Header Page 1 of 145.
PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO SÔNG LÔ
TRƯỜNG MẦM NON QUANG YÊN
=====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CẤP: TỈNH
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Mẫu giáo lớn dân tộc thiểu số qua việc
làm quen với tác phẩm văn học
Môn: Phát triển ngôn ngữ
Tổ: 5 – 6 tuổi
Mã: 04
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Thuận
Điện thoại: 0963003635; Email:
Quang Yên, ngày 25 tháng 05 năm 2013
Footer Page 1 of 145.
1
Header Page 2 of 145.
MỤC LỤC
Mục lục
STT
Đối tượng nghiên cứu
5
1.5
Phương pháp nghiên cứu
1.6
Giới hạn về không gian của phạm vi nghiên cứu
6
1.7
Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
6
4-5
Phần 2: NỘI DUNG
2.1
Cơ sở lý luận
2.2
Thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mấu giáo lớn làm quen
2.3.1
Biện pháp1: Bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao trình độ nhận
thức cho bản thân.
11-12
2.3.2
Biện pháp 2: Linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động có chủ đích
12 - 14
Footer Page 2 of 145.
2
Header Page 3 of 145.
2.3.3
Biện pháp 3: Khảo sát kỹ năng quan sát, nghe, nói, đọc của 14 - 16
trẻ.
2.3.4
Biện pháp 4: Tạo môi trường ngôn ngữ phong phú, đa dạng
16 - 18
Bài học kinh nghiệm
26
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.3
Kết luận
3.2
Một số kiến nghị, đề xuất
Footer Page 3 of 145.
22
27 - 28
27
27 - 28
3
Header Page 4 of 145.
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp hữu hiệu nhất giúp con người biểu đạt
được những mong muốn, sở thích, tình cảm, cảm xúc… của mình. Một đứa trẻ
việc chuẩn bị ngôn ngữ tiếng Việt là vấn đề vô cùng quan trọng, bởi vì ngôn ngữ
có chức năng làm công cụ tư duy, công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm và là
phương tiện giao tiếp của các thành viên trong xã hội.
Trong thực tế cho thấy phần lớn trẻ em dân tộc thiểu số trước khi tới
trường lớp mầm non đều sống trong môi trường tiếng mẹ đẻ, ít có môi trường
giao tiếp tiếng Việt, đến trường trẻ vẫn thích giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ
đẻ, thậm trí trong hoạt động vui chơi, học tập hàng ngày, do đó trẻ dân tộc thiểu
số vẫn còn nhút nhát chưa mạnh dạn tự tin trong khi giao tiếp với bạn bè người
Footer Page 4 of 145.
4
Header Page 5 of 145.
kinh. Vì vậy tôi gặp rất nhiều khó khăn trong khi tổ chức cho trẻ làm quen với
tác phẩm văn học.
Hướng dẫn giáo viên chuẩn bị tiếng việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc
thiểu số đã được sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo thực hiện trong nhiều năm qua
đã chỉ rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ tiếng việt cho trẻ. Với đặc điểm ở lớp
mẫu giáo 5 tuổi việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ tốt nhất là cho trẻ làm quen với
tác phẩm văn học. Trên cơ sở chỉ đạo, triển khai, quan tâm giúp đỡ của Phòng
Giáo dục huyện Sông Lô và sự hướng dẫn trực tiếp của Ban giám hiệu nhà
trường. Qua thực tiễn đặc điểm tình hình lớp 5 tuổi A4 do tôi phụ trách, có
51,4% là trẻ dân tộc thiểu số khả năng giao tiếp, của trẻ dân tộc còn nhiều bất
cập.Cùng với sự tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp, tôi đã tích lũy đúc
rút được một số kiến thức và đã bắt tay vào nghiên cứu đề tài: “Một số biện
pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo lớn dân tộc thiểu số qua việc làm
quen với tác phẩm văn học” làm sáng kiến kinh nghiệm của mình với mục đích
đem đến cho trẻ dân tộc những giờ làm quen với tác phẩm văn học thật hấp dẫn
Header Page 6 of 145.
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu (phân tích, tổng hợp tài liệu Internet, tập san, sách
báo có liên quan đến đề tài).
Phương pháp điều tra giáo dục.
Phương pháp quan sát sư phạm.
Phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp.
