BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
PHAN THANH VÂN
GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử giáo dục
Mã số: 62 14 01 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
THÁI NGUYÊN - 2010
- Thư viện trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Phan Thanh Vân (2004), "Giáo dục ý thức hành vi pháp luật cho học sinh",
Tạp chí Giáo dục, số 83, Chuyên đề Quý 1 năm 2004.
2. Phan Thanh Vân (2009), "Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong phong
trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”", Tạp chí Giáo dục,
số 214, kỳ 2-5/2009.
3. Phan Thanh Vân (2009), "Giáo dục kỹ năng sống - Điều cần thiết với trẻ em",
Tạp chí Giáo dục, kỳ 1-11/2009.
4. Phan Thanh Vân (2010), "Tích hợp mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp", Tạp chí Giáo dục, số 239, kỳ 1, tháng 6/2010.
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế đã
và đang tạo ra những tác động đa chiều, phức tạp ảnh hưởng đến quá trình hình thành
và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ. Thực tiễn này khiến các nhà giáo dục và các
quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục kĩ năng sống (KNS) cho
thế hệ trẻ, trong đó có học sinh THPT. Nhận thức về KNS, cũng như việc thể chế hóa
giáo dục KNS trong giáo dục phổ thông ở Việt Nam chưa thật cụ thể, đặc biệt về
hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở các cấp, bậc học còn hạn
chế. Những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng gia tăng,
đặc biệt là ở các đô thị và thành phố lớn. Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến
tình trạng trên. Một trong những nguyên nhân đó là học sinh THPT chưa được tiếp
cận với chương trình giáo dục KNS; việc khai thác thế mạnh của hoạt động giáo dục
NGLL để thực hiện giáo duc kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường còn hạn
chế. Đó cũng là lý do để tác giả lựa chọn đề tài luận án với tiêu đề: "Giáo dục kỹ
đương đầu với cảm xúc, căng thẳng và kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực.
- Thực nghiệm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp được thực hiện với chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp lớp 10, lớp 11 THPT.
6.2. Về địa bàn nghiên cứu
Các nghiên cứu được triển khai tại Thành phố Hồ Chí Minh với 3 trường trung
học phổ thông đại diện cho 3 khu vực phát triển của thành phố: khu vực thành phố,
khu vực nông thôn và khu vực có nhiều khó khăn.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận: Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử và các tiếp cận hệ thông, tiếp cận tích hợp.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp,
khái quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng khung lý thuyết của đề tài luận án.
7.2. 2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi., phương pháp phỏng vấn; phương pháp
chuyên gia; phương pháp trắc nghiệm, phương pháp thực nghiệm để tường minh thực
trạng và kết quả nghiên cứu nhằm chứng minh cho giả thuyết khoa học.
3
7.2.3. Phương pháp hỗ trợ
- Phương pháp quan sát: Nghiên cứu thực trạng và kết quả nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê toán học: Dùng để xử lý các kết quả thực nghiệm sư phạm và kết
quả điều tra bằng phiếu hỏi.
8. Những luận điểm bảo vệ
- Giáo dục kỹ năng sống là mục tiêu, nhiệm vụ trong nhiệm vụ giáo dục nhân cách
toàn diện của giáo dục THPT.
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo dục ngoài
10. Bố cục của luận án
Luận án gồm 145 trang, trong đó: Mở đầu (8 trang). Chương 1: Cơ sở lý luận và
thực tiễn (59 trang); Chương 2: Biện pháp giáo dục KNS cho học sinh THPT thông
qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (37 trang); Chương 3: Thực nghiệm sư
phạm (29 trang). Kết luận và kiến nghị (3 trang). Các công trình khoa học đã công bố
có liên quan đến luận án (1 trang). Tài liệu tham khảo (8 trang). Phần phụ lục (27
trang). Luận án trình bày 28 bảng, 3 biểu đồ và 2 đồ thị.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Những nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống trên thế giới khá phong phú. Theo
tổng thuật của UNESCO, có thể khái quát những nét chính trong các nghiên cứu này
như sau: Nghiên cứu xác định mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống; Nghiên cứu
xác định chương trình và hình thức giáo dục kỹ năng sống. Chương trình, tài liệu giáo
dục kĩ năng sống được thiết kế cho giáo dục không chính quy là phổ biến và rất đa
dạng về hình thức.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
- Chủ yếu các đề tài phân tích làm rõ thực trạng trước tính cấp bách của vấn đề
kĩ năng sống, chưa tập trung giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu lí luận một cách
có hệ thống về phương pháp, hình thức giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, sinh viên
nói chung và học sinh trung học phổ thông nói riêng.
