PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hoạt động tạo hình của trẻ là một hoạt động tổng hợp khá phức tạp, qua
hoạt động tạo hình trẻ bộc lộ các đặc điểm của nhân cách phát triển tâm lý của trẻ.
Hoạt động tạo hình của trẻ có nguồn gốc xã hội, mang bản chất xã hội và đặc điểm
lứa tuổi trẻ mầm non, là quá trình sinh lý tâm lý đang trong giai đoạn phát triển
hoàn thiện.
Vì vậy việc chăm sóc giáo dục trẻ ngay từ những năm đầu tiên của cuộc
đời có ý nghĩa rất quan trọng là đặt những nền tảng đầu tiên cho sự hình thành và
phát triển nhân cách toàn diện, đây là trách nhiệm của ngành học Mầm Non.
Trong chương trình Giáo dục mầm Non mới hiện nay, rất chú trọng khơi
gợi hoạt động khám phá nơi trẻ, điều này chúng ta dễ nhận thấy đặc điểm rõ nét
trong hoạt động tạo hình của trẻ mang tính duy kỷ, không chủ định, trẻ chỉ quan
tâm trong quá trình tạo hình là “làm cái gì?” thể hiện biểu cảm cố gắng truyền đạt
cho người xem hiểu được những suy nghĩ, thái độ tình cảm để phản ánh thế giới
xung quanh trẻ.
Như vậy, hoạt động tạo hình là phương tiện thích hợp là ngôn ngữ phong
phú giúp trẻ không chỉ tiếp cận thế giới mà còn phản ánh thế giới thông qua nhận
thức thể hiện tình cảm yêu thích, ghét, ước mơ,
Bằng kỹ năng vẽ, xé dán, nặn được thực hiện theo chương trình giáo dục
Mầm Non mới cùng với sự tác động của sư phạm của giáo viên Mâm Non(từ nhà
trẻ đến mẫu giáo) giúp trẻ khả năng cảm thụ, đánh giá cái đẹp hình thành cảm xúc
thẩm mỹ.
Giống như hoạt động vẽ, xé dán, hoạt động nặn trẻ được rèn luyện điều
chỉnh hoạt động của mắt, não, các kỹ năng khéo léo, linh hoạt của đôi bàn tay như
kỹ năng thể hiện các đường nét phối màu, bố cục, trang trí tác phẩm, đặc biệt
chương trình hoạt động nặn là một trong những chương trình dạy trẻ thể hiện cấu
1
trúc nặn đẹp của hình khối của mọi vật và thể hiện phương thức sắp đặt nghệ thuật
trong không gian ba chiều, điều này ảnh hưởng đến trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ
sau này.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ Mầm Non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu tìm một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ Mẫu giáo 4-5
tuổi trong hoạt động nặn.
4. Giả thuyết khoa học:
Việc tìm một số biện pháp kích thích nâng cao sự hứng thú giúp trẻ phát
triển khả năng tập trung chú ý cao, giúp trẻ tăng cường khả năng phối hợp điều
chỉnh hoạt động của mắt, tay, rèn luyện sự khéo léo linh hoạt của đôi bàn tay, tạo
điều kiện tốt để trẻ học tốt ở trường phổ thông.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
-Phân tích và hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về hoạt động tạo hình, kỹ
năng nặn của trẻ Mẫu giáo 4-5 tuổi để xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
đề tài.
-Tìm hiểu thực trạng việc tổ chức hoạt động nặn cho trẻ Mẫu giáo 4-5 tuổi,
cách thức biện pháp tổ chức hoạt động tạo hình nhằm khơi gợi nâng cao hứng thú,
kỹ năng nặn cho trẻ 4-5 tuổi.
6. Phương pháp nghiên cứu:
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Đọc, thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu lý luận có liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
3
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Bao gồm:
-Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động của cô và trong quá trình tổ
chức hoạt động tạo hình.
-Phương pháp điều tra: Điều tra giáo viên Mầm Non bằng hệ thống câu hỏi
nhằm nắm được thực trạng việc sử dụng một số biện pháp nâng cao hứng thú cho
trẻ trong hoạt động nặn của giáo viên Mầm Non.
-Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm các biện pháp được đề
2. Cơ sở lý luận cho việc thiết kế và tìm một số biện pháp nhằm nâng
cao hứng thú cho trẻ 4-5 tuổi trong hoạt động nặn.
2.1. Một số vấn đề về hoạt động nặn cho trẻ MN
-Mục đích của hoạt động nặn.
-Nhiệm vụ của việc tổ chức hoạt động nặn cho trẻ Mầm Non.
-Nội dung cơ bản của hoạt động nặn cho trẻ Mầm Non.
