Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4 5 tuổi) thông qua các trò chơi - Pdf 41

TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẪU GIÁO NHỠ 4 - 5 TUỔI THÔNG QUA CÁC TRÒ CHƠI

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục

Sơn La, tháng 05 năm 2016


TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẪU GIÁO NHỠ 4 - 5 TUỔI THÔNG QUA CÁC TRÒ CHƠI

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục

Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Mai

Giới tính: Nữ

Dân tộc: Kinh

Đỗ Thị Hƣơng Ly


2. Đỗ Thị Hƣơng Ly
3. Hà thị Phƣơng
Lớp: K54 ĐHGD Mầm non B.

Khoa: Tiểu học- Mầm non.

Năm thứ: ba

Số năm đào tạo: 4 năm

Ngƣời hƣớng dẫn: Thạc Sĩ Khổng Cát Sơn.
2. Mục tiêu đề tài:
- Xác định các loại trò chơi đang đƣợc thực hiện ở trƣờng mầm non.
- Triển khai hình thức tổ chức trò chơi qua việc soạn giáo án nhằm phát triển
ngôn ngữ, qua đó hình thành kỹ năng nói của trẻ mẫu giáo nhỡ 4- 5 tuổi .
3. Tính mới và sáng tạo:
- Đề xuất đƣợc các giải pháp và một số trò chơi giúp phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu gião nhỡ 4- 5 tuổi thông qua một số trò chơi.
4. Kết quả nghiên cứu:
- Thực trạng tổ chức các trò chơi cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4- 5 tuổi ở trƣờng mầm
non.
- Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4- 5 tuổi thông qua một
số trò chơi.
5. Đóng góp về mặt kinh tế- xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc
phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
- Có đóng góp về mặt giáo dục đào tạo.


6. Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài ( ghi rõ
tên tạp chí nếu có ) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả

Điện thoại:01638575834 Email: Maimaichau123@gmail.
2. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ nhất đến
năm đang học)
*Năm thứ 1:
Ngành học: Giáo dục mầm non Khoa: Tiểu học-Mầm non
Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lƣợc thành tích: Tham gia các hoạt động nghiệp vụ sƣ phạm cấp lớp,cấp khoa.
Giành học bổng khá trong kì 1 và học bổng giỏi trong kì 2.
*Năm thứ 2:
Ngành học: Giáo dục mầm non Khoa: Tiểu học -Mầm non
Kết quả xếp loại học tâp: Xuất sắc
Sơ lƣợc thành tích: Đƣợc nhận giấy khen thƣởng cấp khoa
Đạt giải 3 hội thi sinh viên yêu thích bộ môn Tiếng Việt.
Giành học bổng giỏi trong cả hai kì
Ngày
Xác nhận của trƣờng Đại học
(Kí tên và đóng dấu)

tháng năm 2016

Sinh viên chịu trách nhiệm
thực hiện đề tài
(kí, họ và tên)


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành đề tài này, chúng em
đã nhận đƣợc sự quan tâm, giúp đỡ của các đơn vị tổ chức, các phòng ban, các thầy cô
trong nhà trƣờng cùng với sự giúp đỡ của bạn bè.
Nhân dịp này, chúng em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo thạc sĩ

1.2 Cơ sở thực tiễn ........................................................................................... 18
1.2.1 Khảo sát thực trạng một số trò chơi thƣờng đƣợc sử dụng cho trẻ mẫu giáo
nhỡ <4-5 tuổi> ở trƣờng mầm non ................................................................... 18
1.2.2 Thực trạng tổ chức các trò chơi cho trẻ mẫu giáo nhỡ ............................. 18
Tiểu kết chƣơng 1 ............................................................................................ 23
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO
TRẺ MẪU GIÁO QUA MỘT SỐ TRÒ CHƠI............................................. 24
2.1. Sử dụng video trình chiếu mẫu trò chơi ..................................................... 24
2.1.1 Mục tiêu và ý nghĩa. ................................................................................ 24
2.1.2 Yêu cầu ................................................................................................... 24
2.1.3. Cách tiến hành ........................................................................................ 24
2.2 Sử dụng lời nói hƣớng dẫn trẻ chơi............................................................. 25
2.2.1. Mục tiêu và ý nghĩa ................................................................................ 25
2.2.2. Yêu cầu .................................................................................................. 25
2.2.3. Cách tiến hành ........................................................................................ 26


