiểu biết sâu hơn về
bài học nên tích cực phát biểu để thoả mãn nhu cầu của mình.
- Làm đủ các bài tập của học sinh: Khi có hứng thú học sinh thường
thích làm và làm đầy đủ các bài tập của môn học. Ở đây thể hiện mối quan hệ
hữu cơ giữa hứng thú và năng lực: hứng thú là dấu hiệu của năng lực và chính
năng lực lại là tiền đề cho sự hình thành và phát triển hứng thú. Học sinh có
10
khả năng học bài và làm bài tốt thì mới chăm chỉ làm bài. Ngược lại sự thành
công khi giải được các bài tập đã tạo ra niềm vui trí tuệ kích thích sự phát
triển cuả hứng thú.
- Việc tự tìm tòi làm thêm các bài tập khác: Hứng thú thể hiện nhu
cầu nhận thức đã phát triển cao. Khi có hứng thú học tập học sinh thường
có nhu cầu hiểu biết nhiều hơn nên không thoả mãn các bài giảng và sách
giáo khoa mà thường tìm đọc thêm các tài liệu tham khảo để mở rộng vốn
tri thức của mình.
- Việc tích cực học tập và vận dụng kiến thức vào thực tiễn: hứng thú
học tập thì không phải chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức hay xúc cảm mà tất
yếu phải dẫn tới tính tích cực hành động, tích cực suy nghĩ tìm tòi để ứng
dụng tri thức vào thực tiễn.
- Kết quả học tập tốt: sự chú ý trong tiết học và chăm chỉ hoàn thành
các bài học: Một học sinh chú ý nghe giảng và tích cực phát biểu trong giờ
học, chăm chỉ học bài và làm bài tập, tìm đọc thêm các tài liệu tham khảo về
các thành tố cấu trúc gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp…nhằm làm cho
năng lực và phẩm chất của đối tượng được bồi dưỡng tăng cao.
Cụ thể hơn, bồi dưỡng hứng thú học tập là quá trình giáo viên thực
hiện nhiệm vụ dạy học với đối tượng học sinh, đưa ra mục tiêu, biện pháp,
hình thức dạy học cụ thể nhằm duy trì hứng thú, sự ham học hỏi hiểu biết đã
có của học sinh. Đồng thời bằng kỹ năng, năng lực sư phạm của mình nâng
cao hơn nữa sự tìm tòi, yêu thích của học sinh đối với môn học.
12
1.2.3. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.2.3.1. Hoạt động.
Hoạt động là một thuật ngữ tương đối phức tạp. Về mặt triết học, hoạt
động được coi là một phương thức tồn tại của con người: con người hoạt động
để sống và phát triển. Theo Các-Mác thì hoạt động là sự tác động biện chứng
giữa chủ thể và khách thể. Con người muốn sống, tồn tại phải hoạt động.
Cuộc sống con người là một chuỗi các hoạt động. Con người là chủ thể
của các hoạt động thay thế nhau. Hoạt động là quá trình con người thực hiện
các quan hệ của mình với thế giới tự nhiên, xã hội, người khác và bản thân.
Đó là quá trình chuyển hóa năng lượng, lao động và các phẩm chất tâm lí
khác của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại là quá
trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể,
biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể. Muốn tồn tại được trong thế giới
xung quanh, con người phải tiến hành các hoạt động đối với thế giới, sản xuất
ra được các đối tượng, nhằm thõa mãn nhu cầu này hay nhu cầu khác. Vì thế,
A.N.Leonchiep đã đúc kết: hoạt động là phương thức tồn tại của con người
trong thế giới.
Như vậy, có thể định nghĩa: Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại
giữa con người và thế giới để tạo ra sản phẩm cả về thế giới và cả về phía
con người.
Hoạt động của con người là hoạt động có đối tượng, có tính mục đích,
tính chất xã hội và tính chất tập thể, được thực hiện bằng các thao tác và công
Tiểu học bao gồm: hoạt động ngoại khóa, hoạt động vui chơi, thể dục thể
14
thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa, hoạt động bảo vệ môi trường, lao
động công ích và các hoạt động xã hội khác.
Với sự phong phú và đa dạng của các loại hình hoạt động này, rõ ràng
hoạt động GDNGLL có một vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động giáo
dục ở các nhà trường.