-Cách thức tổ chức hoạt động nặn cho trẻ Mầm Non.
+Tạo động cơ cho hoạt động nặn.
+Các phương pháp tổ chức hoạt động nặn cho trẻ Mầm Non.
+Các hình thức tổ chức hoạt động nặn cho trẻ Mầm Non.
2.2. Một số biện pháp nâng cao khả năng hứng thú cho trẻ mẫu giáo 4-5
tuổi trong hoạt động nặn.
5
a) Kích hoạt hứng thú bằng biện pháp trò chơi: “Trò chơi hóa”.
-Vai trò của trò chơi trong quá trình giáo dục trẻ.
-Vai trò của trò chơi trong hoạt động tạo hình(nặn)
b) Kích hoạt hứng thú trẻ trong các cuộc dạo chơi ngoài trời, vào đầu giờ
học tạo hình, vào những câu chuyện, tác phẩm văn học.
c) Kích hoạt hứng thú của trẻ qua các sản phẩm tham quan mang tính nghệ
thuật dược bố trí trong không gian 2 chiều thông qua ôn luyện, chơi,
d) Kích hoạt hứng thú đối với trẻ qua những sự vật hiện tượng có ấn tượng
mạnh đối với trẻ bằng phương pháp thông tin tiếp nhận.
3.Kết luận chương 1.
Dựa trên cơ sở lý luận của việc sử dụng biện pháp gây hứng thú cho trẻ
trong hoạt động nặn thông qua các TC.chúng tôi thấy đó là nhu cầu cần thiết để
phát triển tính tích cực hoạt động của trẻ nhiều nhất.
6
CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
1. Nội dung nghiên cứu:
-Nghiên cứu chương trình, giáo án của hoạt động nặn dành cho trẻ độ tuổi
Phân tích tất cả các sản phẩm tạo hình của trẻ đã tạo nên trên các giờ đã dự
để đánh giá kỹ năng nặn của trẻ.
2.5. Phương pháp thông tin tiếp nhận:
Để phát triển khả năng khái quát hóa cụ thể hóa dùng vận động thô để thể
hiện vật, dùng vận động tinh để tạo ra đường nét đặc trưng của các sự vật với
những đặc điểm cụ thể đặc trưng.
2.6. Phương pháp chỉ dẫn:
Đây là phương pháp sử dụng tích cực vì trẻ Mẫu giáo 4-5 tuổi nặn bằng
cách chắp ghép.
3. Tiêu chí và thang đánh giá.
3.1. Tiêu chí:
Để đánh giá kỹ năng nặn của trẻ Mẫu giáo 4-5 tuổi trong hoạt động nặn có
sử dụng biện pháp gây hứng thú, chúng tôi dựa vào những tiêu chí và thang đánh
giá sau:
-Mức độ hứng thú của trẻ đối với các đối tượng.
-Khả năng nắm bắt hình khối, đặc điểm của vật.
-Khả năng ứng dụng những hiểu biết của trẻ vào hoạt động nặn
3.2. Thang đánh giá:
-Loại tốt: Trẻ hứng thú, tích cực trao đổi ý kiến của bản thân, thê rhieenj
cảm nhận về vẻ đẹp, nhận ra được nhịp sắp xếp đặc điểm đặc trưng của các đối
8
tượng trong thế giới xung quanh, đồng thời trẻ rất linh hoạt bắt chước tái tạo lại
các hình dạng của đối tượng để tạo nên những sản phẩm đẹp(9-10 điểm).
-Loại khá: Trẻ tích cực thể hiện ý kiến của bản thân về đặc điểm của đối
tượng qua các trò chơi để tự mình bắt chước tái tạo ứng dụng vào hoạt động để tạo
nên sản phẩm có tính thẩm mỹ (7-8 điểm)
-Loại trung bình: Trẻ ít tham gia trao đổi ý kiến của bản thân chỉ có thể
nhận ra đặc điểm của sự vật hiện tượng qua sản phẩm và bắt chước kiểu dáng
nguyên vẹn để tạo ra sản phẩm dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Sản
phẩm ít có tính thẩm mỹ (4-6 điểm)
dụng
Ít sử dụng
Không sử
dụng
SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)
Quan sát
Cho trẻ quan sát các sự vật hiện
tượng tự nhiên.
30 100 0 6,7 0 0
Cho trẻ quan sát những sản phẩm
do cô làm ra
4 93,3 2 86,7 0 0
Cho trẻ quan sát những sản phẩm
của bạn.
25 13,3 26 16,7 0 0
Sử dụng
đồ dùng
trực quan
Sử dụng bộ sưu tập tranh phục
vụ cho giờ học.