2.2.4. Điều kiện vận dụng................................................................................. 26
2.3. Cho trẻ chơi các trò chơi dân gian. ............................................................ 26
2.3.1 Mục tiêu và ý nghĩa ................................................................................. 26
2.4. Cho trẻ chơi các trò chơi học tập ............................................................... 31
2.4.1. Mục tiêu và ý nghĩa ................................................................................ 31
2.4.2. Yêu cầu .................................................................................................. 31
2.4.3. Cách tiến hành ........................................................................................ 31
2.4.4. Điều kiện vận dụng................................................................................. 32
2.5. Biện pháp giúp trẻ vận dụng ngôn ngữ mạch lạc trong trò chơi ................. 34
2.5.1. Mục tiêu và ý nghĩa ................................................................................ 34
2.5.2. Yêu cầu .................................................................................................. 35
2.5.3. Cách tiến hành ........................................................................................ 35
2.5.4. Điều kiện vận dụng................................................................................. 36

hòa nhập hơn.
Ngôn ngữ là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ của tƣ duy. Trẻ em có nhu
cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh. Đặc biệt, sự phát triển ngôn ngữ
trong những năm đầu đời của trẻ có vai trò rất quan trọng đối với khả năng tƣ duy,
nhận thức và giao tiếp cũng nhƣ toàn bộ quá trình phát triển sau này của trẻ. Ngôn ngữ
còn là phƣơng tiện để trẻ điều khiển thái độ, hành vi, đạo đức giúp trẻ lĩnh hội giá trị
đạo đức mang tính chuẩn mực.
Trẻ càng lớn nhu cầu hiểu biết càng nhiều, đặc biệt là ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ
(4-5 tuổi) trẻ đang cần đƣợc học một cách chính xác. Ở độ tuổi này trẻ rất thích đƣợc
nói và với tần số nói tăng đáng kể, đôi khi trẻ mắc một số lỗi sai về ngôn ngữ. Đây là
thời điểm khá thuận lợi giúp trẻ rèn luyện phát âm chuẩn và phát triển cho trẻ hoàn
thiện hơn.
Nhƣ chúng ta đã biết, “trẻ em”với hai từ thôi nhƣng dƣờng nhƣ đã nói lên hết
đặc điểm của lứa tuổi này. Đây là giai đoạn mà với trò chơi là cuộc sống, chơi là hoạt
động chủ yếu, chiếm vai trò quan trọng trong đời sống của trẻ. Không chơi thì trẻ chỉ
là đang tồn tại chứ không phải là đang sống. Trò chơi và tuổi thơ luôn đi kèm với nhau
trên một chặng đƣờng, luôn đồng hành nhƣ những ngƣời bạn thân. Và cũng chính trò
chơi giúp cho sự phát triển của trẻ đƣợc cân bằng, nhịp nhàng.
Trẻ em không những cần đƣợc quan tâm, chăm sóc về sức khỏe, học tập mà trẻ
em còn cần thỏa mãn nhu cầu vui chơi. Trẻ vui chơi với tất cả niềm đam mê, yêu

1


thích, hứng thú, chơi một cách vô tƣ, không toan tính...Chơi chính là cuộc sống của
trẻ, đặc biệt ở lứa tuổi mẫu giáo.
Chính vì vậy chúng tôi thấy việc tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi là một việc
rất thiết thực và có ý nghĩa.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong đời sống con ngƣời. Nó là kho tàng trí tuệ

lứa tuổi mầm non”đã nghiên cứu sự phát triển tâm lí trẻ qua các giai đoạn lứa tuổi để
từ đó đƣa ra biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Luận án Phó Tiến Sĩ của Lƣu Thị Lan: “Những bƣớc phát triển ngôn ngữ của
trẻ từ 1-6 tuổi đã đề cập về các bƣớc, giai đoạn hình thành, phát triển ngôn ngữ cho trẻ
trong độ tuổi 1-6 tuổi”.
Luận án Tiến sĩ Nguyễn Thị Oanh với đề tài: “Cơ sở của việc tác động sƣ
phạm đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em mầm non..”và nhũng công trình khác nữa.
Những công trình nghiên cứu này đã dựa vào đặc điểm phát triển tâm sinh lí và ngôn
ngữ của trẻ. Đó là những đóng góp vĩ đại trên phƣơng diện lí luận và thực tiễn. Song
nghiên cứu về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) chua nhiều và
chƣa thực sự chuyên sâu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Qua tìm hiểu đặc điểm trò chơi với sự phát triển của trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5
tuổi) và đặc điểm tâm lí trẻ mầm non chúng tôi mạnh dạn đƣa ra một số biện pháp, qui
trình tổ chức các trò chơi dân gian nhằm nâng cao hiệu quả việc phát triển ngôn ngữ
cho trẻ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu và khảo sát thực trạng trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) ở trƣờng mầm non.
- Xây dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi cho trẻ
mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi).
- Tổ chức thể nghiệm để ứng dụng kiểm tra tính khả thi của các biện pháp phát
triển ngôn ngữ thông qua một số trò chơi cho trẻ mẫu giáo nhỡ mà đề tài nghiên cứu
và đề xuất một số biện pháp mới.
- Xử lí kết quả nghiên cứu.
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành điều tra khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ (45 tuổi) ở trƣờng mầm non Chiềng Mung- Mai Sơn- Sơn La.