Phương pháp thực hành, thực nghiệm sư phạm.
Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin.
Phương pháp kiểm tra đánh giá.
Phương pháp thực hành nghệ thuật.
1.6. Giới hạn về không gian của phạm vi nghiên cứu
Đề tài này chỉ tập trung tìm ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số tại lớp 5 tuổi A4 trường Mầm non
Quang Yên - huyện Sông Lô - tỉnh Vĩnh Phúc.
1.7. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
Từ tháng 8/2012, tôi đã quan sát, trao đổi, theo dõi đánh giá và nắm bắt
được đặc điểm tình hình tâm, sinh lý của trẻ đặc biệt là về quá trình phát triển
ngôn ngữ của trẻ dân tộc, tôi đã bắt tay vào công việc nghiên cứu tài liệu, học
hỏi kiến thức qua đồng nghiệp và các phương tiện thông tin đại chúng, tiếp tục
theo dõi trẻ và tìm ra một số biện pháp mới để nâng cao chất lượng phát triển
ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số làm quen với tác phẩm văn học.
Tháng 9/2013 áp dụng, triển khai các biện pháp nghiên cứu và thực hiện
tại lớp 5 tuổi A4 trường Mầm non Quang Yên.
Đến hết tháng 5/2013 ghi chép tổng hợp các số liệu, báo cáo kết quả sáng
kiến kinh nghiệm.
Footer Page 6 of 145.
định đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số. Sự khác
biệt về văn hóa giữa các dân tộc, trong đó có ngôn ngữ, ngôn ngữ dân tộc có
cách phát âm, ngữ điệu, một số từ vựng... làm cho trẻ khó khăn nhất định khi
tiếp thu ngôn ngữ tiếng việt.
Trong quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở trường Mầm
non, tôi nhận thấy trẻ dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế trong khi giao tiếp, trẻ
vẫn còn nhút nhát chưa mạnh dạn, tự tin khi muốn trình bày ý kiến, mong muốn
của mình. Một số trẻ còn nói ngọng, nói lắp, diễn đạt chưa mạch lạc rõ ràng, nói
không đủ câu.
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo lớn dân tộc thiểu số là vô cùng
cần thiết, để chuẩn bị chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào lớp 1. Từ những hạn chế
trên của trẻ tôi luôn suy nghĩ và trăn trở xem mình phải làm gì và làm như thế
nào để nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc trong trường
Mầm non.
2.2. Thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn dân tộc thiểu số
qua việc làm quen với tác phẩm văn học.
2.2.1. Đối với giáo viên
Footer Page 7 of 145.
7
Header Page 8 of 145.
Chưa phát huy hết khả năng sáng tạo, linh hoạt trong tổ chức hoạt động
phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc, đôi khi còn dập khuôn, máy móc, chưa có
kinh nghiệm khi xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.
Chưa khái thác hết khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ dân tộc, chưa chú
ý đến việc thể hiện tình cảm, cảm xúc của trẻ dân tộc trong các hoạt động hàng
ngày.
chế. Tôi nhận thấy một số giáo viên trong trường chưa tư duy sáng tạo trong việc
lập kế hoạch giảng dạy lấy trẻ làm trung tâm, giáo viên vẫn còn dạy trẻ theo
hướng thụ động đa phần vẫn là sự truyền đạt ở cô nên chưa phát huy được tính
tích cực ở trẻ trong quá trình tổ chức, hướng dẫn trẻ giáo viên thường hay mắc
phải một số nhược điểm sau: Giáo viên còn nói nhiều không phát huy được tính
Footer Page 8 of 145.
8
Header Page 9 of 145.
tích cực của trẻ khi tham gia các hoạt động, sử dụng các phương pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ dân tộc, nhất là khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học còn
hạn chế, cô chưa tạo ra được tình huống, chưa thường xuyên đặt ra được câu hỏi
mang tính gợi mở, khuyến khích tư duy của trẻ, tạo cho trẻ có cơ hội được diễn
đạt nhiều. Hình thức tổ chức các hoạt động chưa linh hoạt, sáng tạo và cứng
nhắc, dập khuôn, sử dụng nhiều từ địa phương. Sử dụng đồ dùng trực quan còn
lúng túng, chưa khoa học.
