SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
DÂN TỘC THIỂU SỐ QUA VIỆC LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC"
1
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp hữu hiệu nhất giúp con người biểu đạt được những
mong muốn, sở thích, tình cảm, cảm xúc… của mình. Một đứa trẻ bắt đầu phát triển ngôn
ngữ thậm chí trước khi có trẻ dùng từ ngữ như khóc hay khi muốn đòi một gì đó khi còn
nhỏ. Việc chậm phát triển kỹ năng ngôn ngữ có thể ảnh hưởng không tốt đến trẻ cũng
như thiếu hụt khả năng truyền tải thông tin sau này. Vì vậy phát triển ngôn ngữ rất quan
trọng đối với trẻ nhỏ trong việc trao đổi thông tin chính xác với bạn bè, với người khác
theo cách có ý nghĩa nhất đặc biệt là đối với trẻ dân tộc thiểu số việc phát triển ngôn ngữ
sẽ giúp trẻ dễ hòa nhập trong giao tiếp và thu nhận thông tin kiến thức. Có nhiều cách
biểu đạt ngôn ngữ nhưng thông qua tác phẩm văn học thì việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
sẽ là con đường ngắn nhất và nhanh nhất bởi lẽ:
“Tác phẩm văn học - nhựa sống tâm hồn trẻ thơ’’. Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là hình
thức nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu để chiếm lĩnh tái hiện thế giới. Qua những
tác phẩm văn học thế giới tràn đầy âm thanh màu sắc, hình khối ngôn ngữ đã dần được
hiện lên trong trí tưởng tượng về cuộc sống gần gũi quen thuộc của trẻ. Ngôn ngữ chính
là phương tiện quan trọng để phát triển trí tuệ giúp cho việc tiếp thu kiến thức học tập tốt
ở tiểu học và các cấp học sau này. Đó là nền tảng để hiểu về thế giới văn học và tiếp nhận
nhiều tri thức mới. Vì vậy cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là một trong những nội
dung quan trọng cho trẻ Mẫu giáo. Đối với trẻ Mẫu giáo khi làm quen với tác phẩm văn
học (qua sự truyền thụ của giáo viên) giúp trẻ phát triển khả năng tư duy, ngôn ngữ, phát
triển tình cảm và kỹ năng xã hội, rèn luyện được khả năng chú ý, tái tạo và đặc biệt phát
ngữ cho trẻ Mẫu giáo lớn dân tộc thiểu số qua việc làm quen với tác phẩm văn học”
làm sáng kiến kinh nghiệm của mình với mục đích đem đến cho trẻ dân tộc những giờ
làm quen với tác phẩm văn học thật hấp dẫn và thú vị, nhằm nâng cao khả năng giao tiếp
tốt nhất, có vốn từ, kỹ năng nói, khả năng hiểu và diễn đạt, đặc biệt sẽ gây được ấn tượng
mạnh, ghi nhớ có chủ đích của trẻ để trẻ phát huy được tính tái tạo, tính tưởng tưởng sáng
tạo theo logic khoa học. Và đây cũng là tiêu chí mà tôi đưa ra cho bản thân để tự khắc
phục và hướng tới thực hiện có hiệu quả.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo lớn dân tộc thiểu số
qua việc làm quen với tác phẩm văn học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Mầm non,
hòa nhập trẻ dân tộc.
1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một số vấn đề khi cho trẻ dân tộc làm quen với tác phẩm văn học trong trường Mầm non.
Thực trạng phát triển ngôn ngữ khi cho trẻ Mẫu giáo lớn, trẻ dân tộc làm quen với tác
phẩm văn học trong trường Mầm non Quang Yên.
Nghiên cứu để tìm ra nhiều biện pháp khác nhau phù hợp với từng chủ đề để dạy trẻ, giúp
trẻ hứng thú trong tiết học nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo lớn và trẻ dân tộc
khi làm quen với tác phẩm văn học.
3
Đề xuất những biện pháp chỉ đạo và dạy học môn làm quen với tác phẩm văn học cho trẻ
Mẫu giáo, trẻ dân tộc thiểu số học tiếng Việt ở trường Mầm non Quang Yên.
1.4. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu 37 trẻ Mẫu giáo lớn lớp 5 tuổi A4 (trong đó có 19 trẻ em là dân tộc tiểu số)
Trường mầm non Quang Yên- Sông Lô- Vĩnh phúc.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo dân tộc thiểu số qua việc làm quen với tác phẩm
văn học.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
tiếp với mọi người và tư duy. Phát triển ngôn ngữ là phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc
và viết. Trẻ Mầm non bắt đầu học ngôn ngữ, mà chủ yếu là hình thành và phát triển kỹ
năng nghe, nói, hiểu.
Đối với trẻ Mầm non, ngôn ngữ không phải là một bộ “quy tắc và ngữ pháp” mà
ngôn ngữ là công cụ để trẻ biểu đạt ý nghĩa tình cảm, cảm xúc và mong muốn của mình
với người khác và qua đó người khác hiểu được trẻ. Ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhân cách, là công cụ để trẻ
giao tiếp, học tập, vui chơi...Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển trí
tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ và phát triển thể lực cho trẻ.