Chƣơng 2. Một số biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo thông
qua một số trò chơi.
Chƣơng 3. Thiết kế thể nghiệm một số trò chơi cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi)

4


CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt gồm các âm, các từ, các quy tắc kết
hợp một cộng đồng dân tộc dùng làm phƣơng tiện giao tiếp cơ bản quan trọng nhất của
các thành viên trong một cộng đồng ngƣời, đồng thời ngôn ngữ cũng là phƣơng tiện
phát triển tƣ duy, truyền đạt đời sống văn hóa-lịch sử từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Ngôn ngữ tạo ra những con ngƣời có linh hồn. Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng
trong việc hình thành nên tƣ duy, nhân cách của con ngƣời, thúc đẩy quá trình tự điều
chỉnh hoạt động của chính bản thân mình. Đối với trẻ em, ngôn ngữ là cầu nối để đến
với thế giới của nhân loại. Trong quá trình nhận thức sự vật và hiện tƣợng trẻ phải
dùng lời nói để nói lên những suy nghĩ cũng nhƣ cảm tƣởng của mình về những vấn đề
đó. Trẻ có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh, mong muốn hòa
nhập với xã hội của loài ngƣời.
a) Các bộ phận của ngôn ngữ
Ngôn ngữ gồm ba bộ phân: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp hệ thống các quy
tắc,quy định sự ghép các bộ phận thành câu. Trong kết cấu ngôn ngữ, từ vựng thuộc
vào ngoại biên về nghĩa vì nó trực tiếp gọi tên các sự vật hiện tƣợng thực tế, còn ngữ
âm phụ thuộc vào ngoại biên về chất liệu vì nó trực tiếp đƣợc tích lũy bởi giác quan
của con ngƣời. So với ngữ âm và từ vựng thì ngữ pháp luôn luôn là gián tiếp, không có
tính chất cụ thể. Nó chỉ liên hệ với thực tế thông qua từ vựng, chỉ lĩnh hội đƣợc thông
qua ngữ âm. Vì vậy ngữ pháp chiếm vị trí trung tâm trong kết cấu ngôn ngữ.

không tồn tại dƣới dạng ngôn ngữ.
+ Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tƣ tƣởng. Mọi ý nghĩ, tƣ
tƣởng chỉ trở nên rõ ràng khi đƣợc biểu hiện bằng ngôn ngữ. Không có ngôn ngữ thì
không có tƣ duy và ngƣợc lại.
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi: đây là những hoạt động chủ yếu ở
trƣờng mầm non, trẻ học để biết tiếng mẹ đẻ đồng thời sử dụng nó nhƣ một công cụ để
vui chơi, học tập. Nhƣ vậy, ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động và ngƣợc lại, hoạt
động tạo cho ngôn ngữ trẻ phát triển.
* Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp
Nhờ có ngôn ngữ mà con ngƣời hiểu đƣợc nhau, cùng nhau hành động vì mục
đích chung. Không có ngôn ngữ, không thể giao tiếp đƣợc, thậm chí không thể tồn tại
đƣợc, nhất là trẻ em. Chính nhờ ngôn ngữ mà con ngƣời có thể hiểu nhau trong quá

