Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông
qua hoạt động tạo môi trừơng chữ”.
ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO MÔI TRƯỜNG CHỮ”
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Như chúng ta đã biết, nội dung của chương trình CSGD trẻ theo hướng đổi mới
của ngành giáo dục mầm non hiện nay yêu cầu trẻ được phát triển qua 5 mặt: thể
chất, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm – xã hội. Trong đó, nội dung phát
triển ngôn ngữ là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng của giáo viên
mầm non. Mà một trong các mục tiêu của phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi là:
hình thành và phát triển ở trẻ khả năng nghe, đọc, phát âm… và một số kỹ năng
cần thiết cho việc học đọc, học viết như: cách lật giở sách, cách cầm bút tô viết
chữ, khả năng phối hợp tay, mắt và tri giác t
ừ trọn vẹn từ trái sang phải, biết diễn
tả sự việc hoặc ý muốn của mình bằng câu đầy đủ một cách mạch lạc r
õ ràng. Là
giáo viên trực tiếp dạy trẻ 5 tuổi nhiều năm, tôi nhận thấy rằng việc tạo môi
trường chữ phong phú quanh trẻ sẽ góp phần tích cực và có hiệu quả cao trong
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi.
Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài: ” Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
thông qua hoạt động tạo môi trừơng chữ”.
II .NỘI DUNG:
Thực trạng của vấn đề taọ môi trường chữ trong lớp học ở trư
ờng mầm Non hiện
nay:
* Về phía giáo viên:
- Khi thực hiện chương trình đổi mới hình thức tổ chức dạy trẻ 5 tuổi. Giáo viên
thường quan tâm nhiều đến đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động có chủ đích,
chưa chú ý đến việc tạo môi trường chữ xung quanh trẻ.
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi như thế nào.
Từ thực trạng trên, tôi suy nghĩ phải làm gì và làm như thế nào để giúp trẻ phát
triển ngôn ngữ, đặc biệt có kiến thức cơ bản về làm quen với chữ viết, để trẻ tự
tin khi bước vào trường phổ thông thật tốt. Đi tìm lời giải đó là cả quá trình
không đơn giản. Từ thực tế giảng dạy, kết hợp với học tập nghiên cứu tài liệu và
học tập bồi dưỡng chuyên đề do ngành chỉ đạo. Tôi đã rút ra được một số biện
pháp thực hiện đạt kết quả tốt trong việc dạy trẻ ôn tập củng cố khả năng nhận
biết từ và chữ cái Tiếng Việt thông qua việc tạo môi trường chữ xung quanh trẻ.
III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
1.Biện pháp 1: Tạo môi trường chữ trong lớp học:
*Vì sao phải tạo môi trường chữ trong lớp học?
Như chúng ta đã biết đối với trẻ mầm non lớp học chính là mái nhà thứ hai của
trẻ. Cảm giác đầu tiên khi bé bước vào cửa lớp, phản xạ tự nhiên của bé là nhình
xung quanh xem có những gì và có đẹp không, đặc biệt những gì mới lạ. Vì vậy,
các mảng chính trong lớp học đó là mảng chủ điểm, các góc hoạt động là đối
tượng đầu tiên khi trẻ bước vào l
ớp. Để trẻ hứng thú với các mảng hoạt động, tôi
đã tập chung trẻ cùng tham gia thảo luận dưới dạng kê chuyện sáng tạo. Cuối
cùng cô và trẻ đi đến thống nhất chọn tên của từng góc chơi mỗi khi chuyển chủ
điểm mới. Các tuýp chữ, có tên gọi ngây thơ, ngộ nghĩnh, gần gũi trẻ, và bắt
buộc phải có hình ảnh minh hoạ cho các tiêu đề ấy. Như vậy sẽ thu hút được sự
chú ý của trẻ, từ đó mục đích ôn luyện chữ đã học, cung cấp vốn từ cho trẻ đạt
hiêụ quả tối đa.
