MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đã bước vào thế kỉ XXI, thế kỉ của KH-KT và công nghệ. Nhờ khối
óc thông minh cùng đôi bàn tay khéo léo, con người không những chiếm lĩnh được
thế giới tự nhiên mà còn cải tạo nó để phục vụ nhu cầu phát triển vô tận của mình.
Và ở thời đại mới này, giáo dục ngày một phát triển lớn mạnh hơn để có thể đào tạo
những con người năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng cao, có năng lực giải
quyết vấn đề đặt ra từ cuộc sống, để có thể phục vụ cho xã hội. Trong “Thư gửi các
thầy giáo, cô giáo, các bậc cha mẹ và các em học sinh, sinh viên nhân ngày Nhà
giáo Việt Nam 20/11/2007”, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo – PGS.TS Nguyễn
Thiện Nhân đã nhắc nhở “Trong thế kỉ 21 của hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, của
xã hội thông tin và kinh tế tri thức, thời gian là tài nguyên vô giá, không thể tái tạo
được. Hãy làm sao mỗi giờ các em tới trường là một giờ khám phá, nhận thức được
nhanh sâu sắc thế giới tự nhiên, cuộc sống văn hóa, lịch sử dân tộc và nhân loại”.
Để đáp ứng đựợc những yêu cầu đó cũng như để có được những giờ học lý thú cho
các em học sinh, người giáo viên không những cung cấp cho học sinh những kiến
thức cơ bản trong sách giáo khoa mà cần phải có những biện pháp để phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng phương pháp tự học,
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Từ đó học sinh có thể trả lời được những
câu hỏi “Tại sao?” nảy sinh từ thực tiễn, tìm hiểu, khám phá những điều mới lạ về
cuộc sống và thế giới xung quanh.
Hóa học là một ngành khoa học thực nghiệm, có vai trò quan trọng trong cuộc
sống và cần thiết đối với các ngành khoa học công nghệ khác. Kho tàng kiến thức
hóa học vô cùng to lớn và ngày càng được mở rộng cùng với sự phát triển của nhân
loại. Nhưng trên thực tế thì giáo dục đang đứng trước một thực trạng là thời gian
học có hạn mà kiến thức nhân loại là vô hạn nên giáo viên không thể cung cấp hết
- Các chuỗi phản ứng có hình ảnh sinh động, mới lạ Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU
1.1. Mục tiêu học tập môn hóa học ở trƣờng THPT [6]
Môn hóa học trong trường THPT giữ một vai trò quan trọng trong việc hình
thành và phát triển trí dục của học sinh.
- Mục tiêu của việc học tập môn hóa học là trang bị cho các em những cơ sở
khoa học của hóa học ở mức độ cần thiết để họ có thể đi vào cuộc sống hoặc tiếp
tục lên bậc Đại học hoặc các trường chuyên nghiệp
- Giúp cho học sinh có được sự hiểu biết đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao
cho học sinh những tri thức, hiểu biết về thế giới, con người thông qua các bài học,
giờ thực hành…của hóa học.
- Hình thành cho học sinh phương pháp nghiên cứu hóa học, phát triển năng
lực quan sát và trí tưởng tượng khoa học.
- Học hóa để hiểu, giải thích được các vấn đề thực tiễn. Đồng thời là sự khởi
nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ cho đời sống con
người.
- Hóa học góp phần giải tỏa, xóa bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến đời
sống, tinh thần của con người, góp phần hình thành cho học sinh những quan điểm
thế giới quan khoa học, đạo đức và tình cảm của người lao động mới của đất nước.