6


trình sinh hoạt và lao động, mà ngƣời ta có thể diễn đạt làm cho ngƣời khác hiểu biết
lẫn nhau, con ngƣời mới đồng tâm hiệp lực làm cho xã hội ngày càng tiên tiến.
d) Các loại ngôn ngữ
* Ngôn ngữ nói
Bắt đầu từ tháng thứ 12 trở đi, ở trẻ sẽ xuất hiện những âm bập bẹ có ý nghĩa
đẩu tiên và ngay lập tức trẻ huy động chúng vào giao tiếp với ngƣời lớn. Các âm bập
bẹ nhanh chóng mất đi, nhƣờng chỗ cho các từ tham gia vào cấu tạo câu trong giao
tiếp. Trẻ tích cực hơn thƣờng giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp. Nhu cầu giao
tiếp tăng lên thúc đẩy hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, kết quả là những kĩ năng
giao tiếp ngôn ngữ đƣợc hình thành.
* Ngôn ngữ viết
Trẻ luyện viết là hoạt động hứng thú và tự giác. Chính vì vậy, khi dạy viết cho
trẻ quan trọng nhất là giải thích để trẻ hiểu đƣợc mục đích của việc luyện viết. Giáo
viên mầm non chỉ khuyến khích cho trẻ nhận thức đƣợc tầm quan trọng của chữ viết.

tƣợng, sự vật không xuất hiện trƣớc mắt trẻ, những sự việc xảy ra trong quá khứ và
tƣơng lai. Trẻ hiểu đƣợc những lời giải thích, sự gợi ý của ngƣời lớn, biết so sánh, khái
quát và dần dần hiểu đƣợc bản chất của sự vật, hiện tƣợng, hình thành những khái
niệm sơ đẳng. Sự hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh ngày càng rộng lớn.
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ hoạt động và vui chơi, nhận thức về thế giới xung
quanh một cách phong phú hơn. Khi tham gia vào trò chơi, trẻ sử dụng ngôn ngữ để
giao tiếp với bạn, trao đổi phân vai trong trò chơi và quá trình này không thể thiếu vai
trò của ngôn ngữ. Trẻ bộc lộ suy nghĩ của mình với các bạn và nghe ý kiến của bạn để
đi đến thỏa thuận trong khi chơi...không chỉ trong khi chơi mà ngay cả khi trẻ chơi
tƣởng tƣợng với một đồ vật thì ngôn ngữ vẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình
chơi của trẻ. Qua đó ngôn ngữ của trẻ đƣợc phát triển, trẻ giao lƣu tình cảm trong lúc
chơi, phát triển khả năng tƣ duy và trí tƣởng tƣợng của trẻ.
*Ngôn ngữ là phƣơng tiện để phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ.
Ngôn ngữ đóng vai trò rất lớn trong việc điều chỉnh những hành vi và việc làm
của trẻ. Trong giao tiếp hàng ngày, thông qua kể chuyện, ca dao, đồng dao, nhất là
trong các trò chơi... trẻ cảm nhận đƣợc cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ,
cái đẹp trong hành vi, trong cuộc sống.
Khi giao tiếp với ngƣời lớn trẻ tiếp nhận đƣợc những sắc thái tình cảm khác
nhau. Qua nét mặt, giọng nói, ngữ điệu, ngữ nghĩa chứa đựng trong các từ, các câu
nói, dần dần trẻ cũng biết thể hiện những cảm xúc khác nhau của mình. Ngƣời lớn là
chiếc gƣơng soi vào trong đó. Trong giao tiếp, ngƣời lớn luôn hƣớng dẫn, uốn nắn
hành vi của trẻ bằng lời nói, nét mặt, nụ cƣời, giúp trẻ có thể nhận ra hành vi của mình
là đúng hay sai. Bằng cách đó, ở trẻ dần dần hình thành những thói quen tốt và học
đƣợc cách ứng xử đúng đắn. Ngƣời lớn có thể khen trẻ khi trẻ làm đúng hoặc tốt, cổ

8


vũ, động viên kịp thời cho những hành vi đúng đắn của trẻ. Khi trẻ làm sai, ngƣời lớn
tỏ vẻ không bằng lòng bằng ánh mắt, nét mặt, điệu bộ, kèm theo lời nói nghiêm túc thì