2 83,3 5 93,3 0 0
Sử dụng vật thật. 30 6,7 28 0 0 0
Dùng lời
Dùng hệ thống câu hỏi. 30 100 0 0 0 0
Chỉ dẫn trực quan. 25 100 0 16,7 0 0
Dùng bài thơ, câu đố nhằm kích
thích hứng thú của trẻ.
9 83,3 5 70 0 0
Trò chơi Các trò chơi “sắm vai” (miêu tả
theo chủ đề, miêu tả theo các tình
STT Những khó khăn Số
lượng
Tỉ lệ
(%)
1 Trò chơi lồng ghép khó thực hiện trong hoạt động tạo
hình.
17 56,7
2 Tài liệu tham khảo về hoạt động nặn ít. 20 66,7
3 Thời gian eo hẹp. 26 86,7
4 Hạn chế về khả năng kích hoạt hứng thú. 14 46,7
Kết quả cho thấy khó khăn mà giáo viên gặp phải đó là việc phải thực hiện
các trò chơi theo chương trình giáo dục cần mang nội dung giáo dục, kích thích
hứng thú phù hợp tâm sinh lý trẻ, bên cạnh đó do có quá ít thời gian dành cho việc
tự học tự nghiên cứu. Vì vậy làm ảnh hưởng đến chất lượng tổ chức hoạt động tạo
hình cho trẻ.
*Các nguồn kích hoạt nâng cao hứng thú của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi đối với
hoạt động nặn.
11
+Nguồn trò chơi: trò chơi hóa (chơi với đất).
+Nguồn kỹ năng gợi mở, lồng ghép của giáo viên: qua kể chuyện, câu đố,
bài thơ, (còn hạn chế)
+Nguồn sản phẩm từ hiệu ứng máy vi tính(sử dụng nhiều).
*Những điều kiện để nâng cao hứng thú nặn cho trẻ.
STT Các điều kiện
Đồng ý
Không
đồng ý
SL
TL
(%)
tuổi Mầm Non.
-Sự phát triển của trẻ lứa tuổi Mầm Non bao gồm nhiều lĩnh vực, các lĩnh
vực phát triển của trẻ có liên quan chặt chẽ với nhau. Sự phát triển của lĩnh vực
13
này có ảnh hưởng đến lĩnh vực khác và tất cả các lĩnh vực cần phải được tác động
phát triển một cách đồng thời theo quan điểm sư phạm tích hợp. Theo quan điểm
này, các quá trình giáo dục được xâm nhập đan xen vào nhau tạo thành một thể
thống nhất tác động đồng bộ đến trẻ trong một chỉnh thể toàn vẹn. Một trong
những mô hình giáo dục theo quan điểm sư phạm tích hợp kết hợp với cách tiếp
cận phát triển lấy trẻ làm trung tâm đó là mô hình giáo dục dựa vào chủ đề.
Cách tiếp cận này được hiểu là cách thức cung cấp sự định hướng mở linh
hoạt cho phép giáo viên tổ chức các hoạt động xoay quanh chủ đề bằng nhiều hình
thức phối hợp một cách tự nhiên qua hoạt động chơi, trải nghiệm, khám phá,
cách tiếp cận này cho phép giáo viên có thể điều chỉnh các hoạt động giáo dục dạy
trẻ một cách linh hoạt hơn trên cơ sở kết hợp dạy trẻ theo kế hoạch với các tình
huống xảy ra tình cờ, ngẫu nhiên trong cuộc sống hằng ngày mà trẻ hứng thú quan
tâm sẽ làm cho không khí lớp học trở nên sinh động.
-Đối với trẻ 4-5 tuổi độ tuổi trẻ có một chút ít vốn kinh nghiệm sống của
trẻ. Vì vậy giáo dục mầm non cần tận dụng vốn kinh nghiệm sống làm “mảnh đất”
ươm trồng, nhận thức toàn diện trẻ bằng cách gắn với các chủ đề, chương trình
giáo dục Mầm Non mới tạo các tình huống chơi giúp trẻ tích cực hóa các hoạt
động phối hợp các sản phẩm vẽ, xếp, xé dán với sản phẩm nặn.
-Trẻ 4-5 tuổi nặn bằng cách chắp ghép, vì vậy phương pháp chỉ dẫn cần
phối hợp với phương pháp thông tin tiếp nhận. Bên cạnh đó giáo viên cần dùng
biện pjhaps so sánh giữa vật thật với vật mô phỏng xem mối quan hệ chính phụ của
sự vật trong sắp xếp cấu trúc hình tượng và dùng biện pháp “trò chơi hóa” sản
phẩm tạo hình để giúp trẻ quan sát miêu tả một số tư thế vận động đơn giản của
hình tượng sự vật.