1.2. Thực trạng học tập hóa học của học sinh THPT hiện nay [7]
Nhìn chung về thực trạng học tập môn hóa học của học sinh THPT hiện nay
thì có tới 28% học sinh khối lớp 10 yêu thích môn hoá học, và con số này đã tăng
lên tới 41,5% học sinh khối lớp 11, 12 yêu thích môn hoá học, 48% học sinh lớp 10
cho rằng môn hoá học là không quan trọng, nhưng ngược lại đối với học sinh lớp 11
và 12 chỉ có 39,5%. Các em yêu thích môn hóa do môn hóa có nhiều ứng dụng
trong thực tế, kế đến là môn hóa có nhiều thí nghiệm vui hấp dẫn. Ngược lại các em
điều đáng mừng cho nền giáo dục nước nhà vì còn có những học sinh ham học hỏi
có niềm say mê khoa học, yêu thích môn hóa học và biết vượt qua thử thách
Về cách học môn hóa của các em thì có khoảng 54,69% các em có phương
pháp học hóa tốt; học lý thuyết trước sau đó vận dụng vào việc giải bài tập. Môn
hóa là môn lý thuyết tương đối nhiều, các em làm bài tập, thực hành khi đã nắm vững lý thuyết. Vì vậy nên nắm vững lý thuyết trước khi làm bài tập. Cách học vừa
làm bài tập vừa xem lý thuyết cũng không hiệu quả vì các em sẽ quên. Có em lại bắt
tay vào làm bài ngay đến khi làm không được thì thôi và có em lại chỉ làm được
những bài mà giáo viên đã làm.
1.3. Phƣơng pháp dạy học hóa học và tình hình dạy học hóa học ở trƣờng
THPT hiện nay
Vấn đề phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh đã và đang là nhiệm
vụ đặt ra cho ngành giáo dục của nước ta. Việc phát huy tính tích cực của học sinh
là một trong các phương hướng cải cách, nhằm đào tạo những con người lao động
sáng tạo, làm chủ đất nước. Tuy nhiên, cho đến nay sự chuyển biến về phương pháp
dạy học ở các trường THPT chưa nhiều, phổ biến vẫn là cách dạy thông báo các
kiến thức định sẵn, cách học thụ động, sách vở. Tình trạng chung hàng ngày vẫn là
“ Thầy đọc – trò chép” hoặc giảng giải xen kẽ vấn đáp tái hiện, giải thích minh họa
bằng tranh
Các hình thức hoạt động của giáo viên và các phương pháp dạy mà giáo viên
sử dụng chưa nhằm vào yêu cầu tổ chức cho học sinh hoạt động, chưa chú trọng vào
việc hình thành phương pháp tư duy, rèn luyện cho học sinh năng lực sáng tạo.
Các phương pháp dạy học được sử dụng chưa thể hiện được phương pháp
nhận thức khoa học bộ môn, các phương tiện trực quan, phương pháp nghiên cứu
được sử dụng quá ít và chất lượng không cao. Đối với hóa học thì phương pháp
nhận thức khoa học đặc trưng là thí nghiệm hóa học thì chưa được thể hiện trong
nhiều giờ lên lớp, nếu có cũng chỉ là một số thí nghiệm minh họa do giáo viên thực
hiện, rất ít giờ học mà học sinh làm thí nghiệm, nhất là nhiều trường học ở các tỉnh
nhằm khắc sâu và vận dụng sáng tạo kiến thức
Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động tích cực sáng tạo của học sinh
+ Thường xuyên dạy cho học sinh giải quyết các vấn đề học tập (bài toán thực
nghiệm) và các vấn đề có liên quan đến thực tiễn từ thấp đến cao
+ Trong mỗi tiết dạy có thế cho học sinh tiếp xúc với các thí nghiệm hóa học
mang nội dung bài học, nhất là các thí nghiệm hóa học liên quan đến thực tế, các
thí nghiệm hóa học vui
+ Để nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học giáo viên nên kết hợp việc
dạy với việc mở rộng, giải thích các hiện tượng thực tiễn, có thể cung cấp cho học sinh một số thông tin về nhà hóa học, về nguồn gốc lịch sử của một số nguyên tố
khi dạy các bài có nội dung liên quan hoặc kèm theo đó là những câu đố vui về hóa
học hay thơ về hóa học với mục đích góp phần sao cho kiến thức hóa học trở nên dễ
hiểu, thiết thực và gần gũi với đời sống, sẽ giúp tiết học thêm phong phú, tạo sự
hứng thú cho các em trong giờ hóa học, đồng thời giúp các em hiểu nhanh, khắc sâu
và nhớ lâu kiến thức. Chƣơng 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC
TẬP CHO HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY BỘ MÔN HÓA HỌC
Ở TRƢỜNG THPT 2.1. Vai trò của một số biện pháp nâng cao hứng thú học tập cho học sinh
trong việc dạy học hóa học ở trƣờng phổ thông
Việc truyền đạt cho học sinh những kiến thức mới, cung cấp cho học sinh
những vấn đề hóa học gần gũi với cuộc sống, ở xung quanh ta, giáo viên có thể sử
dụng nhiều biện pháp khác nhau, thông qua những hình thức khác nhau, có thể đưa
vào khi giảng bài mới thông qua các câu hỏi, cách đặt vấn đề, có thể đưa thông tin
Chuẩn bị: Một chai nước không, màu thực phẩm, xà phòng rửa chén, dd
H
2
O
2
, dd KI
Cách tiến hành: Cho khoảng 20ml dung dịch H
2
O
2
vào chai. Sau đó cho xà
phòng rửa chén vào. Cho tiếp khoảng 2 giọt màu thực phẩm (xanh hoặc đỏ) vào và
tiếp tục cho một ít dung dịch KI vào hỗn hợp dung dịch trên. Hãy chờ điều lí thú
xảy ra
Giải thích: Theo nguyên tắc là phải dựa trên phản ứng phân hủy H
2
O
2
trong
môi trường xà phòng để có thể tạo bọt. Trên thực tế, H
2
O
2
là một chất tương đối
bền, vì vậy, để H
2
O
2
có thể tự phân hủy, cần phải có sự tham gia của các chất xúc
tác. Những xúc tác này thông thường là những kim loại như sắt hay oxit mangan.