9


nhằm bảo vệ và làm cho cơ thể trẻ phát triển một cách hài hòa, cân đối, sức khỏe tăng
cƣờng đạt đến trạng thái hoàn thiện về mặt thể chất.
Ngoài ra trẻ còn phải đƣợc ăn ngon, ăn đủ chất, đủ lƣợng thì cơ thể trẻ mới phát
triển đƣợc.
1.1.2. Cơ sở tâm lí học
1.1.2.1. Sự phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong “Phƣơng pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”trẻ từ 12 đến 18 tháng đã bắt chƣớc ngƣời lớn lặp lại
những từ nghe đƣợc: bà, bố, mẹ, măm,... Số lƣợng từ có thể đạt từ 30 đến 40 từ. Trẻ 4
tuổi, vốn từ đã đạt tới hơn 1000 từ.
Nhƣ vậy, xét về măt số lƣợng, trẻ càng lớn vốn từ càng tăng. Vốn từ của trẻ
phát triển mạnh ở tuổi lên 3. Xét về mặt cơ cấu từ loại, số lƣợng từ là danh từ chiếm số
lƣợng nhiếu nhất (50%), động từ (27%), tính từ (11%), còn lại các từ khác (trạng từ,
đại từ, số từ,...). Những từ đƣợc trẻ sử dụng chủ yếu là các từ mà trẻ thƣờng xuyên tiếp
xúc, là những từ chỉ những việc làm của trẻ hoặc mọi ngƣời xung quanh (ăn, ngủ,
tắm...) hoặc là những từ chỉ hành động của những con vật (gà mổ thóc, chó cắn, cá bơi,
mè cào...).
1.1.2.2. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ
+ Vốn từ: vốn từ của trẻ mẫu giáo nhỡ tăng lên đến hơn 1000 từ, trong đó danh
từ, động từ vẫn chiếm ƣu thế. Trẻ mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi phát âm có tiến bộ hơn so với
trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi, trẻ phát âm rõ hơn, dứt khoát hơn, ít ngọng hơn song vẫn hay
sai âm đầu và âm đệm, thanh ngã. Ở trẻ đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua
giọng nói, ngữ điệu, âm tiết... Tuy nhiên dƣới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe
nhầm, phát âm nhầm các âm vị nhƣ “t’’ = “ch”.
+ Việc nắm vững ngữ pháp của trẻ 4-5 tuổi có tiến bộ hơn trẻ 3-4 tuổi. Câu nói
của trẻ dài hơn, ít câu cụt hơn. Khi nói câu còn chƣa đúng chƣa chuẩn về mặt ngữ
pháp, trẻ biết sửa nhƣng không biết vì sao phải sửa, trẻ đã sử dụng các câu phức hơp

Trò chơi vận động có quy luật lấy từ trò chơi dân gian và bắt trƣớc một số trò
chơi nƣớc ngoài <cƣớp cờ, cƣớp quân>.
Trong những năm 70, sự phân loại trò chơi của trẻ mẫu giáo chƣa đƣợc thống
nhất. Các nhà giáo dục đƣợc học và tiếp cận với quan điểm phân loại của nƣớc nào thì
đứng về quan điểm phân loại của nƣớc đó.
Từ những năm 80 trở lại đây, trong các trƣờng mầm non ở nƣớc ta vận dụng
cách phân loại trò chơi theo quan điểm của Liên Xô (cũ). Theo quan điểm này, trò
chơi của trẻ mẫu giáo đƣợc phân loại thành 2 nhóm chính:
Nhóm 1: Trò chơi sáng tạo, bao gồm các trò chơi sau:
+ Trò chơi đóng vai theo chủ đề.
+ Trò chơi xây dựng, lắp ghép

11


+ Trò chơi đóng kịch.
Nhóm 2: Trò chơi có luật, bao gồm các trò chơi:
+ Trò chơi vận động.
+ Trò chơi học tập.
Việc phân loại trò chơi chỉ mang tính tƣơng đối bởi hoạt động vui chơi ở mỗi
thời kỳ lứa tuổi lại có những trò chơi với các đặc trƣng riêng khác nhau.
1.1.3.3. Đặc điểm vui chơi của trẻ em
* Hoạt động vui chơi của trẻ em mang tính vô tƣ, có nghĩa là trong khi chơi đứa
trẻ không chú tâm nhằm tới một lợi ích thiết thực nào cả. Trong học tập, ngƣời hoạt
động chủ tâm nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết. Trong lao động ngƣời hoạt
động chủ tâm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội và bản thân. Còn
nguyên cớ thúc đẩy đứa trẻ vào trò chơi là sự hấp dẫn của quá trình chơi chứ không
phải kêt quả của hoạt động. Trẻ chơi chỉ cốt cho vui, có vui thì mới chơi mà đã chơi là
phải vui.
Vì hoạt động chơi của trẻ em mang tính vô tƣ nên khi tổ chức, hƣớng dẫn cho