* Về vị trí:
Hoạt động GDNGLL được khẳng định: “Hoạt động GDNGLL không chỉ
là hoạt động ngoại khóa môn học, hay thuần túy là một hoạt động ngoại khóa.
Hoạt động GDNGLL là một trong ba kế hoạch đào tạo: dạy học, giáo dục,
hướng nghiệp dạy nghề. Nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học theo
hướng giáo dục: Đạo đức nhân văn, khoa học kỹ thuật.
Học sinh sẽ là chủ nhân tương lai của đất nước cần được phát triển toàn
diện qua các mặt: Đức, Trí, Thể, Mĩ, Nghề nghiệp. Vì vậy, có thể nói
HĐGDNGLL có vị trí then chốt trong quá trình giáo dục, nhằm điều chỉnh và
định hướng quá trình giáo dục toàn diện đạt hiệu quả.
* Về vai trò:
Hoạt động GDNGLL bổ trợ cho dạy học trên lớp, giúp học sinh mở
rộng kiến thức và rèn luyện kỹ năng; Qua hoạt động GDNGLL học sinh được
củng cố, bổ sung mở rộng kiến thức, cập nhật các thộng tin, các thành tựu
khoa học, tạo hứng thú học tập, hiểu biết thêm lịch sử đất nước, nâng cao hiểu
biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, từ đó khơi dậy trong học sinh lòng
tự hào dân tộc, lí tưởng cống hiến cho dân tộc. Hoạt động GDNGLL với các
chương trình hấp dẫn, kiến thức tích hợp của nhiều lĩnh vực khoa học có tác
dụng bổ trợ cho hoạt động dạy học trên lớp để nhằm nâng cao chất lượng dạy
học, đồng thời mở rộng kiến thức cho học sinh và cập nhật các thông tin mới
về tự nhiên, xã hội, về các vấn đề có tính thời đại n hư vấn đề quốc tế, hòa
bình hợp tác và hữu nghị, vấn đề bảo vệ môi trường, vấn đề quyền trẻ em…
15
nhiên, tính phân phối của phép nhân với phép cộng.
- Phép chia các số có nhiều chữ số không quá 3 chữ số, thương không quá
4 chữ số.
- Dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9.
- Tính giá trị của biểu thức số có 4 dấu phép tính. Giải bài tập dạng
“tìm x biết: x < a, a < x < b”
* Phân số, các phép tính về phân số:
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về các phân số đơn giản. Đọc, viết, so sánh
các phân số, phân số bằng nhau.
- Phép cộng, phép trừ hai phân số có cùng hoặc không cùng mẫu số.
- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các phân số.
Giới thiệu nhân một tổng hai phân số với một phân số.
- Giới thiệu quy tắc chia phân số cho phân số, chia phân số cho số tự nhiên
khác 0.
- Thực hành tính: Tính nhẩm về cộng, trừ hai phân số có cùng mẫu số,
phép tính không có nhớ, tử số của kết quả tính có không quá hai chữ số. Tính
nhẩm về nhân phân số với phân số hoặc với số tự nhiên, tử số và mẫu số của
tích có không quá 2 chữ số, phép tính không có nhớ.
- Tính giá trị của các biểu thức có không quá ba dấu phép tính với các
phân số đơn giản (mẫu số chung của kết quả phép tính có không quá hai
chữ số).
* Tỉ số:
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về tỉ số.
- Giới thiệu về tỉ lệ bản đồ.
b. Đại lượng và đo đại lượng:
17
- Bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo khối lượng. Chủ yếu nêu mối
quan hệ giữa ki-lô-gam và yến, tạ, tấn. giữa ki-lô-gam và gam.
- Bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo thời gian. Chủ yếu nêu mối quan
hệ giữa ngày - giờ, giờ - phút, giây, thế kỉ và năm, năm và tháng ngày.
e. Giải toán có lời văn.
- Giải bài toán có hai hoặc ba bước tính, có sử dụng phân số.
- Giải toán có liên quan đến tìm hai số khi biết tổng , hiệu hoặc tỉ của
chúng. Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của chúng.
1.3.2. Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4
- Tri giác:
Đặc điểm tri giác của học sinh tiểu học là tri giác trực tiếp, mang tính
cảm xúc, cụ thể, ít đi sâu vào bản chất của sự vật hiệm tượng. Ở các lớp đầu
18
cấp tri giác của các em thường gắn với hành động, sử dụng các giác quan để
tri giác.