Ví dụ:
Chủ điểm ngành nghề: Tôi và trẻ cùng trò chuyện về chủ điểm ngành nghề, sau
đó cô hướng trẻ vào câu truyện: Tại cửa hàng búp bê có tất nhiều thứ, nào là đồ
dùng cô giáo như: phấn, bảng, bút, vở, …nào là đồ dùng bác thợ mộc, thợ
xây…Búp bê rất muốn chúng mình đặt tên cho cửa hàng của búp bê đấy, nào
chúng mình cùng nghĩ ra một cái tên nhé.Trẻ nghe, suy nghĩ và đưa ra ý ki
từ; “nấu ăn”. Trẻ được ghép hoặc chép từ, được biết chữ cái đầu tiên của từ mới
đó, biết thứ tự trong từ và ghép hoàn chỉnh các từ mới đó. Như vậy, qua mỗi chủ
điểm tôi lại cung cấp thêm cho trẻ nhớ và tự viết được nhiều từ mới và ôn luyện
nhiều chữ cái đã học.
*Phát triển ngôn ngữ và làm giàu vốn từ cho trẻ qua việc gắn tên, gắn ký hiệu
vào các đồ dùng đồ chơi trong lớp và các giá góc:
Như chúng ta đã biết, đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non là ” dễ nhớ dễ quên”. Vì
vậy, các kiến thức mới cung cấp cho trẻ, nếu không thường xuyên ôn luy
ện trẻ sẽ
nhanh chóng quên ngay khi lĩnh hội kiến thức khác.
Mặt khác, khi trẻ hoạt động trẻ thường cất đồ dùng đồ chơi nhanh nhưng không
ngăn nắp, giáo viên thường mất nhiều thời gian sắp xếp lại đồ chơi cho trẻ sau
khi chơi. Như vậy rất vất vả cho cô mà trẻ lại không có thói quen lao động tự
phục vụ. Đặc biệt không được làm quen với tên g
ọi các từ, hay các chữ cái Tiếng
Việt ghép thành từ đó.
Để khắc phục tình trạng này, tôi xếp đồ dùng đồ chơi trên giá góc g
ọn, đẹp, khoa
học, sao cho trẻ dễ lấy, đễ cất, các đồ dùng trên giá phải tuân theo một trật tự
nhất định. Khi gắn tên cho đồ chơi tôi thường đàm thoại với trẻ:
VD: Với đồ chơi; con thỏ, các làn, ti vi,…
Tôi hỏi trẻ đây là cái gì? chúng mình nhìn xrm cô viết ( hoặc ghép )từ “thỏ” cho
chúng mình xem nhé. Chữ cái đầu tiên trong từ ” con thỏ” là chữ gì?…Cứ như
vậy tôi cho trẻ tri giác trọn vẹn từ ” con thỏ” và các chữ cái còn lại trên giá đồ
chơi.
Nhiều lần như vậy, trẻ ghi nhớ và thuộc các ký hiệu các chữ cái và sắp xếp th
ành
từ có thể trẻ tự đọc được.
Đối với các ngăn giá góc, tôi vẽ ký hiệu đồ dùng đồ chơi kèm theo từ ( tên gọi
của đồ dùng) và giới thiệu với trẻ:
riêng). Trẻ được khắc sâu hinhd ảnh tên của mình và được làm quen v
ới chữ viết
thương và chữ viết hoa, trẻ có thể quan sát tập chép theo mẫu vào giờ hoạt động
góc và giờ đón trẻ. Và trẻ nhận ra tên mình trong các ký hiệu cuả sách, vở, tập
tô, khăn, trực nhật…
- Với các biểu bảng tôi nghĩ đây cũng là khoảng không gian không nhỏ tác động
đến trẻ. Vì vậy tôi đã trang trí tên gọi bằng chữ cái Tiếng Việt cơ bản để hàng
ngày trẻ nhìn thấy, trẻ nhận mặt chữ và ghi nhớ các từ trong bảng và biết bảng
đó là bảng gì có chữ gì, từ gì.
VD: Bảng trực nhật:, bảng ttheo dõi thời tiết, bảng điểm danh, biết hôm nay là
thứ mấy ngày bao nhiêu, thời tiết như thế nào?