Do đặc điểm tâm lý của trẻ dân tộc rất nhút nhát, thiếu tự tin trong giao
tiếp, do môi trường giao tiếp của trẻ còn bó hẹp trong phạm vi gia đình, người
thân, mà người thân của trẻ cũng là dân tộc thiểu số nên khi giao tiếp với nhau
chủ yếu bằng tiếng dân tộc, do đó trẻ không có cơ hội được giao tiếp tiếng việt
thường xuyên, chủ yếu trẻ chỉ được giao tiếp với ngôn ngữ tiếng việt khi ở
trường. Trẻ thường mắc một số lỗi như nói không hết câu, nói không gãy góc,
nói chống không, diễn đạt không rõ ràng mạch lạc...Bên cạnh đó khi cho trẻ làm
quen với tác phẩm văn học trẻ rất ít giơ tay phát biểu, mà chủ yếu do cô dùng
biện pháp khuyến khích và gọi đích danh tên trẻ, lúc đó trẻ mới có phản ứng,
nhưng câu trả lời của trẻ thường diễn ra không theo ý nghĩa của câu hỏi. Từ
những thực trạng nêu trên để có phương pháp giáo dục phù hợp cho trẻ dân tộc là
Đối với trẻ dân tộc Kinh: 18 trẻ
Nội dung
Xếp loại
Tốt
Khá
Đạt
- Nghe hiểu nội dung tác phẩm 6/18=33,3%
văn học.
8/18=44,5%
4/18=22,2%
- Nghe và làm theo từ 3 lời chỉ 6/18=33,3%
dẫn liên tiếp trở lên.
7/18=38,9%
5/18=27,8%
- Mạch lạc, rõ ràng, nói đủ 4/18=22,2%
câu, không nói lắp, nói ngọng.
9/18=50%
4/19=21%
- Nghe và làm theo từ 3 lời 2/19=10,5%
chỉ dẫn liên tiếp trở lên.
7/19=36,8% 10/19=52,6%
- Mạch lạc, rõ ràng, nói đủ 3/19=15,8%
câu, không nói lắp, nói ngọng.
7/19=36,8% 9/19=47,4%
- Tự tin khi giao tiếp, biết kể 3/19=15,8%
lại trình tự sự việc một cách
mạch lạc.
7/19=36,8% 9/19=47,4%
- Biết kể chuyện theo tranh, 2/19=10,5%
đọc sách qua hình vẽ
7/19=36,8% 10/19=52,6%
13/19=68,5%
Sau khi khảo sát tôi thấy tỷ lệ trẻ Kinh tỷ lệ “tốt”, “khá” ở mức độ cao
hơn đối với trẻ dân tộc thiểu số.
Từ những kết quả trên tôi nhận thấy rằng nâng cao chất lượng phát triển
ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo dân tộc thiểu số qua việc làm quen với tác phẩm văn
học là rất cần thiết. Nên tôi đã nghiên cứu, và đưa ra một số biện pháp phát triển
theo dõi sự phát triển của trẻ dân tộc thiểu số qua phiếu theo dõi sau mỗi chủ đề
kết thúc, từ đó để điều chỉnh kế hoạch giáo dục cho phù hơp với từng đối tượng
trẻ.
Thường xuyên nghiên cứu tài liệu về giáo dục Mần non, chương trình giáo
dục Mần non nhất là sách hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục các độ
tuổi, bồi dưỡng thường xuyên, đặc biệt là tài liệu hướng dẫn giáo viên chuẩn bị
tiếng việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số, để hiểu được mục đích, yêu
cầu của chương trình.
Hàng tháng lên kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng về những mặt còn hạn chế
của bản thân như: Thiết kế một hoạt động phát triển ngôn ngữ. Tôi luôn phải đọc
kỹ tác phẩm, phân tích kỹ nội dung của tác phẩm, đưa ra bài học gì qua tác
phẩm, qua tác phẩm giáo dục trẻ những nội dung gì, từ đó tôi đưa ra mục tiêu
của hoạt động. Tôi tìm và chọn những phương tiện hỗ trợ cho việc đưa tác phẩm
đến với trẻ một cách dễ hiểu và hứng thú nhất sau đó tôi tiến hành làm đồ dùng,
đồ chơi phục vụ cho hoạt động. Từ mục đích, yêu cầu, chuẩn bị như trên tôi
chọn những phương pháp hỗ trợ để tiến hành một hoạt động nhẹ nhàng mà gây
được hứng thú cho trẻ bằng các phương tiện hỗ trợ như máy vi tính, trò chơi,
trao đổi, giao lưu tình cảm, cảm xúc với trẻ, gần gũi hơn với những trẻ dân tộc
thiểu số để trẻ tin tưởng và yên tâm vào cô ...Trẻ được lĩnh hội kiến thức với tâm
trạng vui vẻ phấn khởi như vừa trải qua một cuộc vui chơi đầy hấp dẫn.