2H
2
O
2
H
2
O + O
2
(Phần KI còn lại là chất xúc tác)
GV có thể sử dụng thí nghiệm này trong bài 42: Ozon và hiđro peoxit (Lớp 10
nâng cao)
Ví dụ 2: Mật thư Chuẩn bị: 1 tờ giấy trắng, dung dịch axit sunfuric loãng, đũa thủy tinh, đèn
cồn
Cách tiến hành: Dùng đũa thủy tinh chấm axit H
2
SO
4
loãng rồi viết nội dung
bức mật thư lên tờ giấy trắng, để cho khô. Sau đó giao bức thư cho học sinh giải
mã. Học sinh dùng đèn cồn hơ nóng tờ giấy thì nội dung sẽ hiện lên dưới dạng chữ
màu đen
Giải thích: Thí nghiệm này dựa trên tính háo nước của axit sunfuric đặc. Lúc
đầu, axit H
2
SO
4
vào cốc. Trên bề mặt viên nước đá cháy với ngọn lửa giống như những viên nước
đá đang cháy.
Giải thích: CaC
2
tác dụng với nước tạo khí C
2
H
2
CaC
2
+ 2H
2
O → C
2
H
2
+ Ca(OH)
2
Khí C
2
H
2
thoát lên mặt nước đá, khi đốt nó sẽ cháy trông giống hệt nước đá
cháy vậy.
2C
2
H
2
+ 5O
O → 2KOH + H
2
↑
Phản ứng trên tỏa nhiều nhiệt, làm cho khí H
2
thoát ra tự bốc cháy, đồng thời
NaOH (hoặc KOH) tạo thành làm cho phenolphtalein không màu chuyển sang màu
hồng.
Ví dụ 5: Điệu vũ Natri
Chuẩn bị: Cốc thủy tinh 100ml, dung dịch phenolphthalein, dầu hỏa, mẩu
natri
Cách tiến hành: Đổ 30 ml nước cùng vài giọt dung dịch phenolphtalein vào
một cốc dung tích 100 ml và rót 50 ml dầu hỏa sạch lên trên mặt nước. Lấy một
miếng natri cạo sạch, nhỏ bằng hạt đậu đặt cẩn thận lên lớp dầu hỏa. Natri chìm
xuống, nổi lên rồi lai chìm xuống, cứ như thế khoảng 10 – 20 lần cho đến khi miếng
natri tan hết. Trong khi đó lớp nước phía dưới từ trong suốt biến đổi thành màu
hồng
Giải thích: Natri nặng hơn dầu hỏa nên chìm xuống. Khi tiếp xúc với nước thì
natri lập tức tác dụng với nước giải phóng hiđro theo phương trình
2Na + 2H
2
O → 2NaOH + H
2
↑
Bọt khí hiđro bao bọc mẩu natri và đệm khí đó đã đẩy nó nổi lên lớp dầu hỏa.