2. Biện pháp 2: Tạo môi trường chữ ngoài lớp học:
Thực tế cho thấy trẻ đến trường ngoài hoạt động có chủ đích, hoạt động ăn, hoạt
động ngủ, còn các thời gian khác trẻ hoạt động với môi trường bên ngoài như:
góc thiên nhiên, mảng tuyên truyền, khu vực để đồ dùng cá nhân của trẻ. Đây là
nơi trẻ thường xuyên hoạt động nên có tác dụng ôn tập củng cố chữ cái và từ rất
tốt.
* Nơi để đồ dùng cá nhân của trẻ như: mũ, ba lô, giầy dép, khăn mặt,…Tôi luôn
gắn ảnh kèm theo tên của trẻ. Như vậy, hàng ngày trẻ cất đồ dùng hoặc sử dụng
đồ dùng vừa đúng qui định, vừa biết tên của mình (của bạn), biết tên của mình
có chữ gì, biết thứ tự của từng chữ từ trái sang phải của các chữ như thế nào Và
trẻ còn viết tên của mình vào bài vẽ khi vẽ tạo hình. Mỗi một môi trường hoạt
động của trẻ, tôi đều chủ động tạo môi trường để trẻ có cơ hội được luyện phát
âm, ôn luyện chữ đã biết, làm quen chữ mới và làm quen từ một cách rất tự
nhiên thoải mái không gò bó áp đặt trẻ.
*Khu vực tuyên truyền ngoài lớp học của trẻ là nơi không những tạo môi trường
chữ cho trẻ mà còn mang tính tuyên truyền đến các bậc phụ huynh để phụ huynh
hiểu biết về chữ mà con em mình đang học. Và từ đó phối kết hợp ôn luyện tại
gia đình. Tránh trường hợp cô dạy chữ đúng phụ huynh lại dạy chữ chưa đúng
+Chữ x đọc là “xờ”, chữ s đọc là “sờ”, nhưng có ông bà lại dạy là “ích xì” và “ét
sách, góc thư viện nhằm phát huy tích tích cực hoạt động của trẻ:
* Để phát huy tính tích cực của trẻ trong góc chơi, đặc biệt là góc thư viện. Đây
là nơi trẻ được tiếp xúc nhiều với chữ cái, và rèn luyện kỹ năng tiền biết đọc,
biết viết của trẻ như: cách lật giở sách, cách đưa mắt từ trái sang phải khi đọc,
hoặc các từ mới như: tên truyện, tên các trang bìa, tên các album t
ự tạo….với các
mẫu chữ khác nhau.
VD1: Cô tạo cơ hội cho trẻ được hoạt động với truyện thơ tranh ch
ữ to có sẵn, tự
tạo… trẻ được xem tranh, tập kể chuyện, tập “đọc” chữ to trong truyện…và như
vậy một lần nữa trẻ mở rộng vốn từ, phát triển ngôn ngữ, trẻ như được hoà nhập
với thế giới của người lớn. Khi trẻ tiếp xúc với các loại sách, báo, tạp chí…có
nhiều kiểu chữ khác nhau ở bất kỳ nơi nào trẻ cũng rất tự tin và có thể tự mình
khám phá nội dung.
VD2: Cô tổ chức cho trẻ cùng làm album và truyện tranh chữ to theo chủ điểm.
Nếu là chủ điểm “thế giới động vật” cô và trẻ sưu tầm album về các con: chó
mèo, gà, vịt,…Tôi yêu cầu trẻ tìm các chữ trong hoạ báo cắt và ghép từ “con
mèo”, “con chó”…dán dưới hình ảnh các con vật tương ứng. Một đều tôi luôn
lưu ý nhắc trẻ là phải ghép chữ lần lượt từ trái sang phải, hết chữ này đến chữ
khác, hết từ này đến từ khác bên cạnh phía phải, và sau đó tôi yêu cầu trẻ phát
âm các chữ, “đọc” các từ .