Footer Page 11 of 145.
11
Header Page 12 of 145.
Cần sử dụng ngôn từ gãy gọn, không dùng tiếng địa phương khi truyền
thụ cho trẻ, để không mắc phải những lỗi trên, tôi đã khắc phục bằng cách nhờ
giáo viên chung lớp quay video lại tiết dạy của mình, tôi dùng dây dẫn kết nối
cho đến khi kết thúc câu chuyện; tôi cho trẻ kể chuyện theo tranh về một câu
chuyện dựa trên yếu tố trực quan; kể chuyện sáng tạo dựa trên ý tưởng, vốn kinh
nghiệm, sự tưởng tượng sáng tạo của cá nhân trẻ. Tôi thực hiện theo các bước
sau:
Trò chuyện với trẻ để giúp trẻ chọn ý tưởng và nội dung câu chuyện.
Đàm thoại với trẻ nhằm khơi gợi các hình ảnh liên quan đến nội dung câu
chuyện.
Footer Page 12 of 145.
12
Header Page 13 of 145.
Cho trẻ tập kể chuyện: Tôi gọi từng trẻ lên kể vì mỗi trẻ có một cách kể chuyện
riêng và đặt tên cho câu chuyện của mình.
Tôi kể sáng tạo nhưng không áp đặt cách kể của cô theo khuôn mẫu đối với trẻ.
Tôi khen ngợi, động viên, khuyến khích tất cả các trẻ tham gia vào hoạt động
kể chuyện.
Từ đó trẻ đưa ra bài học kinh nghiệm cho bản thân, diễn đạt nhu cầu mong
muốn của mình với bạn và cô giáo. Tôi thường xuyên quan tâm trao đổi, trò
chuyện nhiều hơn với trẻ dân tộc thiểu số liên hệ từ tác phẩm văn học với cuộc
sống hàng ngày của trẻ, động viên, khuyến khích trẻ bằng lời nói, ánh mắt, cử
chỉ, điệu bộ nhẹ nhàng, thân thương mà gần gũi.
Một yêu cầu đặt ra đối với tôi khi cho trẻ dân tộc thiểu số "Làm quen với
tác phẩm văn học" là các kiến thức khi truyền thụ đến trẻ phải hết sức ngắn gọn,
tuyệt đối tránh hình thức, dập khuôn, luôn sáng tạo đổi mới câu từ phù hợp vì
thế trước khi thực hiện một tiết dạy "Làm quen với tác phẩm văn học " tôi phải
chuẩn bị đồ dùng, soạn bài và nghiên cứu kỹ bài soạn. Nắm rõ yêu cầu của bài
dạy chọn trò chơi phù hợp với nguyên tắc với chủ đề. Chuẩn bị tâm thế bằng
Header Page 14 of 145.
chuyện (dựa trên chủ đề) hoặc sáng tác thơ, vè hay những trò chơi nhằm cuốn
hút trẻ vào thực tế để trẻ dễ nhớ, dễ hiểu tránh gò bó.
Qua những tiết hoạt động có chủ đích như vậy: Trẻ dân tộc thiểu số rất
hứng thú, sôi nổi tham gia trả lời câu hỏi của tôi đưa ra, đồng thời trẻ đã biết sử
dụng câu hỏi của mình để giải quyết những thắc mắc của bản thân, thích được
thể hiện tình cảm, cảm xúc của mình với tác phẩm văn học: “con thích nhân vật
Cô Út vì cô Út có hiếu với mẹ”... Trẻ đã biết kết hợp thảo luận, trao đổi với các
bạn trong nhóm của mình: “mình thích hoặc không thích nhân vật này vì nhân
vật này có hiếu hay nhân vật này không yêu thương mẹ...”