Tại đây, các bọt khí tách ra và mẩu natri lại bị chìm xuống
Chú ý: Trong thí nghiệm trên, mẩu natri hoặc kali nhất thiết chỉ lấy được to
bằng hạt đậu xanh. Nếu lấy to hơn, phản ứng xảy ra mãnh liệt, sẽ nổ, nguy hiểm.
bởi oxi của không khí có Cr
2
O
3
làm xúc tác
4NH
3
+ 3O
2
→ 2N
2
+ 6H
2
O
Phản ứng xảy ra trên bề mặt của các hạt Cr
2
O
3
và tỏa nhiều nhiệt làm các hạt
này nóng sáng lên
GV có thể sử dụng thí nghiệm khi dạy về tính khử của NH
3
trong bài 11:
Amoniac và muối amoni (Lớp 11 nâng cao)
Ví dụ 7: Hiện tượng núi lửa phun trào
Chuẩn bị: 100g mạt sắt, bột lưu huỳnh, đĩa hoặc khay sắt, đất sét, que gỗ.
Cách tiến hành: Lấy 100 gam mạt sắt mịn cùng với 50 gam bột lưu huỳnh,
trộn kĩ và đổ vào một chút nước nóng cho tới khi hỗn hợp trở nên sền sệt. Sau đó,
đặt hỗn hợp lên một đĩa hoặc khay sắt và lấy đất sét nhào trộn với những hòn sỏi
nhỏ, đắp phủ lên hỗn hợp mạt sắt và lưu huỳnh sao cho giống như một ngọn núi thật
cách sâu sắc.
- Ôn tập hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất. Trong tiết ôn tập, học
sinh sẽ buồn chán nếu chỉ yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức.
- Giúp học sinh hiểu biết hơn về thiên nhiên, về môi trường xung quanh ta,về
các ngành sản xuất hóa học
- Rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống,
lao động sản xuất và bảo vệ môi trường.
- Phát triển ở học sinh các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát độc
lập, thông minh và sáng tạo
- Rèn luyện cho học sinh đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say
mê khoa học Hóa học. Câu hỏi thực tiễn, thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện
văn hóa lao động.
Ví dụ 1: Vai trò của Ozon trong đời sống và công nghiệp như thế nào?
Trả lời: Ozon có khả năng “cải tạo” nước thải, có thể khử các chất độc như:
phenol, hợp chất xianua, nông dược, chất trừ cỏ, các hơp chất hữu cơ gây bệnh…có
trong nước thải và Ozon có thể tác dụng với ion kim loại (sắt, thiếc, chì, mangan…)
biến nước thải thành nước sạch
Trên tầng cao khí quyển 10 – 30 km quanh trái đất, Ozon tồn tại thành một
tầng khí quyển riêng, có khả năng hấp thụ tia tử ngoại phát ra từ mặt trời. Vì các tia
tử ngoại làm cho người, động thực vật bị đột biến gen, gây bệnh nan y…Gần đây do
công nghiệp phát triển, các nhà máy xuất hiện khí thải, động cơ phản lực…thải vào
khí quyển một lượng bụi và khí ô nhiễm, thì Ozon lại góp phần oxi hóa chất gây ô
nhiễm, cũng chính vì vậy tầng Ozon bị mỏng dần. Trong vòng 50 năm gần đây,
lượng Ozon mỏng đi khoảng 1%, có một số nơi tầng Ozon bị thủng và gây ra không
ít hiện tượng như: bão, lũ lụt, cháy rừng, bệnh nan y…
Đây là vấn đề có liên quan đến giáo dục môi trường và qua bài học, học sinh
hiểu được tầm quan trọng của Ozon, vừa có ý thức bảo vệ môi trường và kích thích
mòn thủy tinh. Do thành phần chủ yếu của thủy tinh là silic đioxit SiO
2
nên khi cho
dung dịch HF vào thì có phản ứng xảy ra
SiO
2
+ 4HF → SiF
4
↑ + 2H
2
O
Đây là phần kiến thức mà bất kì học sinh nào cũng phải biết được sau khi học
bài Flo và hợp chất của nó. Học sinh biết giải thích và vận dụng trong thực tiễn
tránh việc dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF. GV có thể hỏi học sinh sau khi
dạy xong bài 34: Flo (Lớp 10 nâng cao)
Ví dụ 4: Tại sao khi cho vôi sống vào nước, ta thấy khói bốc lên mù mịt, nước
vôi như bị sôi lên và nhiệt độ hố vôi rất cao có thể gây nguy hiểm cho tính mạng
của người và động vật. Do đó cần tránh xa hố đang tôi vôi hoặc sau khi tôi vôi ít
nhất 2 ngày?