1.2. Quan điểm của lý thuyết hoạt động:
Hoạt động của bản thân đứa trẻ chính là động lực để phát triển tâm sinh lý
hướng thú của trẻ theo tình huống giao tiếp, tình huống sư phạm, trò chơi hóa phù
hợp với nội dung tạo hình “nặn”, theo dõi, đánh giá.
2.3. Một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ:
2.3.1. Nhóm biện pháp “trò chơi hóa”.
-Đây là biện pháp được sử dụng khi đã có sản phẩm hoàn thiện giúp trẻ
phát triển khả năng tưởng tượng và sáng tạo của trẻ, động cơ chơi gắn liền với
hứng thú của trẻ, hành động chơi được thực hiện ở dạng tưởng tượng từ đó dễ nảy
sinh ý tưởng mới.
-Sử dụng biện pháp này giáo viên dùng các sản phẩm tạo hình vào các tình
huống, việc vận động thực sẽ giúp trẻ nhận xét, thưởng thức các giá trị(thẩm mỹ),
kỹ thuật của sản phẩm hoàn thiện dễ dàng.
2.3.2. Nhóm biện pháp kích hoạt hứng thú đối với những sự vật có ấn
tượng mạnh bằng phương pháp thông tin tiếp nhận.
Đối với nhóm biện pháp này giáo viên cần khơi gợi sự hứng thú của trẻ dựa
trên kinh nghiệm sống và vốn xúc cảm tình cảm của trẻ.
2.3.3. Nhóm biện pháp kích hoạt hứng thú của trẻ qua cách cách chia sẻ
kinh nghiệm sống, giao tiếp với thế giới xung quanh.
Nhóm này bao gồm các tình huống các loại trò chơi nhằm tổ chức cho trẻ
tìm hiểu củng cố hiểu biết các sự vật hiện tượng xung quanh trẻ giúp trẻ hệ thống
hóa các chuẩn cảm giác sơ đẳng.
2.3.4. Nhóm biện pháp kích hoạt hứng thú của trẻ qua tham quan sản
phẩm.
Giáo viên sẽ hướng dẫn trẻ nặn, trên cơ sở gợi mở tạo cho trẻ ý tưởng dự
định tạo hình qua yêu thích sản phẩm mẫu, giúp trẻ “làm sống lại” các biểu tượng
hình tượng trong trí nhớ và thể hiện lại bằng con đường trẻ tưởng tượng ra.
16
*Trong quá trình sử dụng nhóm biện pháp kích hoạt hứng thú cho trẻ nặn,
giáo viên cần gợi mở hướng dẫn trẻ nặn rèn luyện trẻ có những kỹ năng thể hiện
hình khối đi từ đơn giản đến phức tạp để giúp trẻ tạo ra nhiều sản phẩm sáng tạo.
3. Tổ chức thực nghiệm:
“nặn quả” ở cả 2 nhóm ĐC và TN mỗi nhóm 20 trẻ sau khi tổng hợp kết quả đạt
được của mỗi nhóm, chúng tôi thu được kết quả thông qua biểu đồ sau:
Biểu đồ trên cho thấy với bài tập này kết quả đạt được ở 2 nhóm ĐC-TN là tương
đương nhau.
4.2. Kết quả thực nghiệm hình thành.
Được tiến hành với 10 bài tập đã được đề xuất ở trên.
Đối chiếu quá trình hoạt động của 2 nhóm trẻ: một nhóm được chơi những
trò chơi sáng tạo, thú vị còn một nhóm tham gia vào những trò chơi thông thường.
Kết quả cho thấy khả năng tích cực hoạt động của trẻ nhóm TN cao hơn. Các sản
phẩm mà trẻ tạo ra có tính thẩm mỹ cao, trong khi đó ở nhóm ĐC số trẻ không
hoàn thành nhiệm vụ vẫn còn nhiều do trẻ không hứng thú.Chẳng hạn Ở trò chơi
18
“Đoán tên nhân vật”. Hình thức trò chơi được lồng ghép vào câu chuyện “Cáo, thỏ
và gà trống”. Đây là câu chuyện mà trẻ đã được nghe cô kể. Quan sát quá trình trẻ
nặn, chúng tôi thấy trẻ đã liên hệ được hình ảnh nhân vật với câu chuyện. Khi nặn
chú gà trống, trẻ cố gắng thể hiện vẻ đẹp oai vệ của chú gà trống trong câu chuyện.
Trẻ còn biết liên tưởng rộng hơn là cuộc sống hằng ngày của chú gà trống đấy.