2.3.3. Biện pháp 3: Khảo sát kỹ năng quan sát, nghe, nói, đọc của trẻ.
Khảo sát kỹ năng quan sát, nghe, nói, đọc, để có kế hoạch bổ xung, rèn
luyện cho trẻ thường xuyên trong ngày, trong các hoạt động để trẻ được quan
sát, nghe, nói, đọc một cách đầy đủ. Từ kết quả khảo sát đó tôi có kế hoạch xây
dựng hệ thống kiến thức, câu hỏi sắp xếp thời gian bồi dưỡng cho những trẻ
chưa đạt yêu cầu.
Sau mỗi chủ đề kết thúc, tôi tổ chức khảo sát, đánh giá trẻ theo các bài tập
với các kỹ năng quan sát, nghe, nói đọc
Kỹ năng nghe và quan sát: Thì khi đàm thoại, giao tiếp với trẻ tôi dùng
những lời nói nhẹ nhàng, sinh động, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của trẻ
giúp trẻ dễ hiểu và hình dung ra vấn đề và có câu trả lời sẽ nhanh và chính xác
hơn. Thường xuyên giao tiếp, trao đổi gần gũi với trẻ về cuộc sống hàng ngày
đồng thời cung cấp thêm vốn từ cho trẻ. Đặt nhiều câu hỏi đặc biệt là những câu
hỏi gợi mở như: Ví dụ: Trong câu chuyện “Tích Chu”, tôi đưa ra lời gọi của bà
khi bà bị ốm “Tích Chu ơi lấy cho bà ngụm nước, bà khát quá” hỏi trẻ: Tiếng gọi
này của ai? Trong câu chuyện gì? vì sao con biết? và cho trẻ tập diễn đạt lại
giọng điệu, lời nói của bà. Những câu hỏi về so sánh như “hai bức tranh này/ hai
nhân vật này giống và khác nhau ở chỗ nào?” và giành thời gian khuyến khích
để trẻ hứng thú tham gia trả lời. Khuyến khích trẻ đặt câu hỏi, trân trọng câu hỏi
ở xa - nhỏ hơn.
Gây sự chú ý của trẻ bằng các hình ảnh sinh động, hấp dẫn trên máy vi
tính, tranh ảnh, sách, báo, lô tô, đặc biệt là những hình ảnh động để trẻ tập trung
chú ý quan sát. Cho trẻ nghe, xem tranh ảnh, xem nhiều phim (tác phẩm văn học
dưới hình thức phim) từ đó trẻ quan sát được các cử chỉ điệu bộ khác nhau theo
từng tình huống qua đó đàm thoại với trẻ để trẻ vừa phát triển ngôn ngữ: trẻ học
câu, từ rất nhanh lại tăng nghe hiểu và khả năng tư duy sáng tạo.
Tôi thường cho trẻ đọc các bài thơ dưới nhiều hình thức: đọc đồng dao,
đọc to- nhỏ, đọc luôn phiên theo tổ từ đó trẻ nghe được các âm thanh, ngữ điệu,
giọng nói khác nhau và độ to, nhỏ, nhanh, chậm của giọng nói, giọng đọc.Tôi
thường xuyên mở rộng và liên hệ với thực tế cuộc sống hàng ngày gần gũi với
trẻ để trẻ tăng khả năng giao tiếp với cuộc sống xã hội.
Tôi thường sưu tầm những bộ phim, hình ảnh, làm giáo án điện tử trên
máy tính cho trẻ xem, trẻ khám phá kích thích sự tò mò ham hiểu biết của trẻ.
Kỹ năng nói - đọc: Giúp trẻ nói - đọc mạch lạc, rõ ràng, tròn vành, rõ chữ,
nói đủ câu, không nói lắp, nói ngọng, dạy trẻ hiểu mối quan hệ giữa lời nói và
chữ viết bằng nhiều cách khác nhau: Tôi chú ý quan sát, lắng nghe khi trẻ thể
hiện tác phẩm, nhận ra điểm sai và sửa cho trẻ bằng cách cho trẻ đọc đi đọc lại
nhiều lần. Ví dụ như trong lớp có cháu Quốc Cường nói ngọng âm n thành âm l.