Song vị trí của phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non tương đối đặc biệt vì từ sự phát triển
ngôn ngữ sẽ tham gia trực tiếp vào phát triển các lĩnh vực khác. Bởi ngôn ngữ là phương
tiện giao lưu tình cảm, phương tiện để trẻ nhận thức, khám phá tự nhiên và xã hội.
Trên những nét cơ bản đối với trẻ Mẫu giáo dân tộc thiểu số tiếng việt là ngôn ngữ thứ
hai. Quá trình trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số được phát triển ngôn ngữ tiếng việt khác với
quá trình học ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ ở một số đặc điểm như sau: Môi trường ngôn ngữ
của trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số chủ yếu là môi trường nhân tạo, bị thu hẹp cả về không
gian lẫn thời gian. Là ngôn ngứ thứ hai nên chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ thứ nhất ở mức
độ nhất định. Sự khác biệt về điều kiện sống và chất lượng cuộc sống của dân tộc thiểu số
có tác động nhất định đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số.
Sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc, trong đó có ngôn ngữ, ngôn ngữ dân tộc có
cách phát âm, ngữ điệu, một số từ vựng... làm cho trẻ khó khăn nhất định khi tiếp thu
ngôn ngữ tiếng việt.
Trong quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở trường Mầm non, tôi nhận thấy
trẻ dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế trong khi giao tiếp, trẻ vẫn còn nhút nhát chưa mạnh
dạn, tự tin khi muốn trình bày ý kiến, mong muốn của mình. Một số trẻ còn nói ngọng,
nói lắp, diễn đạt chưa mạch lạc rõ ràng, nói không đủ câu.
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo lớn dân tộc thiểu số là vô cùng cần thiết, để
chuẩn bị chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào lớp 1. Từ những hạn chế trên của trẻ tôi luôn
5
những điều kiện xã hội tác động vào việc học ngôn ngữ thứ hai. Để phát triển ngôn ngữ
khi cho trẻ Mẫu giáo dân tộc thiểu số qua việc làm quen với tác phẩm văn học đòi hỏi
giáo viên cần phải linh hoạt, năng động và sáng tạo trong việc xây dựng kế hoạch giáo
6
dục, tổ chức các hình thức, sử dụng phương pháp linh hoạt, chủ động, sáng tạo phù hợp
với đặc điểm của trẻ, giúp trẻ hoạt động tích cực, hứng thú.
2.2.3. Thực trạngphát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo lớn dân tộc thiểu số làm quen
với tác phẩm văn học.
Đầu năm học tôi nghiên cứu và tìm hiểu thấy được các cháu dân tộc thiểu số ít
được sự quan tâm, chăm sóc, khả năng phát triển ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân
tộc (vốn từ, kỹ năng nói, khả năng hiểu và diễn đạt) còn nhiều hạn chế. Tôi nhận thấy một
số giáo viên trong trường chưa tư duy sáng tạo trong việc lập kế hoạch giảng dạy lấy trẻ
làm trung tâm, giáo viên vẫn còn dạy trẻ theo hướng thụ động đa phần vẫn là sự truyền
đạt ở cô nên chưa phát huy được tính tích cực ở trẻ trong quá trình tổ chức, hướng dẫn trẻ
giáo viên thường hay mắc phải một số nhược điểm sau: Giáo viên còn nói nhiều không
phát huy được tính tích cực của trẻ khi tham gia các hoạt động, sử dụng các phương pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc, nhất là khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
còn hạn chế, cô chưa tạo ra được tình huống, chưa thường xuyên đặt ra được câu hỏi
mang tính gợi mở, khuyến khích tư duy của trẻ, tạo cho trẻ có cơ hội được diễn đạt nhiều.
Hình thức tổ chức các hoạt động chưa linh hoạt, sáng tạo và cứng nhắc, dập khuôn, sử
dụng nhiều từ địa phương. Sử dụng đồ dùng trực quan còn lúng túng, chưa khoa học.
Do đặc điểm tâm lý của trẻ dân tộc rất nhút nhát, thiếu tự tin trong giao tiếp, do
môi trường giao tiếp của trẻ còn bó hẹp trong phạm vi gia đình, người thân, mà người
thân của trẻ cũng là dân tộc thiểu số nên khi giao tiếp với nhau chủ yếu bằng tiếng dân
tộc, do đó trẻ không có cơ hội được giao tiếp tiếng việt thường xuyên, chủ yếu trẻ chỉ
được giao tiếp với ngôn ngữ tiếng việt khi ở trường. Trẻ thường mắc một số lỗi như nói
không hết câu, nói không gãy góc, nói chống không, diễn đạt không rõ ràng mạch
lạc...Bên cạnh đó khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học trẻ rất ít giơ tay phát biểu,
Xếp loại
Tốt
Khá
Đạt
- Nghe hiểu nội dung tác 6/18=33,3%
phẩm văn học.
8/18=44,5%
4/18=22,2%
- Nghe và làm theo từ 3 lời 6/18=33,3%
chỉ dẫn liên tiếp trở lên.