5
- Các đề tài đã đề cập đến những hình thức giáo dục kĩ năng sống cụ thể và chưa
có kết quả thử nghiệm rõ ràng, cụ thể nên tính thuyết phục chưa cao. Một số đề tài
nghiên cứu tương đối đầy đủ các nhiệm vụ: nghiên cứu lí luận, đánh giá thực trạng và
hoạt động giáo dục đã trình bày trong luận án, tác giả luận án quan niệm, giáo dục
KNS là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển
để học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức (cái học sinh biết) và thái độ, giá trị (cái
học sinh nghĩ, cảm thấy, tin tưởng) thành hành động thực tế (làm gì và làm cách nào)
một cách tích cực và mang tính chất xây dựng.
Giáo dục KNS cho học sinh là giáo dục cho các em có cách sống tích cực trong xã
hội hiện đại, là xây dựng hoặc thay đổi ở các em các hành vi theo hướng tích cực phù
hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học dựa trên cơ sở giúp học
sinh có tri thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp.
1.2.2. Sự cần thiết phải giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT và các thành tố cấu
trúc của giáo dục KNS cho học sinh THPT
1.2.2.1. Sự cần thiết phải giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT
Giáo dục KNS cho học sinh do yêu cầu tất yếu được đặt ra từ các phương diện
sau: Theo yêu cầu xã hội; theo quan điểm giáo dục; theo góc độ văn hoá, chính trị,
theo yêu cầu của sự phát triển bền vững.
1.2.2.2. Các thành tố cấu trúc của giáo dục KNS cho học sinh THPT
Giáo dục KNS cho học sinh THPT cũng như các quá trình, hoạt động giáo dục khác
trong trường THPT đều có cấu trúc xác định, trong đó các thành tố mục tiêu, nội dung
và phương pháp là những thành tố tạo sự khác biệt giữa giáo dục KNS với các quá trình,
hoạt động giáo dục khác.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng và đặc điểm của giáo dục KNS cho học sinh THPT
ở các thành phố lớn
1.2.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục KNS cho học sinh THPT
- Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
- Các yếu tố thuộc về chương trình giáo dục THPT
- Các yếu tố thuộc môi trường gia đình và xã hội
1.2.3.2. Đặc điểm của giáo dục KNS cho học sinh THPT ở các thành phố lớn
Từ đặc điểm về phát triển kinh tế xã hội, phát triển giáo dục của các thành
phố lớn, có thể xác định 2 đặc điểm chính của giáo dục KNS cho học sinh THPT ở
trong xã hội.
* Nhiệm vụ giáo dục về kỹ năng
Tiếp tục rèn luyện các kĩ năng cơ bản đã được hình thành từ THCS để trên cơ sở đó
phát triển một số năng lực chủ yếu như: Năng lực tự hoàn thiện, khả năng thích ứng,
8
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng kiên định, năng lực hoạt động
chính trị - xã hội, năng lực tổ chức quản lí, năng lực hợp tác, chia sẻ, thương lượng
nhằm giúp học sinh sống một cách an toàn, khoẻ mạnh, thích ứng với cuộc sống
không ngừng biến đổi.
* Nhiệm vụ về thái độ
Giáo dục cho học sinh có lý tưởng sống vì ngày mai lập nghiệp, có niềm tin vào
tương lai, có ý thức và tinh thần tự hào dân tộc. Biết tỏ thái độ trước những vấn đề
của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân; đấu tranh tích cực với
những biểu hiện sai trái của bản thân và của người khác (để tự hoàn thiện mình); biết
cảm thụ và đánh giá cái đẹp trong cuộc sống. Bồi dưỡng cho các em tính tích cực,
chủ động sáng tạo tham gia vào các hoạt động tập thể của nhà trường và hoạt động xã
hội,giáo dục cho các em tinh thần đoàn kết hoà bình, hữu nghị.