Ở các lớp cuối cấp, tri giác của các em mang tính mục đích và rõ ràng
hơn. Lúc này tri giác trở thành hoạt động có phân tích, có văn hóa, mang tính
chất của sự quan sát có tổ chức. Trong sự phát triển tri giác, vai trò của người
giáo viên là rất lớn. giáo viên hằng ngày không chỉ dạy các khái niệm mà còn
dạy cho học sinh các kỹ năng hoạt động, phối hợp các giác quan, liên hệ
những gì đã học được để ngày càng nâng cao khả năng hiểu biết, các kỹ năng
hoạt động một cách thành thạo.
- Chú ý.
Chú ý của học sinh về chú ý không chủ định, học sinh thường chú ý đến
những cái mới lạ, hấp dẫn, trực quan sinh động. Sự chú ý của học sinh thường
hướng ra bên ngoài hành động, chưa có khả năng hướng vào bên trong và tư
duy.
Ở lớp 4,5 chú ý có chủ định đã xuất hiện và ngày càng hoàn thiện trong
quá trình nhận thức của học sinh. Khả năng phát triển chú ý có chủ định, phát
triển tính bền vững, sự tập trung chú ý ở học sinh cuối cấp là rất cao. Bản thân
quá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủ
định, ý chí.
Chú ý có chủ định được phát triển cùng với động cơ học tập mang tính
xã hội cao, với sự trưởng thành về ý thức trách nhiệm đối với kết quả trong
trình học tập học sinh dần dần chuyển từ các mặt bên ngoài sự vật hiện tượng
đến nhận thức các thuộc tính bên trong của chúng. Điều này tọa ra những so
sánh, thao tác phân tích tổng hợp và suy luận đầu tiên. Hành động này còn sơ
20
đẳng với học sinh đầu cấp, tri giác đối tượng bằng hành động phân tích trực
quan trực tiếp. Học sinh cuối cấp có thể phân tích đối tượng mà không cần
hành động trực tiếp với đối tượng.
- Nhu cầu nhận thức.
Trong những năm đầu của bậc tiểu học, nhu cầu nhận thức của học sinh
pahts triển rõ nét. Đầu tiên là xuất hiện nhu cầu tìm hiểu sự việc riêng lẻ,
những hiện tượng riêng biệt (lớp 1,2), sau đó xuất hiện nhu cầu gắn liền với
sự phát hiện các nguyên nhân, quy luật, các mối quan hệ và quan hệ phụ
thuộc giữa các sự vật, hiện tượng ( lớp 3,4,5). Nếu như học sinh đầu cấp có
nhu cầu tìm hiểu các câu hỏi “cái đó là cái gì?” thì ở các lớp cuối cấp có nhu
cầu giải quyết các câu hỏi “tại sao?” và “như thế nào?”.
Nhu cầu nhận thức là nhu cầu tinh thần có ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ.
Nếu học sinh không có nhu cầu nhận thức thì cũng không có tính tích cực trí
tuệ, mà tính tích cực trí tuệ rất cần thiết cho kỹ năng. Nếu học sinh chỉ học để
đối phó thì khi một kỹ năng nào đó đã được hình thành, nếu học sinh không
tích cực rèn luyện thì kỹ năng đó sẽ dần dần mất đi.
Khi có nhu cầu nhận thức, học sinh sẽ huy động toàn bộ kiến thức, kỹ
năng đã có để giải quyết một vấn đề nào đó. Khi nhu cầu đó không thỏa mãn
thì học sinh sẽ bứt rứt, khó chịu. Nhu cầu nhận thức khi đã được thỏa mãn với
đối tượng này thì nó lại hướng đến một đối tượng khác phức tạp hơn, đòi hỏi
người học phải có sự sáng tạo cao hơn, làm cho trí tuệ của học sinh được phát
triển không ngừng.
1.3.3. Hứng thú học tập môn Toán của học sinh lớp 4
1.3.3.1. Khái niệm:
- Trước hết cần xác định đối tượng của hứng thú học tập Toán:
Đối với mỗi môn học nói chung và môn Toán nói riêng thì hứng thú học tập