7/18=38,9% 5/18=27,8%
- Mạch lạc, rõ ràng, nói đủ 4/18=22,2%
câu, không nói lắp, nói
ngọng.
9/18=50%
5/18=27,8%
- Tự tin khi giao tiếp, biết kể 4/18=22,2%
lại trình tự sự việc một cách
mạch lạc.
- Nghe và làm theo từ 3 lời 2/19=10,5%
chỉ dẫn liên tiếp trở lên.
7/19=36,8
%
10/19=52,6
%
- Mạch lạc, rõ ràng, nói đủ 3/19=15,8%
câu, không nói lắp, nói
ngọng.
7/19=36,8
%
9/19=47,4%
- Tự tin khi giao tiếp, biết 3/19=15,8%
kể lại trình tự sự việc một
cách mạch lạc.
7/19=36,8
%
9/19=47,4%
- Biết kể chuyện theo tranh, 2/19=10,5%
đọc sách qua hình vẽ
ngôn ngữ và cho trẻ dân tộc thiểu số tôi chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động, hình
thức thức tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ, lựa chọn phương pháp giáo
dục lấy trẻ làm trung tâm sao cho phù hợp hiệu quả, phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của trẻ. Tổ chức tốt môi trường vật chất và môi trường xã hội, tạo cơ hội
cho trẻ được thực hành trải nghiệm, ứng dụng vào đời sống thực tiễn của trẻ. Ngoài ra tôi
còn thường xuyên theo dõi sự phát triển của trẻ dân tộc thiểu số qua phiếu theo dõi sau
mỗi chủ đề kết thúc, từ đó để điều chỉnh kế hoạch giáo dục cho phù hơp với từng đối
tượng trẻ.
Thường xuyên nghiên cứu tài liệu về giáo dục Mần non, chương trình giáo dục
Mần non nhất là sách hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục các độ tuổi, bồi dưỡng
thường xuyên, đặc biệt là tài liệu hướng dẫn giáo viên chuẩn bị tiếng việt cho trẻ mẫu
giáo vùng dân tộc thiểu số, để hiểu được mục đích, yêu cầu của chương trình.
Hàng tháng lên kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng về những mặt còn hạn chế của bản
thân như: Thiết kế một hoạt động phát triển ngôn ngữ. Tôi luôn phải đọc kỹ tác phẩm,
phân tích kỹ nội dung của tác phẩm, đưa ra bài học gì qua tác phẩm, qua tác phẩm giáo
dục trẻ những nội dung gì, từ đó tôi đưa ra mục tiêu của hoạt động. Tôi tìm và chọn
những phương tiện hỗ trợ cho việc đưa tác phẩm đến với trẻ một cách dễ hiểu và hứng
thú nhất sau đó tôi tiến hành làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động. Từ mục đích,
yêu cầu, chuẩn bị như trên tôi chọn những phương pháp hỗ trợ để tiến hành một hoạt
động nhẹ nhàng mà gây được hứng thú cho trẻ bằng các phương tiện hỗ trợ như máy vi
tính, trò chơi, trao đổi, giao lưu tình cảm, cảm xúc với trẻ, gần gũi hơn với những trẻ dân
tộc thiểu số để trẻ tin tưởng và yên tâm vào cô ...Trẻ được lĩnh hội kiến thức với tâm
trạng vui vẻ phấn khởi như vừa trải qua một cuộc vui chơi đầy hấp dẫn.
Cần sử dụng ngôn từ gãy gọn, không dùng tiếng địa phương khi truyền thụ cho trẻ,
để không mắc phải những lỗi trên, tôi đã khắc phục bằng cách nhờ giáo viên chung lớp
quay video lại tiết dạy của mình, tôi dùng dây dẫn kết nối với máy vi tính sau đó xem lai
toàn bộ hoạt động của mình. Những từ ngữ chưa mềm mại, chưa thuyết phục, chưa
10
tạo của cá nhân trẻ. Tôi thực hiện theo các bước sau:
Trò chuyện với trẻ để giúp trẻ chọn ý tưởng và nội dung câu chuyện.
Đàm thoại với trẻ nhằm khơi gợi các hình ảnh liên quan đến nội dung câu chuyện.
Cho trẻ tập kể chuyện: Tôi gọi từng trẻ lên kể vì mỗi trẻ có một cách kể chuyện riêng và
đặt tên cho câu chuyện của mình.
11
Tôi kể sáng tạo nhưng không áp đặt cách kể của cô theo khuôn mẫu đối với trẻ.
Tôi khen ngợi, động viên, khuyến khích tất cả các trẻ tham gia vào hoạt động kể
chuyện.
Từ đó trẻ đưa ra bài học kinh nghiệm cho bản thân, diễn đạt nhu cầu mong muốn
của mình với bạn và cô giáo. Tôi thường xuyên quan tâm trao đổi, trò chuyện nhiều hơn
với trẻ dân tộc thiểu số liên hệ từ tác phẩm văn học với cuộc sống hàng ngày của trẻ,
động viên, khuyến khích trẻ bằng lời nói, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ nhẹ nhàng, thân
thương mà gần gũi.