chỉnh hành vi của mình, nếu không sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi.
Chính tính độc lập và tự điều chỉnh hành vi đó đã tạo cho trẻ không những
niềm vui sƣớng và lòng tự tin trong khi chơi mà còn giúp chúng phát huy khả năng tự
lập của mình trong cuộc sống sau này.
Hoạt động vui chơi của trẻ em là một hoạt động mang màu sắc xúc cảm chân
thực mạnh mẽ. Đứa trẻ lao vào cuộc chơi với tất cả say mê và lòng nhiệt tình vốn có
của nó. Trò chơi tác động toàn diện và mạnh mẽ đến trẻ em, chính vì nó thâm nhập
một cách dễ dàng hơn cả vào thế giới tình cảm của trẻ em, mà tình cảm ấy đối với
chúng ta là động cơ hoạt động mạnh mẽ nhất. Dẫu biết rằng trong trò chơi đều mang ý
nghĩa tƣợng trƣng, đều không có thật, nhƣng tình cảm mà trẻ biểu hiện trong đó là tình
cảm chân thực, hồn nhiên và thẳng thắn, không hề mang tính giả tạo chút nào, bởi vì
đứa trẻ không bao giờ thờ ơ với những gì mình thể hiện. Sắc thái cảm xúc chân thực,
mạnh mẽ mà trẻ bộc lộ trong trò chơi là một đặc điểm rất dễ nhận ra, khiến nhiều
ngƣời nghệ sĩ tài ba cũng mong có đƣợc, và chính nhờ nó mà họ có thể đạt tới thành
công trong nghệ thuật.
Do những đặc điểm này mà hoạt động vui chơi đƣợc coi là hoạt động tự nguyện
của mọi trẻ em, đó là những giây phút sung sƣớng nhất của các em. Bởi lẽ khi chơi
chính là lúc trẻ thể hiện: “ƣớc mơ với tất cả thân thể của mình”(Georges Duhamel).
1.1.3.4. Ý nghĩa của hoạt động vui chơi đối với trẻ mầm non
Chơi là hoạt động đặc trƣng của trẻ em lứa tuổi mầm non. Mỗi lứa tuổi đều có
nội dung chơi, tính chất chơi khác nhau. Thoạt đầu chơi chỉ mang tính ngẫu nhiên, tình
cờ, dần dần mang tính chủ tâm hơn, đến tuổi mẫu giáo chơi trở thành hoạt động chủ
đạo, ảnh hƣởng mạnh đến sự phát triển mọi mặt trong đời sống tâm lí nhân cách của

13


trẻ. Chính vì lẽ đó các nhà giáo dục sử dụng trò chơi nhƣ là phƣơng tiện giáo dục toàn
diện cho trẻ em.
* Chơi là phƣơng tiện giáo dục trí tuệ cho trẻ em.

