Quản lí giáo dục kĩ năng sống cho Học sinh trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo Nam Định trong giai đoạn hiện nay ( Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HỮU ĐỨC QUẢN LÍ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRẦN HƢNG ĐẠO NAM ĐỊNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
( THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP )

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 05
như cung cấp những dữ liệu, thông tin trong luận văn.
Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô, các
anh chị bạn bè đồng nghiệp quan tâm góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn.
Trân trọng!

Hà Nội, tháng 11 - 2010
Tác giả
Nguyễn Hữu Đức

3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CBQL Cán bộ quản lí
GD Giáo dục
GDKNS Giáo dục kĩ năng sống
GV Giáo viên
GVCN Giáo viên chủ nhiệm
HĐGDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
HS Học sinh
HSTHPT Học sinh trung học phổ thông
KNS Kĩ năng sống
Nxb Nhà xuất bản
PH Phụ huynh

việc giáo dục rèn luyện KNS cho HSTHPT ………………….42
Biểu đồ 2.2: Nhận định của GV,PH, HS về ý thức rèn luyện KNS
của HS thông qua HĐGDNGLL …………………………… 44
Biểu đồ 2.3: Nhận định của GV,PH và HS về việc rèn luyện KNS
cho HS thông qua HĐGDNGLL …………………………….45
Bảng 2.5: Số HS tham gia vào các công việc của HĐGDNGLL ……….46
Bảng 2.6 : Nhận định của GV,PH và HS về các nguyên nhân việc quản lí
GDKNS cho HS thông qua các HĐGDNGLL chưa tốt …… 55
Bảng 3.1 Sự cần thiết của các biện pháp quản lí GDKNS cho HS
qua các HĐGDNGLL ……………………………………… 76
Bảng 3.2 : Tính khả thi của các biện pháp quản lí GD KNS cho HS
trong các HĐGDNGLL ………………………………………78
5
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
4
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4
4. Giả thuyết nghiên cứu
4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

17
1.3. Ý nghĩa của GDKNS cho HSTHPT trong giai đoạn hiện nay
18
1.3.1. GDKNS góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện của trường THPT
18
1.3.2. Giáo dục KNS là quá trình chuẩn bị hành trang cho học sinh
thích ứng với những thách thức của cuộc sống hội nhập và phát triển

19
1.4.Vai trò của quản lí GDKNS cho HS trong trường THPT thông qua
HĐGDNGLL

20
1.4.1. Quản lí GDKNS sẽ nâng cao hiệu quả của GDKNS, nâng cao chất
lượng GD trung học phổ thông

20
1.4.2. Góp phần phát huy tiềm năng của nhà trường và xã hội, tạo ra sự
thống nhất trong hoạt động GDKNS nói riêng, thực hiện mục tiêu giáo
dục HSTHPT nói chung trong giai đoạn hiện nay 20
1.5. Những nội dung của quản lí GDKNS ở trường THPT thông qua 6
HĐGDNGLL
21
1.5.1. Xác định mục tiêu GDKNS cho học sinh THPT

NĂNG SỐNG Ở TRƢỜNG THPT TRẦN HƢNG ĐẠO NAM
ĐỊNH 35
2.1. Vài nét về trường THPT Trần Hưng Đạo thành phố Nam Định
35
2.2. Thực trạng nhận thức của các lực lượng về việc GD và quản lí GDKNS
36
2.2.1. Nhận thức về tầm quan trọng của việc GDKNS
37
2.2.2. Thực trạng nhận thức về những KNS cần GD cho HSTHPT
39
2.2.3.Thực trạng nhận thức về vai trò, ý nghĩa của HĐGDNGLL trong
việc GD rèn luyện KNS cho HS ở trường THPT

41
2.3.Thực trạng việc GD rèn luyện KNS cho HS ở trường THPT Trần
Hưng Đạo Nam Định.

44
2.4. Thực trạng việc quản lí GDKNS cho HS ở trường THPT Trần Hưng
Đạo Nam Định .

47
2.5.Những ưu điểm, những tồn tại trong việc quản lí GDKNS cho HS
trường THPT Trần Hưng Đạo trong thời gian vừa qua.