Một yêu cầu đặt ra đối với tôi khi cho trẻ dân tộc thiểu số "Làm quen với tác phẩm văn
học" là các kiến thức khi truyền thụ đến trẻ phải hết sức ngắn gọn, tuyệt đối tránh hình
thức, dập khuôn, luôn sáng tạo đổi mới câu từ phù hợp vì thế trước khi thực hiện một tiết
dạy "Làm quen với tác phẩm văn học " tôi phải chuẩn bị đồ dùng, soạn bài và nghiên cứu
kỹ bài soạn. Nắm rõ yêu cầu của bài dạy chọn trò chơi phù hợp với nguyên tắc với chủ
đề. Chuẩn bị tâm thế bằng cách tôi luyện đọc, kể tác phẩm văn học nhiều lần để câu từ
luôn chính xác, rõ ràng, giúp trẻ dễ hiểu, nhập tâm vào tác phẩm để truyền tình cảm của
mình tới tất cả các học sinh trong lớp, đặt ra những tình huống sư phạm và nghiên cứu
tìm ra biện pháp giải quyết hữu hiệu nhất để trẻ vừa giải quyết được thắc mắc của bản
thân mà không cảm thấy khó chịu, ghi nhớ kiến thức.
Ví dụ: Với tiết dạy kể chuyện sáng tạo. Tôi lựa chọn nội dung tác phẩm cho phù
hợp, chuẩn bị đồ dùng khi trẻ tham gia kể sáng tạo: mũ, trang phục... để trẻ được nhập
vai mình vào các nhân vật trong truyện kể lại bằng ngôn ngữ, hành động cho cô và các
bạn cùng nghe.
Sau mỗi chủ đề kết thúc, tôi tổ chức khảo sát, đánh giá trẻ theo các bài tập với các
kỹ năng quan sát, nghe, nói đọc
Kỹ năng nghe và quan sát: Thì khi đàm thoại, giao tiếp với trẻ tôi dùng những lời nói nhẹ
nhàng, sinh động, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của trẻ giúp trẻ dễ hiểu và hình dung
ra vấn đề và có câu trả lời sẽ nhanh và chính xác hơn. Thường xuyên giao tiếp, trao đổi
gần gũi với trẻ về cuộc sống hàng ngày đồng thời cung cấp thêm vốn từ cho trẻ. Đặt
nhiều câu hỏi đặc biệt là những câu hỏi gợi mở như: Ví dụ: Trong câu chuyện “Tích
Chu”, tôi đưa ra lời gọi của bà khi bà bị ốm “Tích Chu ơi lấy cho bà ngụm nước, bà khát
quá” hỏi trẻ: Tiếng gọi này của ai? Trong câu chuyện gì? vì sao con biết? và cho trẻ tập
diễn đạt lại giọng điệu, lời nói của bà. Những câu hỏi về so sánh như “hai bức tranh này/
hai nhân vật này giống và khác nhau ở chỗ nào?” và giành thời gian khuyến khích để trẻ
hứng thú tham gia trả lời. Khuyến khích trẻ đặt câu hỏi, trân trọng câu hỏi và câu trả lời
của trẻ.
Giao bài tập cho trẻ bằng cách cho trẻ nghe một câu truyện, bài thơ trên đĩa máy vi tính
(chỉ có lời, không có hình hoặc chỉ có hình mà không có lời) rồi đưa ra câu hỏi về tác
phẩm văn học đó như: Cô con mình vừa được xem phim gì? Phim đó có những nhân vật
nào? Trong câu chuyện gì? Rồi tiến hành cho trẻ kể/ đọc tác phẩm văn học đó.
Ví dụ: Tôi cho trẻ xem hình ảnh Chị Tấm đang cho bống ăn thì trẻ sẽ liên tưởng đến câu
chuyện “Tấm Cám” và kể lại câu chuyện đó.
13
Hoặc tôi trích dẫn một đoạn lời kể trong truyện “Tấm Cám” như “bống bống bang bang
lên ăn cơm vàng, cơm bạc nhà ta...” trẻ sẽ nhớ lại nội dung câu chuyện đó và cho trẻ cùng
kể lại truyện.
Sau khi khảo sát như vậy tôi thấy trong lớp vẫn còn những trẻ chỉ được ở mức “đạt” tôi
lại tiến hành bố trí thời gian, không gian và xây dựng kế hoạch, kiến thức bồi dưỡng thêm
cho trẻ như vào các buổi chiều, giờ đón - trả trẻ để củng cố thêm kiến thức và vốn từ cho
trẻ.
đọc lại câu đó, hỏi cháu cô và bạn đọc khác con ở chỗ nào, câu nào và cho cháu đọc lại
câu đó, cứ nhiều lần như vậy cháu sẽ khắc phục được và không bị nói ngọng nữa.