14


lá cau, muốn có ô tô đầu tàu hỏa thì chỉ cần một cái ghế, hai tay bám vào vai ghế là có
liền...). Trẻ hình dung sàn nhà lớp học khi thì là con đƣờng từ đồng về làng con ngựa
đang “nhông nhông ngựa ông đã về”, khi thì là đƣờng tàu hỏa “tu tu xình xình”.Khi
tham gia vào trò chơi trẻ suy nghĩ về hành động chơi, thao tác chơi, sử dụng vật thay
thế nhƣ thế nào? Trẻ học đƣợc cách giải quyết nhiệm vụ, tìm kiếm phƣơng tiện thích
hợp nhất để thực hiện dự định đã đề ra. Qua đó tƣ duy của trẻ đƣợc phát triển mạnh.
Vui chơi còn là phƣơng tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trƣớc hết khi tham gia
vào trò chơi, trẻ sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với bạn, trao đổi suy nghĩ của mình với
các bạn và nghe ý kiến của các bạn để đi đến thảo luận trong khi chơi...Trẻ sử dụng
ngôn ngữ để suy nghĩ về thao tác, hành động chơi, thực hiện hành động chơi, giao lƣu
với trẻ khác trong nhóm và các nhóm chơi khác nhau, đánh giá lẫn nhau. Qua đó ngôn
ngữ của trẻ đƣợc phát triển (vốn từ trở nên phong phú, kĩ năng giao tiếp đƣợc phát
triển...)
Chơi là phƣơng tiện giáo dục đạo đức cho trẻ em.
Trò chơi ảnh hƣởng mạnh đến nhận thức, thái độ và hành vi đạo đức của trẻ.
Khi tham gia vào trò chơi, đứa trẻ trải nghiệm đƣợc những thái độ, tình cảm đạo đức
và tập đƣợc hành vi ứng xử với mọi ngƣời xung quanh bằng cách nhập vai của mình.
Qua đó trẻ học làm ngƣời.
Trong khi chơi trẻ đƣợc thử sức hành động nhƣ ngƣời lớn, qua đó hình thành
hành vi, thái độ cho bản thân, thực hiện hoạt động chơi phù hợp với nguyên tắc, chuẩn
mực đạo đức xã hội của vai chơi, Ví dụ, bác sĩ thì phải ân cần, niềm nở với bệnh nhân,
phải thông cảm và chia sẻ với bệnh nhân. Ngƣời bán hàng thì phải vui vẻ, lịch thiệp với
khách hàng. Làm mẹ thì phải ân cần, dịu dàng dỗ dành em bé... Những tri thức về biểu
tƣợng hành vi đạo đức đƣợc lĩnh hội trong những hành vi chơi ấy dần dần đƣợc trẻ vận
dụng vào trong các mối quan hệ thực trong đời sống, biết ân cần giúp đỡ em nhỏ, biết lịch
sự lêp phép với ngƣời lớn tuổi, biết chăm sóc những ngƣời thân, biết vâng lời cô giáo.
Cũng trong hoạt động chơi hình thành ở trẻ sự thật thà, dũng cảm, tính chủ

Nhƣ vây có thể nói, chơi là phƣơng tiện giáo dục toàn diện cho trẻ. Nhà giáo
dục cần khai thác thế mạnh cuả hoạt động vui chơi trong quá trình chăm sóc giáo dục
trẻ. Tổ chức cho trẻ chơi là mang lại hạnh phúc cho trẻ thơ, tạo điều kiện cho trẻ phát
triển một cách tự nhiên nhất.
1.1.3.5. Tầm quan trọng của trò chơi đối với sự phát triền ngôn ngữ.
Trò chơi có vai trò quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi thì vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ.
Trò chơi làm nảy sinh, kích thích sự phát triển về vật chất, các mối quan hệ xã hội và
các phẩm chất tâm lý.
Trò chơi của trẻ em trƣớc hết có ý nghĩa nhận thức to lớn. Macxim gooki đã
viết: “vui chơi là con đƣờng để trẻ nhận thức thế giới, trong đó trẻ em có nhiệm vụ

16


sống và cải tạo nó”Vì vậy khi chơi bao giờ trẻ cũng bắt chƣớc thực hiện dƣới một hình
thức nào đó và những thay đổi trong thực hiện phản ánh nào đó những thay đổi trong
hiện thực phản ánh trong chủ đề của trò chơi. Khi chơi trẻ không những nhận ra rằng
có nhiều hoạt động với các công cụ khác nhau nhƣng lại có cùng mục đích.
Thông qua việc tổ chức cho trẻ chơi có nội dung phong phú theo yêu cần và
nhiệm vụ giáo dục tác động đến trẻ bằng mọi mặt ý chí, tình cảm, ý thức, hành vi
nhằm mục đích phát triển toàn diện nhân cách trò chơi có ảnh hƣởng lớn đến sự phát
triển ngôn ngữ của trẻ 4- 5 tuổi.
Trong khi chơi trẻ em gặp tình huống cụ thể do đó thông qua sự hƣớng dẫn của
ngƣời lớn mà trẻ có thể lĩnh hội ngôn ngữ đạt cả tình huống trọn vẹn ấy hay khi chơi
trẻ biết đƣợc tên gọi của đồ vật ở thế giới xung quanh một cách riêng biệt và thực hiện
những hoạt động theo chỉ dẫn của ngƣời lớn. Trẻ càng mạnh dạn hơn thì giao tiếp với
mọi ngƣời xung quanh ngày càng đƣợc mở rộng. Cuối 3 tuổi trẻ trở nên mạnh dạn
hơn, có nhiều sáng kiến hơn nên thúc đẩy trẻ lĩnh hội ngôn ngữ, thông hiểu lời nói của
những ngƣời của những ngƣời xung quanh mà khách thể trẻ phát triển ngôn ngữ tích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status