50
2.6. Nguyên nhân của thành công và tồn tại trong việc quản lí GDKNS

Hưng Đạo Nam Định

62
3.2.1. Quản lí xác định mục tiêu, nội dung giáo dục KNS cho HSTHPT
phù hợp với đặc điểm điều kiện Nam Định

62
3.2.2. Tổ chức xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch tổng thể việc
giáo dục KNS phù hợp với các khối lớp HSTHPT

64
3.2.3. Quản lí kế hoạch bồi dưỡng nhận thức và trang bị phương pháp
GD KNS cho các chủ thể tham gia GD KNS

66
3.2.4. Kế hoạch hóa việc sử dụng các nguồn lực phục vụ giáo dục KNS
trong và ngoài nhà trường

69
3.2.5. Quản lí việc xây dựng quy trình kiểm tra đánh giá hiệu quả của
hoạt động giáo dục KNS cho HS

72
3.3. Khảo sát tính khả thi và sự cần thiết của các biện pháp đề xuất
75
Tiểu kết chương 3
80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
81
1. Kết luận

nghề, từng vùng, sẽ luôn đòi hỏi kĩ năng giao tiếp và hợp tác, kĩ năng giải
quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và công việc. Như vậy việc giáo
dục kĩ năng sống (GDKNS) không những thúc đẩy sự phát triển cá nhân mà
còn thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chất
lượng cuộc sống xã hội và giảm các vấn đề tiêu cực trong xã hội.
1.2. Xuất phát từ đặc điểm của học sinh trung học phổ thông
Với độ tuổi 15-19 học sinh (HS) bậc trung học phổ thông (THPT) rất
nhạy cảm hiếu động, ham thích cái mới, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích
tìm tòi khám phá, có nhu cầu tự khẳng định mình và mong muốn được
người lớn thừa nhận, tôn trọng. Mặt khác ở lứa tuổi này các em vẫn hồn
nhiên, “ ăn chưa no, lo chưa tới “ của tính trẻ con, hay đua đòi, dễ bị cám dỗ

2
kích động. Các em thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống,
chưa có kinh nghiệm đối xử, ứng phó với những tình huống đa dạng phức tạp
của thực tiễn. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường
hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích
cực và tiêu cực, luôn được đặt vài hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải
đương đầu với những khó khăn thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu không
được GDKNS, nếu thiếu KNS, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực,
bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về
nhân cách. Các hiện tượng tiêu cực của một bộ phận HS phổ thông trong thời
gian qua, như : bạo lực học đường, đua xe máy, nghiện hút, một phần là do
các em thiếu các KNS cần thiết như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng từ chối, kĩ
năng kiên định,…Vì vậy GDKNS đối với HS là một đòi hỏi cấp thiết, giúp
các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình cộng
đồng. Nếu tổ chức quản lí GDKNS một cách khoa học, hợp lí chính là giúp
các em có hành trang tự khẳng định, vững vàng tự tin trước sự lựa chọn giữa
cái tốt và cái xấu, giữa tích cực và tiêu cực, giữa cái nên cần làm và cái cần
tránh; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của

có những biểu hiện không lành mạnh như bạo lực học đường, nghiện hút, đua
xe máy, thậm trí còn mắc cả tội phạm,… đã gây ra sự lo lắng bức xúc trong
dư luận xã hội, sự trăn trở thường xuyên của ngành GD, những người mang
trọng trách cao cả làm thầy.
1.4. Xuất phát từ yêu cầu GDKNS đối với HSTHPT Nam Định
Các trường THPT của thành phố Nam Định cũng như trường THPT
Trần Hưng Đạo cũng không ngoài thực trạng chung trên. Việc GDKNS cho
HS chưa được quan tâm đúng mức, còn rất lúng túng, mỗi trường, mỗi lớp
thực hiện một kiểu một cách. Mặt khác sự chỉ đạo chung từ Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định về nội dung các KNS cần thiết,
cách thức tổ chức hoạt động GDKNS cho các em chưa có văn bản hướng dẫn