1.3.1.3. Nội dung hoạt động giáo dục ngoài NGLL ở trường THPT
Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học phổ thông được
tiến hành theo các chủ đề lớn, mỗi chủ đề gồm nhiều nội dung chia nhỏ, chủ đề lớn được
thiết kế cho cả ba khối lớp, nhưng mục tiêu hoạt động, nội dung hoạt động ở các khối
lớp là không giống nhau mà được thiết kế theo cấu trúc đồng tâm theo đường xoáy trôn
ốc với mục tiêu, nội dung hoạt động ngày một nâng cao dần. Nội dung hoạt động được
thiết kế mang tính hệ thống, tính kế thừa, những kết quả hoạt động giáo dục ở lớp trước
là cơ sở, là tiền đề để tiến hành hoạt động giáo dục ở lớp sau, đồng thời những nội dung
hoạt động ở lớp sau nhằm củng cố các kết quả ở lớp dưới.
1.3.1.4. Đặc điểm của hoạt động giáo dục NGLL ở trường THPT
Nội dung hoạt động được tiến hành theo chủ đề, thông thường với các hoạt động thực
thông qua tổ chức hoạt động GDNGLL.
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo dục NGLL phải
đảm bảo xuất phát từ quyền và bổn phận của học sinh.
- Phát huy thế mạnh của hoạt động giáo dục NGLL để giáo dục KNS cho học sinh THPT.
1.4. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ
LÊN LỚP
1.4.1. Thực trạng KNS và nhu cầu được giáo dục KNS của thanh thiếu niên
1.4.2. Kết quả khảo sát thực trạng kỹ năng sống của học sinh trung học phổ thông
Để đánh giá về thực trạng giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đề tài đã tiến hành khảo sát trên 500 học sinh THPT
và 250 giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
10
1.4.2.1. Nhận thức của giáo viên và học sinh về KNS
Để tìm hiểu nhận thức của giáo viên và học sinh THPT về KNS, tác giả luận án đã
liệt kê những quan niệm khác nhau về KNS (trong đó có quan niệm chính xác, đầy đủ)
và đề nghị giáo viên, học sinh lựa chọn các quan niệm đó theo chính kiến của mình.
Kết quả khảo sát cho thấy: Tỷ lệ giáo viên có ý kiến đúng về KNS là 53,6%; số
ý kiến còn lại lựa chọn những nội dung tương tự như KNS nhưng không phải là KNS
(định nghĩa chính xác). Với học sinh, tỷ lệ ý kiến đúng chỉ có 13,2%. Như vậy, phần
lớn học sinh THPT chưa có nhận thức đúng về KNS.
Thực trạng về Sự tiếp nhận thông tin liên quan đến KNS của học sinh THPT: Kết
quả khảo sát cho thấy: Có 50,52% số học sinh tiếp nhận thông tin về các KNS và khái
niệm KNS ở mức độ thỉnh thoảng. Có 33,8% học sinh cho rằng chưa bao giờ nghe thấy
khái niệm KNS và tên các KNS cụ thể. Trong đó, các kĩ năng như: kĩ năng giải quyết
mẫu thuẫn một cách tích cực, kĩ năng đương đầu với cảm xúc có tỷ lệ học sinh khẳng
định “chưa bao giờ nghe thấy” cao nhất (62,4% và 46,8%). Trong các KNS được liệt
kê, có đến 57,6% số học sinh THPT được hỏi cho rằng thường xuyên nghe nhắc đến kĩ
năng này.
lớp chính là vận dụng quan điểm sư phạm tích hợp vào giáo dục KNS cho học sinh
trong trường THPT.
1.4.3.2. Về mức độ thực hiện giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt
động giáo dục NGLL
Nhìn chung giáo viên của các trường THPT có thực hiện giáo dục KNS cho học
sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL nhưng vẫn còn ở mức độ thấp. Số lượng
giáo viên ít thực hiện chiếm tới 100/250 người, có thực hiện chiếm 90/250 người,
thực hiện thường xuyên chiếm tỉ lệ ít nhất là 60/250 người.
1.4.3.3. Biện pháp giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo
dục NGLL
* Về cơ sở vận dụng các biện pháp
Trong tổng số 250 giáo viên khi được hỏi, chỉ có 40 người trả lời là họ sử dụng
các biện pháp đã được đào tạo vào để giáo dục KNS cho học sinh, còn 80 người nói
rằng các biện pháp giáo dục hiện tại của họ là do học được từ các bạn đồng nghiệp,
số còn lại 130 người chiếm tỉ lệ lớn nhất trả lời rằng họ sử dụng các biện pháp giáo
dục hiện tại đó là dựa vào kinh nghiệm cá nhân.