Bổ sung vốn từ ngữ cho trẻ, tạo cho trẻ có thói quen nói đầy đủ câu, rõ ý
Ví dụ: Khi học xong tác phẩm “ ba cô gái” cô hỏi trẻ: “Qua câu truyện con yêu quý và
học tập ai” thì trẻ sẽ trả lời “ cô Út” như vậy vẫn chưa đủ câu, để giúp trẻ tôi lại hỏi
ngược lại lần nữa: “ ai yêu quý và học tập cô Út nhỉ” lúc này trẻ sẽ có câu trả lời đầy đủ
và rõ ràng đó là: “con yêu quý và học tập cô Út ạ”. Cô thường xuyên trao đổi, gần gũi
chia sẻ với trẻ về cuộc sống hàng ngày của trẻ, tạo điều kiện để trẻ chia sẻ với bạn bày tỏ
thái độ tình cảm của mình với các nhân vật
Tôi đặt ra các câu hỏi nguyên nhân - kết quả: Tại sao? Để làm gì? Như thế nào? Vì sao
con biết? Và những câu hỏi so sánh như: tại sao? Có điểm gì giống và khác nhau? Để trẻ
tư duy lôgic và và có câu trả lời chính xác hơn, rõ ràng hơn.
Khuyến khích trẻ tham gia biểu diễn hay đóng kịch thể hiện tình cảm của mình với nhiên
nhiên, con người, cuộc sống. Từ đó trẻ biết bày tỏ tình cảm, nhu cầu và kinh nghiệm của
bản thân rõ ràng dễ hiểu bằng những câu đơn, câu ghép khác nhau. Trẻ biết trả lời những
câu hỏi về nguyên nhân, so sánh: Tại vì, có điểm giống và khác nhau ở chỗ, ở điểm... Và
cũng biết đặt các câu hỏi: Tại sao? Như thế nào? Để làm gì?... Biết sử dụng các từ biểu
cảm, có hình ảnh. Tự tin khi giao tiếp. Nói và thể hiện cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phù hợp
với yêu cầu, hoàn cảnh giao tiếp.
Tôi sưu tầm hay xây dựng những tác phẩm văn học như: Một tác phẩm chỉ có hình ảnh
mà không có lời để cho trẻ kể lại theo diễn biến trình tự tương ứng với những hình ảnh
trong tranh, hoặc có cả hình ảnh cả lời kể của cô nhưng thiếu mất một đoạn nào đó của
tác phẩm để cho trẻ kể lại đoạn còn thiếu đó... Cho trẻ tự đọc thơ, truyện, ca dao, đồng
dao, câu đố…kể lại sự việc một cách rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu, diễn cảm, kể chuyện
sáng tạo theo đồ vật, theo tranh, theo chủ đề và kinh nghiệm của bản thân. Tôi là người
dẫn truyện rồi cho trẻ đọc kể lại theo trình tự của tác phẩm văn học từ đầu đến cuối, từ
trên xuống dưới. Biết cách ngắt giọng, ngừng nghỉ đúng chỗ, đúng lúc, biết cách đọc từ
trái sang phải, khi đọc ngồi ngay ngắn hướng tâm thế vào tác phẩm văn học. Động viên
khen ngợi và khuyến khích khi trẻ bày tỏ nhu cầu mong muốn của mình, kể lại sự việc có
trình tự. Tổ chức cho trẻ những buổi tập đóng kịch để giúp trẻ nhập tâm của mình vào
trẻ được giao tiếp, thảo luận, bày tỏ ý kiến nhiều nhất.
Trang trí khu vườn cổ tích bằng những hình ảnh nhân vật trong truyện cổ tích như hình
ảnh truyện “Tấm Cám”, “Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn”, “Nàng tiên cá”, “Sự tích hoa
hồng”.... phù hợp với từng chủ đề để trang trí khi cho trẻ khám phá trẻ sẽ hứng thú tham
gia hoạt động đóng vai các nhân vật để kể lại truyện.
Tạo môi trường giao tiếp bằng ngôn ngữ cho trẻ: Tôi thường xuyên giao tiếp, trao
đổi, trò chuyện với trẻ chú ý đến trẻ dân tộc thiểu số thông qua các hoạt động ở mọi lúc,
mọi nơi về những chủ đề gần gũi với cuộc sống.
Ví dụ: Tôi thường xuyên trò chuyện với trẻ vào các thời điểm đón trẻ, giờ chơi, giờ sinh
hoạt, lúc rảnh rỗi nhằm tìm hiểu nhu cầu, hứng thú, tâm trạng, tình cảm của trẻ về bản
thân, sự vật hiện tượng xung quanh như thời tiết hôm nay như thế nào? Con cảm thấy
16
mình như thế nào? Những đồ vật này có công dụng gì? Cái này có thể dùng vào những
việc gì?
Động viên khuyến khích trẻ tham gia trò chuyện với cô và bạn, tổ chức trò chơi
ngôn ngữ cho trẻ, trò chơi kết hợp vận động với lời ca, lời đồng dao đưa trẻ vào hoạt
động bằng cách bắt chước vần điệu và nhịp điệu ngôn ngữ. Thường xuyên tập cho trẻ
nghe và phân biệt âm thanh từ các giọng khác nhau: Giọng của cô, của từng bạn, âm
thanh của của các đồ vật khác nhau. Tổ chức các hoạt động có sử dụng văn hóa địa
phương: Nghe, kể chuyện dân gian, hò, vè... của dân tộc bằng Tiếng Việt.