4
chỉ đạo rõ ràng. Trường nào có thiên hướng mạnh về hoạt động nào thì tổ
chức hoạt động đó. Nhưng những hoạt động đó cũng chưa có mục đích, yêu
cầu GD trang bị các KNS cho HS một cách rõ ràng rành mạch. Trên thực tế
muốn nâng cao hiệu quả của GDKNS cần phải có sự thống nhất về nhận thức,
xác định thống nhất những KNS cần thiết, xác định cách thực hiện thống nhất
và cần có một kế hoạch hoạt động thống nhất.
Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên
cứu: “ Quản lí giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường trung học phổ
thông Trần Hưng Đạo Nam Định trong giai đoạn hiện nay( thông qua hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp) ” làm luận văn tốt nghiệp cao học quản lí.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đề xuất những biện pháp quản lí GDKNS cho HS
của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể : Các HĐGDNGLL để rèn luyện KNS cho HSTHPT
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lí hoạt động GDKNS cho
HSTHPT

- Về không gian : Lấy trường THPT Trần Hưng Đạo Nam Định làm địa
bàn nghiên cứu là chủ yếu.
- Đối tượng điều tra khảo sát : Cán bộ quản lí (CBQL), GV, HS, phụ
huynh học sinh (PHHS) một số trường THPT ở thành phố Nam Định, trong
đó có trường THPT Trần Hưng Đạo.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Thu thập, nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, như:
các văn bản của Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở Giáo dục và
Đào tạo Nam Định, của nhà trường; các sách báo, các bài viết của các nhà
nghiên cứu, các nhà giáo dục học,

6
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng hệ thống câu hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
7.3. Phương pháp xử lí thông tin dữ liệu
- Dùng thống kê toán học
- Phần mềm tin học
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của quản lí GDKNS cho HSTHPT
Chƣơng 2 : Thực trạng của việc quản lí GDKNS cho HS ở trường
THPT Trần Hưng Đạo Nam Định
Chƣơng 3 : Một số giải pháp quản lí GDKNS cho HS trường THPT
Trần Hưng Đạo thông qua các HĐGDNGLL.


như an toàn giao thông, sức khỏe, Đặc biệt ngày 22/7/2008 Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã có chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT về việc phát động

8
phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong
các nhà trường phổ thông giai đoạn 2008-2013. Trong năm nội dung của
phong trào thi đua, có nội dung rèn luyện KNS cho HS với những kĩ năng khá
cụ thể.
Xã hội càng phát triển, khoa học kĩ thuật càng tiến bộ thì nhu cầu học
tập của con người càng lớn. Người ta có nhu cầu muốn học để hiểu biết, để
làm việc, để sống tốt hơn để tự khẳng định mình, để mong có cơ may và để
hòa nhập vào cộng đồng ngày càng văn minh tiến bộ. Vì vậy các nhà trường
hiện nay cùng với việc trang bị cho HS các kiến thức còn cần phải trang bị
cho các em sự hiểu biết các giá trị, các kĩ năng để đảm bảo hạnh phúc cho bản
thân, cho mọi người và đóng góp tích cực cho đất nước cũng như thế giới.
GDKNS là việc đòi hỏi sự tham gia của cả gia đình, nhà trường và xã hội.
Tuy nhiên việc GD kĩ năng tại các trường học chỉ mới dừng lại ở các tiết học
về GD công dân hay sự lồng ghép trong một số HĐGDNGLL. Mục đích của
GDKNS cho HS trong các giờ giảng, trong các hoạt động chưa được xác định
đúng mức, rõ ràng vì thế hiệu quả của việc GDKNS cho các em còn nhiều
hạn chế. Đặc biệt nghiên cứu quản lí GDKNS thông qua các HĐGDNGLL
còn chưa có ai nghiên cứu nhất là ở thành phố Nam Định, nhằm tạo ra sự
thống nhất toàn xã hội.
Đề tài nghiên cứu của tác giả với mong muốn nâng cao hiệu quả quản lí
việc GDKNS thông qua các HĐGDNGLL, tạo ra sự thống nhất nhận thức và
hành động một cách hệ thống trong nhà trường.
1.2. Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc quản lí GDKNS cho HSTHPT có
những khái niệm mang tính khoa học liên quan đến đề tài, như: Quản lí, quản
lí giáo dục, quản lí nhà trường, chức năng quản lí giáo dục, kĩ năng sống, giáo

mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định.