Trả lời:
Khi tôi vôi đã xảy ra phản ứng tạo thành canxi hiđroxit:
CaO + H
2
O
Ca(OH)
2
Phản ứng này xảy ra rất nhiều nhiệt nên làm nước sôi lên và bốc hơi đem theo
cả những hạt Ca(OH)
HNO
3
Hình 2: Mưa axit
2SO
2
+ O
2
+ 2H
2
O
2H
2
SO
4
2NO + O
2
2NO
2
4NO
2
+ O
2
+ 2H
2
O
CaSO
4
+ CO
2
↑ + H
2
O
CaCO
3
+ 2HNO
3
Ca(NO
3
)
2
+ CO
2
↑ + H
2
O
G V có thể đặt câu hỏi trên để mở rộng phần tính chất hóa học của axit hay
bazơ khi xảy ra phản ứng trung hòa, axit tác dụng với bazơ
Ví dụ 9: Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng, lâu ngày thấy xuất hiện
lớp cặn ở đáy ấm? Cách tẩy lớp cặn này như thế nào?
Trả lời: Trong tự nhiên, nước ở một số vùng nước cứng tạm thời – là nước
chứa các muối axit như: Ca(HCO
3
)
2
và Mg(HCO
3
)
2
Khi nấu nước lâu ngày thấy xảy ra phản ứng hóa học
Ca(HCO
3
)
2
CaCO
3
↓ + CO
2
↑ + H
2
O
Mg(HCO
3
S
tương đối cao. Chính lượng H
2
S sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi. Khi ta dùng Ag để đánh
gió thì Ag sẽ tác dụng với khí H
2
S. Do đó, lượng H
2
S trong cơ thể giảm và dần sẽ
hết bệnh. Miếng Ag sau khi đánh gió sẽ có màu đen xám.
4Ag + 2H
2
S + O
2
2Ag
2
S↓
(đen)
+ 2H
2
O
Hiện tượng “đánh gió” đã được ông bà ta sử dụng từ rất xa xưa cho đến tận
bây giờ để có thể chữa bệnh cảm. Cách làm này rất có cơ sở khoa học mà mọi
người cần phải biết. GV có thể nêu hiện tượng trên khi dạy bài 44: Hiđro sunfua
(Lớp 10 nâng cao)
Ví dụ 11: Tại sao nước máy thường dùng ở các thành phố lại có mùi khí clo?
Trả lời: Trong hệ thống nước máy thành phố, người ta cho vào một lượng nhỏ
khí clo vào để có tác dụng diệt khuẩn. Một phần khí clo gây mùi và một phần tác
thì
nồng độ cồn quá cao làm cho protein trên bề mặt vi khuẩn đông cứng nhanh hình
thành lớp vỏ cứng ngăn không cho cồn thấm vào bên trong nên vi khuẩn không
chết. Nếu nồng độ nhỏ hơn 75
0
thì hiệu quả sát trùng kém.
Trong y tế dùng cồn để sát khuẩn trước khi tiêm và rửa vết thương trở nên
thông dụng. Nhưng để giải thích được vì sao cồn có khả năng sát khuẩn thì không
phải ai cũng giải thích được. Trong bài giảng, nếu học sinh được giáo viên giải
thích thì sẽ rất hứng thú vì hóa học có những ứng dụng rất thực tế và các em sẽ
thêm yêu hóa học. GV có thể đề cập ở phần ứng dụng trong bài 54: Ancol – Tính
chất hóa học – Điều chế và ứng dụng (Lớp 11 nâng cao)
Ví dụ 13: Ông bà ta xưa nay luôn nhắc nhở con cháu câu: “Nhai kỹ no lâu”.
Tại sao khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt và no lâu?
Trả lời: Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến nước bọt
của người có các enzim. Khi nhai kĩ cơm trong nước bọt sẽ xảy ra sự thủy phân một
phần tinh bột thành mantozơ và glucozơ nên có vị ngọt.
GV có thể đề cập vấn đề trên ở phần nội dung phản ứng thủy phân của tinh bột
trong bài: Tinh bột (Lớp 12 nâng cao) nhằm cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản
của sự chuyển hóa tinh bột trong khi ăn. Học sinh cũng có thế kiểm nghiệm được
sau khi ăn.