12
* Về mức độ tiếp cận các biện pháp
Phần lớn giáo viên đều có những hiểu biết về các biện pháp giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh. Tuy vậy, mức độ hiểu về các biện pháp có sự khác nhau. Biện pháp sử
dụng đồ vật tranh ảnh là nhiều người biết nhất, biện pháp đứng thứ 2 là biện pháp
đóng vai, thứ 3 là biện pháp tổ chức trò chơi, thứ 4 là tổ chức hoạt động nhóm, xếp
cuối cùng là biện pháp cung cấp kĩ năng sống thông qua hoạt động tổ chức để học
sinh tham gia.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
1. Khái niệm KNS được sử dụng trong nghiên cứu luận án là: “khả năng làm cho
hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có
thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống
hàng ngày”. Kỹ năng sống được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên “dù
2.2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
THPT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGLL
2.2.1. Tích hợp mục tiêu giáo dục KNS với mục tiêu của hoạt động giáo dục NGLL
2.2.1.1. Mục đích và ý nghĩa của biện pháp
Tích hợp mục tiêu giáo dục KNS vào mục tiêu của hoạt động giáo dục NGLL là
một trong số các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT theo quan
điểm giáo dục tích hợp.
2.2.1.2. Nội dung và cách thức hiện biện pháp
Tiếp cận nêu trên định hướng quá trình tích hợp mục tiêu giáo dục kĩ năng sống
vào mục tiêu của hoạt động giáo dục NGLL gồm các công việc sau:
- Thiết kế các mục tiêu của giáo dục kĩ năng sống.
- Phân tích các mục tiêu của hoạt động giáo dục NGLL để tích hợp mục tiêu của
giáo dục KNS.
- Thể hiện mục tiêu tích hợp của giáo dục KNS và hoạt động giáo dục NGLL.
2.2.1.3. Điều kiện để thực hiện biện pháp
2.2.2. Thiết kế các chủ đề giáo dục KNS phù hợp với các nội dung, hoạt động
thực hiện chủ đề của hoạt động giáo dục NGLL ở trường THPT
2.2.2.1. Mục đích và ý nghĩa của biện pháp
Biện pháp cho phép tạo ra nội dung giáo dục mang tính trọn vẹn, thống nhất giữa
nội dung giáo dục KNS và nội dung của hoạt động giáo dục NGLL.
14
2.2.2.2. Nội dung và cách thực hiện biện pháp
Việc thiết kế các chủ đề giáo dục KNS phù hợp với các chủ đề của hoạt động giáo dục
NGLL ở trường THPT được thực hiện qua các bước sau:
- Phân tích chương trình hoạt động giáo dục NGLL ở trường THPT để xác định
những chủ đề nào của chương trình có thể thiết kế được các chủ đề về giáo dục KNS.
- Thiết kế các chủ để giáo dục KNS để tích hợp vào nội dung hoạt động thực hiện
chủ đề của hoạt động giáo dục NGLL.
2.2.2.3. Điều kiện để thực hiện biện pháp
các môn giáo dục thể chất, giáo dục âm nhạc, giáo dục mỹ thuật trong nhà trường. Mối
quan hệ của nhà trường với cộng đồng và các đơn vị, cơ quan trên địa bàn trường cũng
là yếu tố quan trọng góp phần thực hiện tốt biện pháp này.
2.2.4. Các biện pháp hỗ trợ khác
2.2.4.1. Mục đích và ý nghĩa của các biện pháp
Các biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực cho các chủ thể tham gia vào quá
giáo dục KNS và tổ chức hoạt động giáo dục NGLL cho học sinh THPT đồng thời
phát triển các điều kiện để có thể thực hiện giáo dục KNS cho học sinh thông qua
hoạt động giáo dục NGLL có hiệu quả.
2.2.4.2. Nội dung và cách thực hiện
- Đổi mới quan niệm về giáo dục KNS; nâng cao nhận thức về quan điểm tích hợp
trong giáo dục KNS cho học sinh THPT.