* Để trẻ hứng thú tích cực tham gia vào hoạt động tạo hình tôi cho trẻ làm tranh:
VD 1: Cho trẻ sưu tầm các chữ có trong hoạ báo, lịch cũ,…trẻ cắt, tô màu và
cùng ghép chữ với cô để tạo thành các tuýp chữ, các tiêu đề xung quanh lớp
moõi khi thay đổi chủ điểm. Với chủ điểm ” thế giới thực vật”, cô yêu cầu trẻ
ghép chữ mà trẻ sưu tầm được và x
ếp từng chữ từ trái qua phải: chữ t rồi đến chữ
h rồi đến chữ ê…Trong suốt quá trình hoạt động tích cực như vậy, bản thân trẻ
lại một lần nữa khắc sâu chữ cái và từ.
chữ in hoa màu đỏ, chữ viết thường màu vàng để trẻ dễ phân biệt. Hàng ngày gi
ờ
chơi hoạt động góc, giờ đón trả trẻ…Trẻ tự vào góc chơi theo ý thích của mình,
tự dùng chuột điều khiển trò chơi: “tìm chữ”, tìm được chữ nào đọc to chữ ấy,
hoặc tìm chữ theo yêu cầu của cô, của bạn, trẻ trao đổi và sửa cho nhau(nếu có).
Hay tôi thiết kế trò chơi: “Bù chỗ còn thiếu”, “sắp xếp lô zích”…các đối tượng
là các chữ cái mà trẻ đã được học trong các chủ đề chủ điểm . Như vậy trẻ được
cùng chơi, cùng ôn luyện nhẹ nhàng thoải mái.
+ Dữ liệu từ: sưu tầm tranh ảnh động trên mạng, scan các loại tranh ảnh tự vẽ
hoặc mua đưa vào máy, phân loại theo từng chủ đề chủ điểm khác nhau.
VD: Chủ điểm: ” Quê hương- Đất nước- Bác Hồ”, tôi thiết kế trên máy tính các
loại tranh ảnh về địa danh của Hải Phòng như: Đồ Sơn, lễ hội chọi trâu, tượng
nữ tướng Lê Chân, bến cảng, đường phố hoa phượng… Tranh ảnh về Đất nước
như: phong cảnh Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt…Tranh ảnh về Bác Hồ
như: chân dung, Bác Hồ với các cháu, Bác Hồ đang trồng cây… có các từ tương
ứng kèm theo. Trẻ được chơi dưới hình thức chọn tranh theo yêu cầu của cô
hoặc của bạn, trẻ quan sát phát âm chữ, “đọc” các từ dưới tranh, và ngẫu nhiên
trẻ được ôn luyện, phát triển ngôn ngữ rất nhẹ nhàng thông qua trò chơi này.
IV.KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Qua quá trình áp dụng các biện pháp trên vào thực tế giảng dạy, đến nay lớp tôi
đã đạt được kết quả như sau:
1 Trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái Tiếng Việt. 65% 35% 100% 0
2 Số trẻ nhận chữ cái trong từ và ghép đúng các chữ thành từ có hình ảnh. 55%
45% 98% 2%
3 Số trẻ nhận biết chuẩn chữ in hoa, in thường, viết thường. 50% 50% 97% 3%
4 Số trẻ ghi nhớ và “đọc” các từ có hình ảnh kèm theo 5% 95% 50% 50%
- Giáo viên đã tự học tập nâng cao trình độ tin học, đã chủ động thiết kế tạo các
nguồn dữ liệu ôn luyện củng cố, phát triển ngôn ngữ phù hợp các chủ đề chủ
điểm cho trẻ.
- Giáo viên đã chủ động biết cách tổ chức hướng dẫn theo hướng đổi mới. Môi
6. Tận dụng các giờ học khác để kích thích trẻ cùng trang trí và gắn chữ, t
ừ xung
quanh lớp theo kiểu ” tích hợp” để trẻ được tiếp xúc với chữ mọi lúc mọi nơi.
7.Biết nghiên cứu khai thác và tận dụng sự hứng thú tham gia trò chơi trên máy
tính của trẻ để sáng tạo trò chơi mới, nhằm ôn luyện củng cố chữ cho trẻ.