Ví dụ 14: Vì sao gạo nếp lại dẻo ? Tinh bột là hỗn hợp của hai thành phần:
amilozơ và amilopectin. Hai loại này thường không tách rời nhau được. Trong mỗi
hạt tinh bột, amilopectin là vỏ bọc nhân amilozơ. Amilozơ tan được trong nước còn
amilopectin hầu như không tan, trong nước nóng amilopectin trương lên tạo thành
hồ. Tính chất này quyết định đến tính dẻo của hạt có tinh bột.
Trong mỗi hạt tinh bột, lượng amilopectin chiếm 80%, amilozơ chiếm khoảng
20% nên cơm gạo tẻ, ngô tẻ, bánh mì thường có độ dẻo bình thường. Tinh bột trong
gạo nếp, ngô nếp chứa lượng amilopectin rất cao, khoảng 90% làm cho cơm nếp,
xôi nếp,… rất dẻo, dẻo đến mức dính.
sử dụng những câu “tính kim loại đó là gì?”, “còn tính phi kim thì sao?” để phát
vấn, rồi dùng khẳng định với học trò qua những câu thơ đó. (Chương trình lớp 10) Ví dụ 3: Lai hóa obitan
Lai hóa s-p kể trên
Một p, một s là nên duyên rồi
Tạo hai obitan sánh đôi
Thẳng hàng thẳng lối, em ơi thật tài
Còn lai hóa s-p hai
1 s tổ hợp với 2 p mà
3 AO mới tạo ra
Nằm trên mặt phẳng, hướng ba đỉnh rồi
Của tam giác đều em ơi
Từ tâm tam giác, em thời nhớ ra
Kìa lai hóa s-p ba
1 s trộn lẫn với 3 p này
4 AO mới thật hay
Hướng ra 4 đỉnh từ ngay tâm mình
Hình tứ diện đều thật xinh
Góc kia tạo được một linh chín thừa.
GV sử dụng để củng cố về kiến thức lai hóa, giúp học sinh tự học (Chương trình
lớp 10)
Ví dụ 4: Chuyện sắt và HNO
3
Không! HNO
3
ơi!
Đừng oxi hóa tôi
3
, đặc biệt lưu ý cho học sinh phản ứng giữa
sắt và HNO
3
khi học bài về axit HNO
3
(Chương trình lớp 11) hoặc kim loại sắt
(Chương trình lớp 12)
Ví dụ 5: Phản ứng oxi hóa khử
Bài này nay đã học xong
Nắm các định nghĩa trong lòng bàn tay
Oxi hóa khử thật hay
Số oxi hóa đổi thay lạ kì
Có chất được chuyển e đi
Đương nhiên phải có chất gì nhận e
Mùa đông cho đến mùa hè
Nhớ trường, nhớ lớp, nhớ về thăm em
Để nghe em kể mà xem
Chất khử là chất cho e thế nào
Số e nhường đi là bao
Lấy sau trừ trước thế nào cũng ra
Chất oxi hóa là ta
Nhận e của chất khử mà em ơi
Oxi hóa khử đồng thời
Hai quá trình đó đời đời bên nhau.
GV tổng kết về bài phản ứng oxi hóa – khử (Chương trình lớp 10)
Ví dụ 6: Tính chất hóa học chung của nhóm halogen
Tính chất chung chính là oxi hóa
Nhận 1e nên số oxi hóa là 1 âm
Sắt màu trắng xám
Năm sáu có gì Fe = 56
Canxi dễ tìm
Bốn mươi vừa chẵn Ca = 40
Mangan vừa vặn
Con số năm lăm Mn = 55
Ba lăm phẩy năm
Clo chất khí Cl = 35,5
Phải nhớ cho kĩ
Kẽm là sáu lăm Zn = 65
Lưu huỳnh chơi khăm
Ba hai đã rõ S = 32
Chẳng có gì khó
Cacbon mười hai C = 12 Nghĩ tới Beri
Nhớ ngay là chín Be = 9
Gấp ba lần chín
Là của anh nhôm Al = 27
Còn của Crôm
Là năm hai đó Cr = 52
Của đồng đã rõ
Là sáu mươi tư Cu = 64
Photpho không dư
Là ba mươi mốt P = 31
Hai trăm lẻ một
Là của thủy ngân Hg = 201
Chẳng phải ngại ngần
Nitơ mười bốn N = 14
Và muối axetat
Bất kể kim loại nào