10
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng:
- Định nghĩa quản lí một cách kinh điển nhất là: tác động có định
hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí( người quản lí ) đến khách thế quản lí(
người bị quản lí ) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt
được mục đích của tổ chức. [10, tr.1]
- Ngày nay hoạt động quản lí được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá
trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức
năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.[10, tr.1]
Theo tác giả Trần Khánh Đức: “ Quản lí là hoạt động có ý thức của con
người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành
động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt dược các mục tiêu
đề ra một cách hiệu quả nhất “. [16, tr.328]
Bất cứ một hệ xã hội nào cũng được xem như là một hệ quản lí: một
nhà máy, một xí nghiệp, một trường học hay một quốc gia Mỗi hệ quản lí
bao gồm hai bộ phận gắn bó khăng khít với nhau:
- Bộ phận quản lí ( giữ vai trò chủ thể quản lí ) có chức năng điều khiển
hệ quản lí, làm cho nó vận hành với mục tiêu đã đặt ra.
- Bộ phận bị quản lí (đối tượng quản lí- giữ vai trò khách thể quản lí )
gồm những người thừa hành trực tiếp sản xuất và bản thân quá trình sản xuất.
Trong quản lý chủ thể quản lý và đối tượng quản lý lại có mối quan hệ
hữu cơ, tác động qua lại với nhau nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Khi
mục tiêu của tổ chức thay đổi sẽ tác động đến đối tượng quản lý thông qua
chủ thể quản lý.
Từ sự phân tích cách tiếp cận và quan niệm của các học giả đã nêu ta có
thể hiểu: Quản lí là tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lí
đến khách thể quản lí nhằm đưa hệ thống đạt đến mục tiêu đã định và làm
cho nó vận hành tiến lên một trạng thái mới về chất.

thức, hợp quy luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các
khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan
trong hệ thống giáo dục, đảm bảo cho sự phát triển và mở rộng hệ thống
cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.
Theo nghĩa tổng quan, quản lí giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp
các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu
phát triển xã hội. Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên,
xây dựng một xã hội học tập và học tập suốt đời, thì công tác giáo dục không
chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo
dục thế hệ trẻ cho nên quản lí giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống
giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
1.2.3. Khái niệm quản lí nhà trường
Quản lí nhà trường là một bộ phận trong quản lí GD. Trường học là tổ
chức GD mang tính quyền lực nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác GD
đào tạo, thực hiện việc giáo dục cho thế hệ trẻ. Trường học là tế bào cơ sở,
chủ chốt và cơ bản của tất cả các cấp quản lí nhưng lại vừa là hệ thống độc
lập tự quản của xã hội. Vì thế quản lí trường học vừa có tính nhà nước, vừa có
tính xã hội.
Theo tác giả Hà Nhật Thăng, quản lí nhà trường là quản lí quy trình (từ
mục tiêu, nội dung, kiểm tra đánh giá) và quản lí các điều kiện thực hiện các
quá trình đó như đội ngũ GV, các trang thiết bị, phương tiện, không gian,
thời gian thực hiện mục tiêu và nội dung chương trình.[29]
Tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lí GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với
ngành GD, với thế hệ trẻ và từng HS.[16]
Theo tác giả Nguyễn Trọng Hậu, có thể hiểu quản lí nhà trường là tổ
chức hoạt động dạy học; có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được

13

- Phối hợp (Co-ordinating)
- Kiểm tra (Controlling )
Theo quan điểm của tổ chức UNESCO, hệ thống chức năng quản lí bao
gồm 8 vấn đề sau : - Xác định nhu cầu
- Thẩm định và phân tích dữ liệu
- Xác định mục tiêu
- Kế hoạch hóa
- Triển khai công việc
- Điều chỉnh
- Đánh giá
- Sử dụng liên hệ ngược và tái xác định các vấn đề cho quá
trình quản lí tiếp theo.
Còn theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, có bốn
chức năng chủ yếu, cơ bản như sau:
- Kế hoạch hóa
- Tổ chức
- Lãnh đạo (chỉ đạo )
- Kiểm tra [10]
Hoạt động quản lí nói chung và quản lí GD nói riêng rất phức tạp, đa
dạng với nhiều chức năng khác nhau. Theo quan điểm phân loại khác nhau có
thể còn có những cách trình bày các chức năng quản lí ( hoặc chức năng quản
lí giáo dục) khác nữa, nhưng tựu chung lại nền tảng của vấn đề vẫn là bốn
chức năng cơ bản theo quan điểm hiện đại: Kế hoạch hóa – Tổ chức – Lãnh
đạo và chỉ đạo – Kiểm tra. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, bốn chức năng cơ
bản nêu trên cũng là nội dung của hoạt động quản lí nói chung hay quản lí GD
nói riêng. Các chức năng có sự liên kết hữu cơ, chặt chẽ trong một hệ thống
nhất quán và bổ sung cho nhau, không thể tách rời các chức năng. Nhân tố
gắn kết nội dung- chức năng quản lí chính là quyết định, điều chỉnh, thông