- Tăng cường năng lực cho các chủ thể tham gia giáo dục KNS và tổ chức hoạt động
giáo dục NGLL trong trường trung học phổ thông.
- Phát huy tối đa vai trò chủ thể học sinh.
2.2.4.3. Điều kiện thực hiện
Đề thực hiện đồng bộ các biện pháp hỗ trợ nêu trên cần có các điều kiện:
- Ban giám hiệu các trường THPT phải xác định giáo dục KNS cho học sinh là
nhiệm vụ giáo dục toàn diện của nhà trường, từ đó có kế hoạch để chỉ đạo thực hiện
giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL.
- Các chủ thể tham gia vào giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động giáo
dục NGLL, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm, cán bộ đoàn chuyên trách trong nhà
trường phải được tập huấn về giáo dục KNS và hoạt động giáo dục NGLL.
16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua
hoạt động giáo dục NGLL, tác giả luận án đã xây dựng một số biện pháp để thực hiện
giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo dục NGLL. Các biện pháp
này phản ánh tương đối đầy đủ các yêu cầu của tích hợp giáo dục KNS cho học sinh
3.1.1.4. Phương pháp
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lí số liệu thu được qua phiếu trưng cầu ý
kiến và sử dụng phương pháp đánh giá của Trung tâm đào tạo quốc tế Crown Agents
(Worthing, Brightain, Vương quốc Anh) theo mức độ tác động của các nhóm đối
tượng tham gia thực hiện các biện pháp để phân tích định tính kết quả thu được.
3.1.2. Kết quả khảo nghiệm
3.1.2.1. Kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết của các biện pháp
Bảng 3.1: Kết quả tổng hợp ý kiến của các đối tượng về tính cấp thiết của các biện pháp
Biện pháp
Mức độ
Rất cấp
thiết
Cấp
thiết
Không
cấp thiết
1. Tích hợp mục tiêu giáo dục KNS với mục tiêu của
hoạt động giáo dục NGLL
75,8 22,2 2,0
2. Thiết kế các chủ đề giáo dục KNS phù hợp với các nội
dung, hoạt động thực hiện chủ đề của hoạt động giáo dục
NGLL ở trường THPT
73,9 24,7 1,4
3. Sử dụng linh hoạt các loại hình hoạt động, các hình
thức tổ chức hoạt động giáo dục NGLL để thực hiện
mục tiêu giáo dục KNS đã được tích hợp
77,2 22,2 0,6
4. Các biện pháp hỗ trợ khác 63,3 35,0 1,7
3.1.2.2. Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp
1 THPT Nguyễn Khuyến 50 50 100
2 THPT Bình Phú 46 46 92
Tổng 96 96 192
3.2.1.3. Nội dung thực nghiệm
Trên cơ sở đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp, lựa chọn thực
nghiệm sư phạm 2 biện pháp:
- Sử dụng linh hoạt các loại hình hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động giáo
dục NGLL để thực hiện mục tiêu giáo dục KNS đã được tích hợp.
19
- Thiết kế các chủ đề giáo dục KNS phù hợp với các nội dung, hoạt động thực hiện
chủ đề của hoạt động giáo dục NGLL ở trường THPT.
3.2.1.4. Tổ chức thực nghiệm
Thực nghiệm được thực hiện vào học kì I của năng học 2008-2009. Trước khi
thực nghiệm, chúng tôi đã tiến hành thu thập số liệu đầu vào (pre-test) ở các nhóm
đối chứng và thực nghiệm.
Thực nghiệm sư phạm áp dụng mô hình thực nghiệm dưới đây:
R1: O1 X O2
R2 O3 Y O4
Trong đó:
R1 là nhóm thử nghiệm
R2 là nhóm đối chứng
X là các biện pháp can thiệp thực nghiệm
Y là các tác động khác
O1, O2 là kết quả số liệu trước và sau thử nghiệm biện pháp của nhóm
thực nghiệm.