Chụp lại những khoảnh khắc của cô và trẻ trong khi chơi, dạo chơi hay đóng kịch kể lại
truyện, khi trẻ được thực hành trải nghiệm, làm hình ảnh trang trí dán vào tường trong
lớp học để khi trẻ được tham gia trẻ nhận thấy sự tự tin, hào hứng, phấn khởi, gần gũi,
thân quen. Trên các mảng tường, tại các góc lớp tôi trang trí nhiều hình ảnh đẹp, sinh
động phù hợp với từng chủ đề và mỗi hình ảnh đó đều được gắn tên gọi để trẻ được làm
quen, khám phá: phát âm, tìm chữ, gắn thẻ chữ…
Từ những hình ảnh tôi trang trí trong và ngoài lớp khi trẻ nhìn vào trẻ nói được bằng
trong tác phẩm.
Với mong muốn nhằm nâng cao chất lượng cho trẻ dân tộc phát triển ngôn ngữ qua việc
làm quen với tác phẩm văn học, tôi cần phải cố gắng tranh thủ tận dụng triệt để và hiệu
quả các hoạt động trong ngày để trẻ làm quen một cách hợp lý và khoa học nhất.
Giờ đón - trả trẻ: Có thể cho trẻ đọc đồng dao, trò chuyện, đàm thoại bằng những câu hỏi
gần gũi, đơn giản với trẻ. Khuyến khích trẻ kể lại sự việc ngày hôm qua, khi về nhà có
những vui, buồn như thế nào cho cô và các bạn cùng nghe.
Hoạt động chung có mục đích ( học ): Ngoài tiết dạy cho trẻ làm quen với tác phẩm
văn học với tất cả các môn học khác nếu có thể đều lồng ghép thêm tác phẩm văn học
vào sao cho phù hợp với bài dạy.
Hoạt động góc : Tôi cùng trẻ làm ra các sản phẩm về chủ đề rồi gắn những hình ảnh sinh
động của tác phẩm văn học về chủ đề, chủ điểm đó để cho trẻ quan sát, khám phá, tìm tòi
và hứng thú để thể hiện, biểu diễn tác phẩm đúng theo trình tự hình ảnh. Đặc biệt là ở góc
phân vai cô gắn những hình ảnh sáng tạo về các nhân vật trong tác phẩm nào đó rồi cho
trẻ quan sát phát hiện và tìm ra đó là nhân vật nào trong tác phẩm gì rồi dùng lời nói hành
động cử chỉ kể lại tác phẩm đó hoặc kể lại những lời nói cử chỉ của nhân vật đó tôi có thể
là người dẫn truyện để hướng dẫn, giúp đỡ, động viên trẻ thực hiện.
Ví dụ : Góc phân vai tôi cho trẻ đóng kịch một tác phẩm văn học ví dụ như tuyện
“Tích Chu” chủ đề gia đình.Tôi hướng dẫn trẻ biết thỏa thuận chơi, nhận vai chơi thảo
luận nhóm, đoàn kết giúp đỡ bạn, liên kết, giao tiếp, thảo luận trong nhóm chơi, góc chơi
và giữa các góc với nhau.
Ví dụ: Góc xây dựng tôi tổ chức cho trẻ lắp ghép, xây dựng suối Tiên, đường đến
suối Tiên, ngôi nhà, khu vườn của bà và Tích Chu.
Ví dụ: Góc thư viện - học tập, cho trẻ xem tranh ảnh về câu truyện, hình ảnh các
nhân vật trong truyện “Tích Chu”, lô tô về gia đình: ông bà, các cháu... Làm bộ sưu tập
về gia đình.
18
Ví dụ: Góc nghệ thuật, tổ chức hướng dẫn cho trẻ nặn, vẽ, cắt - xé - dán, tô màu các
báo không được và sẽ phải nhường lượt chơi cho bạn khác.
Trò chơi “kể chuyện theo tranh”. Cách chơi: Khi cô đưa tranh của đoạn nào trong
tác phẩm thì trẻ phải kể lại diễn biến của đoạn đó.Vì vậy bản thân tôi luôn chịu khó tìm
19
tòi sưu tầm và sáng tạo sáng tác ra các trò chơi và biết vận dụng hợp lý các trò chơi ấy
vào các giờ học ở mọi lúc mọi nơi một cách phù hợp sẽ kích thích trẻ ham tìm tòi, học
hỏi, sáng tạo và trẻ sẽ hứng thú hơn khi đến lớp và sẽ sôi nổi khi tham gia các hoạt động.
Đặc biệt hơn nữa là các trò chơi dân gian, với trò chơi dân gian có đặc điểm thường
là các trò chơi có lời: vè, đồng dao, hò… trẻ vừa chơi vừa đọc lời trong trò chơi bằng
Tiếng Việt. Qua đó vốn từ của trẻ ngày càng phát triển phong phú hơn.