15


16
Phân tích các quan niệm trên cho thấy: Quan niệm của WHO nhấn mạnh
đến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi
tích cực khi tương tác với người khác, với môi trường của mình.Quan niệm
này mang tính khái quát, chưa thể hiện rõ các kĩ năng cụ thể.Quan niệm của
UNESCO là quan niệm khá chi tiết cụ thể có nhấn mạnh thêm kĩ năng thực
hiện công việc và nhiệm vụ. Còn quan niệm của UNICEF thì nhấn mạnh : kĩ
năng không hình thành, tồn tại một cách độc lập mà hình thành, tồn tại trong
mối tương tác mật thiết có sự cân bằng với kiến thức và thái độ.
Từ những quan niệm trên đây, chúng ta có thể thấy KNS chính là kĩ năng
tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc
sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói một cách khác, KNS là khả năng làm
chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác,
với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
1.2.6. Giáo dục kĩ năng sống
Từ khái niệm KNS được nêu ở trên, ta thấy KNS bao gồm một loạt các
kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Khi đã có
KNS cơ bản cần thiết, nhất là năng lực hành động, năng lực thực tiễn các em
sẽ bình tĩnh chủ động sáng tạo và tích cực hơn khi tham gia các hoạt động
trong học tập, lao động, sinh hoạt hàng ngày của cuộc sống.
Như vậy GDKNS chính là quá trình hình thành, rèn luyện và phát triển
cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những
người xung quanh trong cộng đồng xã hội và ứng phó tích cực trước các tình
huống trong cuộc sống.
1.2.7. Quản lí giáo dục KNS
Theo các nhà tâm lí học, giáo dục học, sự phát triển của mỗi con người để
trở thành một nhân cách là một diễn biến phức tạp, bị chi phối bởi các yếu tố :
sinh học - môi trường - hoạt động - giáo dục.[32]
Con người sống luôn luôn hoạt động. Hoạt động là phương thức tồn tại và


18
Trên cơ sở những ý kiến nêu ra trên đây, chúng ta có thể nhận thấy rằng :
HĐGDNGLL là một hoạt động GD được thực hiện một cách có mục
đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp phần thực thi quá trình đào tạo HS,
đáp ứng những nhu cầu đa dạng của đời sống xã hội. Hoạt động này do nhà
trường quản lí, tiến hành ngoài giờ học trên lớp. Nó dược tiến hành xen kẽ
hoặc nối tiếp chương trình dạy học trong phạm vị nhà trường hoặc trong đời
sống xã hội, được diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép
kín quá trình GD, làm cho quá trình đó có thể được thực hiện mọi nơi, mọi
lúc. HĐGDNGLL rất đa dạng và phong phú về các loại hình hoạt động được
nhà trường, các đoàn thể, các tiểu ban hoạt động tổ chức nhằm hình thành và
phát triển nhân cách toàn diện cho HS, đặc biệt phát triển xúc cảm, tình cảm,
niềm tin, hình thành lối sống, phát triển các KNS, các năng lực của con người
Việt Nam thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó chính là 8 năng lực: năng
lực tự hoàn thiện, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực thích ứng, năng lực
hợp tác và cạnh tranh, năng lực tổ chức quản lí, năng lực hoạt động chính trị
xã hội, năng lực nghiên cứu khoa học,năng lực lao động nghề nghiệp chuyên
biệt xã hội.[26]
1.3. Ý nghĩa của GDKNS cho HSTHPT trong giai đoạn hiện nay
1.3.1. GDKNS góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện của trường THPT
Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
phát triển xã hội. Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện.
Luật GD năm 2005, Điều 2 đã xác định:” Mục tiêu của giáo dục phổ thông
là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức
khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực
công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status