O3, O4 là kết quả số liệu trước và sau thử nghiệm biện pháp của nhóm
đối chứng (thời gian O1 trùng với O3 và thời gian O2 trùng với O4)
3.2.1.5. Tiêu chí và công cụ đánh giá
Để đánh giá kết quả thực nghiệm, chúng tôi sử dụng 2 hệ thống đánh giá:
TN 96 14,9 27,1 42,7 15,3 6,3579
ĐC 96 0,7 3,2 29,7 66,4 3,8724
Phân tích số liệu từ bảng 3.3 cho thấy: Cột EVA có nghĩa kiểm định thực hiện trong
giả định hai nhóm điểm số sau TN của nhóm TN và nhóm ĐC có cùng phương sai và
và sử dụng kiểm định S. Giá trị của Sig = 0,9 < 0,1 nên giả định trên bị bác bỏ (tại 95%
độ tin cậy), tức phương sai của hai nhóm là bằng nhau. Mức ý nghĩa ở phép kiểm tra
hai phía có giá trị = 0,02 < 0,05; do vậy giá trị T có ý nghĩa tại 95% độ tin cậy. Khác
biệt giá trị trung bình là 1,978 có nghĩa với 95% độ tin cậy thì trung bình điểm năng
lực sau thử nghiệm của nhóm ĐC thấp hơn nhóm TN là 0,1978. Sai số chuẩn của khác
biệt này là 0,01636. Khoảng tin cậy 95% cho sự khác biệt trung bình điểm số năng lực
trước TN của hai nhóm TN và ĐC từ 2,111 đến 2,578.
Bảng 3.4: Bảng kiểm định T cho nhóm ĐC và TN
sau khi tổ chức TN
Phép kiểm tra S
cho sự bằng
nhau của những
phương sai
Phép kiểm tra T cho
sự bằng nhau của những trung bình
F Sig T Df
Sig
(2-t)
MD Std.ED
95% CID
L U
EVA
- TN
- ĐC
21
Từ phân tích các số liệu trên dẫn đến kết luận rằng biến động phương sai về điểm
năng lực sau thực nghiệm của hai nhóm là có khác biệt nhau.
Điểm số trung bình về năng lực sau thực nghiệm của hai nhóm khác biệt có ý
nghĩa trong khoảng 95% độ tin cậy.
3.2.2.3. Phân tích nhóm thử nghiệm trước và sau thực nghiệm
Bảng 3.5: Phân phối tần suất kết quả trước và sau thực nghiệm
Lần N
Kết quả
kiểm tra (%)
Cấp độ 3
Cấp độ 2
Cấp độ 1
Cấp độ 0Trư
ớc TN
96
0,8
2,2
2,5897Nhìn vào bảng số liệu, chúng tôi thấy rằng nhận thức, thái độ và hành vi KNS
của học sinh THPT sau thử nghiệm cao hơn trước thử nghiệm. Tỷ lệ các học sinh
THPT có điểm số cấp độ 3 trước TN là 0,8%, còn sau TN là 14,9% (chênh lệch +
14,1%). Tỷ lệ các học sinh THPT có điểm số cấp độ 2 trước TN là 2,2%, còn sau
TN là 27,1% (chênh lệch + 24,9%). Tỷ lệ các học sinh THPT có điểm số cấp độ 1
trước TN là 25,9%, còn sau TN là 42,7% (chênh lệch + 16,8%). Tỷ lệ các học sinh
THPT có điểm số cấp độ 0 trước TN là 71,2%, còn sau TN chỉ là 15,3% (chênh
lệch - 55,9%). Điểm trung bình trước TN là 3,7682, sau TN là 6,3579 (chênh lệch
+ 2,5897).
3.3.2.3. Những thay đổi chung về KNS của học sinh THPT ở nhóm thực nghiệm
(về phương diện kiến thức, thái độ và kĩ năng)
Quá trình thực nghiệm đã khẳng định các biện pháp giáo dục KNS cho học sinh
THPT thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là khả thi, có tác động làm
thay đổi KNS của học sinh THPT về các phương diên: nhận thức, thái độ và hành vi.
Thông qua thực nghiệm, học sinh các lớp thuộc nhóm thực nghiệm đã được củng cố
các kĩ năng sống cơ bản là: Kĩ năng xác định giá trị; kĩ năng giao tiếp hiệu quả;
kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng; kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách
tích cực.
Với kết quả nêu trên, có thể khẳng định giả thuyết của thực nghiệm đã được
chứng minh.
22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Kết quả nghiên cøu khẳng định các biện pháp giáo dục KNS cho học sinh THPT
thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là khả thi, có tác động làm thay đổi
KNS của học sinh THPT về các phương diên: nhận thức, thái độ và hành vi.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