Ngoài ra cũng có thể cho trẻ vẽ hình trên cát, xếp hình bằng các cây, que, lá cây rồi trẻ
ghép kể lại thành trình tự một tác phẩm văn học hoàn chỉnh.
Trong giờ ăn, tôi cho trẻ hoặc cùng trẻ giải thích món ăn, dinh dưỡng trong món ăn, cho
trẻ đọc thơ, vè, đồng dao về chủ đề… qua đó rèn kỹ năng trong vệ sinh ăn uống cho trẻ.
Tôi đọc câu đố về các loại món ăn cho trẻ lắng nghe và tìm ra câu trả lời.
Giờ ngủ, trước khi trẻ ngủ tôi có thể kể chuyện, ngâm thơ cho trẻ nghe hoặc hát những
bài hát ru mang âm hưởng nhẹ nhàng dần đưa trẻ vào giấc ngủ.
Hoạt động chiều, cho trẻ múa hát những bài thơ được phổ nhạc sang thành bài hát hoặc
đồng dao hay tổ chức cho trẻ đóng kịch: Trẻ sẽ được trực tiếp nhập vai và trở thành nhân
vật trong tác phẩm văn học như vậy trẻ sẽ phát triển toàn diện hơn.
Qua ngày lễ, ngày hội , thông qua không khí của ngày lễ, ngày hội có thể cho trẻ được
trực tiếp thể hiện các tác phẩm văn học như: kể truyện, đọc thơ… Hoặc cũng có thể kể lại
không khí và trình tự của ngày hội, phát biểu cảm nhận của mình đối với ngày hội đó.
Mọi hoạt động trong ngày của trẻ đều được lồng ghép các tác phẩm văn học, mọi lúc mọi
nơi trẻ dân tộc thiểu số đều được thể hiện bằng ngôn ngữ Tiếng Việt sẽ giúp trẻ tạm thời
quên đi tiếng mẹ đẻ từ đó vốn từ ngữ của trẻ càng được mở rộng và phong phú hơn, trẻ
dần hòa nhập mình vào ngôn ngữ Tiếng Việt. Trẻ nói chính xác câu từ, vành tròn rõ chữ,
không nói ngọng, đầy đủ câu và lễ phép hơn trong khi giao tiếp.
Trẻ hiếu động thường rất hay nghịch ngợm và đùa nghịch trong giờ học không để ý,
quan tâm đến cô giáo hoạt động, vì thế làm cho trẻ không nhớ được tên tác phẩm, tên tác
giả, tên các nhân vật trong tác phẩm và nội dung của tác phẩm. Với những trẻ hiếu động
như vậy tôi thường cho trẻ tham gia vào các hoạt động tĩnh nhưng có giới hạn thời gian,
trong giờ học chú ý đến trẻ hơn, hay gọi trẻ phát biểu, dùng nhiều hình thức hấp dẫn thu
hút trẻ chú ý hơn. Sau khi thực hiện được một thời gian thì thấy trẻ ít nghịch đi và ham
học hơn, thích giúp đỡ bạn và thích tham gia các trò chơi học tập, nhớ được nội dung và
chủ đề của tác phẩm và tích cách các nhân vật, trong tác phẩm văn học.
Sự gần gũi, yêu thương của cô và hòa đồng với các bạn trẻ yên tâm về cả thể chất và tinh
thần. Tự tin, mạnh dạn giao tiếp, trao đổi ý kiến của mình với mọi người bằng ngôn ngữ
Tiếng Việt.
2.3.7. Biện pháp 7: Ứng dụng công nghệ thông tin.
Trong giai đoạn đổi mới, việc ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin vào công
tác giảng dạy là vô cùng quan trọng, sử dụng công nghệ thông tin giúp cho trẻ có tư duy
trực tiếp để phát huy tính tích cực của trẻ, trẻ hứng thú bao nhiêu thì kết quả đạt được
càng lớn. Nếu lựa chọn đề tài để dạy trẻ trên mọi tiết học mà chỉ có tranh ảnh không thì
trẻ rất dễ bị nhàm chán, chất lượng trẻ chắc chắn sẽ không cao, hơn nữa sẽ không phát
huy được tính tích cực, chủ động, ham hiểu biết của trẻ. Chính vì vậy mà tôi luôn tìm tòi,
21
xây dựng bài giảng có tương tác điện tử, các trò chơi trên máy tính với những hình ảnh
sinh động và ngộ nghĩnh. Đồng thời tôi cũng khám phá những trò chơi trong phần mềm
kidsmart, kixpix và happykids đưa ra cho trẻ chơi và khám phá thêm về cuộc sống xung
quanh trẻ.
Tôi cho trẻ trực tiếp lên thực hiện thao tác như vẽ, tô màu chân dung nhân vật nào đó
trong tác phẩm văn học trên phần mềm kixpix và đánh dấu bài của mình bằng kí hiệu
riêng, khi trẻ thực hiện xong tôi in ra và treo tranh lên góc “tranh đẹp của bé” để trẻ có cơ
hội quan sát, ngắm lại những ý tưởng riêng của mình đồng thời cũng thông báo tới các
bậc phụ huynh về khả năng cảm nhận tác phẩm văn học và trí tái tạo, tưởng tượng, sáng
huynh về bài thơ đó và gợi ý cho phụ huynh cho trẻ quan sát đàn gà con thật tại nhà và
kết hợp đọc thơ, giáo dục trẻ biết yêu quý những con vật gần gũi. Như vậy trẻ vừa phát
triển them vốn từ, hình ảnh trong trí nhớ của trẻ càng gần gũi và sinh động.