Buổi sáng, chú nhảy lên đống rơm gáy vang chào ông mặt trời. Buổi trưa thì chú đi
kiếm ăn ở vườn… Trẻ đã thể hiện sinh động hình ảnh của chú gà trống, biết tưởng
tượng tới câu chuyện. Điều này làm cho trẻ “nặn” thêm sinh động hơn. Ở nhóm
ĐC, một số trẻ đã thể hiện được chú gà trống với những hoạt động riêng dưới sự
gợi ý, hướng dẫn của cô. Nhiều trẻ còn lại thì thực hiện chú gà trống với hình
dáng, hoạt động gần giống như mẫu cô đã nặn. Tuy nhiên chú gà trống đó không
thể hiện được nét oai vệ cũng như là bộ lông không được sặc sỡ như chú gà của trẻ
ở nhóm TN.
4.3. Kết quả thực nghiệm kiểm chứng.
Chúng tôi tiến hành TN kiểm chứng trên cả 2 nhóm ĐC và TN với đề tài
“nặn con vật bé thích” qua trò chơi “Khu trại chăn nuôi.”
Kết quả được thể hiện qua bảng sau:
Nhóm
Loại
khá
Loại
TB
Loại
tốt
Loại
khá
Loại
TB
SL 6 7 7 7 8 5 5 7 8 11 6 3
TL (%) 30 35 35 35 40 25 25 35 40 55 30 15
χ
6,55 6,85 6,4 7,55
δ 1,65 1,56 1,59 1,46
T 0,29 1,93
Từ số liệu trên, chúng tôi lập biểu đồ so sánh kết quả của nhóm ĐC (trước
và sau TN).
Biểu đồ 3: So sánh kỹ năng vẽ của trẻ ở nhóm ĐC (trước và sau TN):
20
Biểu đồ 4: So sánh kỹ năng vẽ của trẻ ở nhóm TN(trước và sau TN):
5 Kết luận chương 3.
21
Đất là vật liệu có sẳn trong tự nhiên, có hình dáng màu sắc và đặc điểm riêng của
nó với các công dụng khác nhau mà ít được mọi người quan tâm tận dụng cho trẻ
chơi, khám phá.
Qua việc cho trẻ thử nghiệm một số TC bằng các biện pháp kích hoạt gây hứng thú
giúp trẻ dể nhận biết đặc điểm,tính chất, và lợi ích của đất.
Trong quá trình thực hiện TN giúp trẻ phát huy tính chủ động itch cực tính phối
hợp cao giữa HĐ cá nhân và HĐ nhóm.Khi trẻ được tham gia bàn luận trong tập
thấy khi được tác động bằng một số TCTH được đề xuất, bước đầu đã có sự chênh
lệch giữa 2 nhóm trẻ mà sự tiến bộ thuộc về nhóm TN. Điều này khẳng định tính
khả thi và hiệu quả giáo dục của việc sử dụng các biện pháp gây hứng thú thông
qua trò chơi đã thiết kế trong đề tài nghiên cứu.
23
2. Một số kiến nghị sư phạm:
Để thực hiện tốt việc gây hứng thú nâng cao khả năng nặn cho trẻ 4-5 tuổi,
chúng tôi có một số kiến nghị sau:
*Đối với giáo viên Mầm Non:
-Tăng cường trao dồi kiến thức kỹ năng sư phạm, chủ động tìm hiểu và áp
dụng những hình thức biện pháp mới vào trong HĐTH nói chung và hoạt động nặn
nói riêng.
-Nâng cao trình độ và khả năng ứng dụng vi tính, vi tính đồ họa để tạo
nguồn gợi hứng thú tốt cho trẻ học hoạt động tạo hình(đặc biệt là hoạt động nặn).
*Đối với ngành GDMN:
-Quan tâm hơn tới vấn đề số lượng trẻ trong một lớp, cơ sở vật chất điều
kiện cho giáo viên.
-Tạo điều kiện cho giáo viên có cơ hội học hỏi trao dồi kiến thức kinh
nghiệm trong quá trình tổ chức HĐTH nói chung và hoạt động nặn nói riêng nhằm
nâng cao hứng thú cho trẻ.
-Hiện nay các trường sư phạm đều có lớp chuyên họa(tạo hình), nhạc,… vì
vậy việc tổ chức bố trí giáo viên chuyên về các trường Mầm Non, có phòng chức
năng dạy chuyên sẽ giúp trẻ phát triển tốt khả năng nhận thức về cảm xúc thẩm
mỹ, kỹ năng tạo hình.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
A.Tài liệu tiếng việt.
25