Lên kế hoạch, thông báo chương trình dạy trẻ ghi rõ ràng nội dung giáo dục vào bảng
“cha mẹ cần biết” để phụ huynh theo dõi, ôn luyện thêm cho con em mình khi ở nhà. Đưa
nội dung trẻ đã được học ở lớp, cho phụ huynh về nhà cùng tham khảo và hướng dẫn trẻ.
Giới thiệu các loại sách, vở có tính giáo dục phù hợp với độ tuổi, chương trình tới phụ
huynh. Trao đổi một số nhược điểm của trẻ: cách phát âm, cách thể hiện cử chỉ, điệu bộ,
kỹ năng giao tiếp… để phụ huynh nắm được. Từ đó phụ huynh luôn kết hợp với giáo
viên để hướng dẫn, giúp đỡ trẻ và bên cạnh đó khi tuyên truyền phụ huynh ủng hộ, sưu
tầm nguyên vật liệu, phế thải và các đồ dùng đồ chơi phục vụ chuyên đề cũng dễ dàng và
nhanh hơn, hiệu quả cao hơn.
Khuyến khích phụ huynh trao đổi về đặc điểm, tâm lý, nhu cầu tình cảm của trẻ để tôi
nắm rõ đặc điểm từng trẻ, từ đó giúp tôi lựa chọn và điều chỉnh kế hoạch linh động, sáng
tạo phù hợp với trẻ.
Sự kết hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh, dân tộc thiểu số, phụ huynh đã nhận thấy
tầm quan trọng của Tiếng Việt, khi ở nhà phụ huynh đã hạn chế nói tiếng mẹ đẻ. Từ môi
trường Tiếng Việt trẻ nói được rõ ràng, mạch lạc, gãy gọn, không nói ngọng, nói lắp, nói
đủ câu và có lễ phép.
2.4. Kết quả nghiên cứu
Dựa trên những nghiên cứu với những biện pháp trên sau một thời gian tôi thấy trẻ có
tiến bộ rõ rệt, kết quả mà tôi thu được cụ thể đó là:
Trẻ đã mạnh dạn, tự tin khi thể hiện, trình bày tác phẩm, thể hiện tình cảm cảm xúc của
mình trước sự vật hiện tượng bằng những câu đơn, câu ghép khác nhau. Diễn đạt được
suy nghĩ, nhu cầu, kinh nghiệm, nhận xét của bản thân theo từng tình huống và đối tượng
thích hợp bằng lời nói. Kể lại sự việc một cách mạch lạc theo tình tiết diễn biến.
Trẻ nói - đọc mạch lạc, rõ ràng vành tròn rõ chữ, nói đủ câu, không bị nói lắp nói ngọng,
trẻ đã hiểu được mối quan hệ giữa lời nói và chữ viết. Đặc biệt và bất ngờ hơn nữa đó là
trẻ nhập tâm vào trong các nhân vật của tác phẩm văn học và đã biết dùng lời nói, cử chỉ,
hành động điệu bộ để thể hiện rõ ràng cảm xúc.
- Nghe hiểu nội dung tác 10/18=55,6% 7/18=38,9%
phẩm văn học.
1/18=5,5%
- Nghe và làm theo từ 3 lời 9/18=50%
chỉ dẫn liên tiếp trở lên.
1/18=5,5%
8/18=44,5%
- Mạch lạc, rõ ràng, nói đủ
câu, không nói lắp, nói 12/18=66,7% 6/18=33,3%
ngọng.
0
- Tự tin khi giao tiếp, biết 10/18=55,6% 8/18=44,5%
kể lại trình tự sự việc 1 cách
mạch lạc.
0
- Biết kể chuyện theo tranh, 9/18=50%
1/18=5,5%
8/18=44,5%
- Tự tin khi giao tiếp, biết 10/19=52,6% 9/19=47,4%
kể lại trình tự sự việc 1 cách
mạch lạc.
0
- Biết kể chuyện theo tranh, 9/19=47,4%
đọc sách qua hình vẽ
2/19=10,5%
8/19=42,1%
Nhìn vào bảng đánh giá, so sánh trên tôi nhận thấy sau khi áp dụng những biện
pháp trên vào việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số. Tôi thấy nội
dung phát triển ngôn ngữ của trẻ dân tộc có tỷ lệ tương đương với nội dung phát triển
ngôn ngữ của trẻ em Kinh.
Bảng so sánh kết quả đánh giá trẻ dân tộc thiểu số đầu năm và cuối năm
Các nội dung
Khảo sát đầu năm
Tốt
- Nghe hiểu nội 2/19
Kết quả cuối năm
Khá
Đạt