Khi đó tôi thường cho cháu đọc những bài thơ có nhiều âm n và mỗi lần cháu
đọc sai, tôi lại đọc lại hoặc cho bạn khác không bị ngọng đọc lại câu đó, hỏi
cháu cô và bạn đọc khác con ở chỗ nào, câu nào và cho cháu đọc lại câu đó, cứ
nhiều lần như vậy cháu sẽ khắc phục được và không bị nói ngọng nữa.
Bổ sung vốn từ ngữ cho trẻ, tạo cho trẻ có thói quen nói đầy đủ câu, rõ ý
Ví dụ: Khi học xong tác phẩm “ ba cô gái” cô hỏi trẻ: “Qua câu truyện con yêu
quý và học tập ai” thì trẻ sẽ trả lời “ cô Út” như vậy vẫn chưa đủ câu, để giúp trẻ
tôi lại hỏi ngược lại lần nữa: “ ai yêu quý và học tập cô Út nhỉ” lúc này trẻ sẽ có
câu trả lời đầy đủ và rõ ràng đó là: “con yêu quý và học tập cô Út ạ”. Cô thường
xuyên trao đổi, gần gũi chia sẻ với trẻ về cuộc sống hàng ngày của trẻ, tạo điều
kiện để trẻ chia sẻ với bạn bày tỏ thái độ tình cảm của mình với các nhân vật
và khuyến khích khi trẻ bày tỏ nhu cầu mong muốn của mình, kể lại sự việc có
trình tự. Tổ chức cho trẻ những buổi tập đóng kịch để giúp trẻ nhập tâm của
mình vào trong nhân vật của tác phẩm văn học, thể hiện qua lời nói, hành động,
để phân biệt được rõ cảm xúc. Việc rèn luyện những kỹ năng đó giúp trẻ không
những thuộc tên tác phẩm, tác giả khi làm quen với tác phẩm văn học mà trẻ còn
hiểu được nội dung và từ đó bộc lộ tình cảm, cảm xúc của bản thân khi cảm thụ
tác phẩm văn học thể hiện qua ngữ điệu lời nói, cử chỉ điệu bộ, và giáo dục trẻ,
trẻ rút ra bài học kinh nghiệm đồng thời phát triển tính tái tạo và sáng tạo thông
qua giờ tạo hình: Cho trẻ vẽ nhân vật trong truyện, kể chuyện sáng tạo, đóng
kịch...
Nhờ có kỹ năng quan sát, nghe, nói - đọc trẻ sẽ biết thể hiện tối đa nhất về
tình cảm của mình cho tác phẩm văn học bộc lộ lên qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ,
lời nói. Đây cũng chính là những bước để tôi nắm bắt được đặc điểm tâm, sinh
lý của từng trẻ, trẻ dân tộc thiểu số trong lớp từ đó tôi đưa ra những biện pháp
chăm sóc giáo dục trẻ và chủ động điều chỉnh linh hoạt, sáng tạo, phù hợp.
2.3.4. Biện pháp 4: Tạo môi trường ngôn ngữ phong phú, đa dạng.
Môi trường giáo dục trong lớp có tác dụng tốt đến quá trình chăm sóc giáo
dục trẻ, có tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới tâm, sinh lý của trẻ. Để trẻ được
làm quen với tác phẩm văn học ở mọi lúc mọi nơi, tôi luôn tạo môi trường trong
và ngoài lớp thân thiện nhất, đẹp và sinh động để cuốn hút trẻ.
Footer Page 16 of 145.
16
Header Page 17 of 145.
Ở lớp trang trí các góc bằng chính sản phẩm của cô và của trẻ phù hợp
với chủ đề. Đặc biệt là ở góc phân vai tạo những hình ảnh đẹp tượng trưng cho
trẻ nhập vai mình vào các nhân vật trong tác phẩm để trẻ được thể hiện mình qua
Chụp lại những khoảnh khắc của cô và trẻ trong khi chơi, dạo chơi hay
đóng kịch kể lại truyện, khi trẻ được thực hành trải nghiệm, làm hình ảnh trang
trí dán vào tường trong lớp học để khi trẻ được tham gia trẻ nhận thấy sự tự tin,
hào hứng, phấn khởi, gần gũi, thân quen. Trên các mảng tường, tại các góc lớp
tôi trang trí nhiều hình ảnh đẹp, sinh động phù hợp với từng chủ đề và mỗi hình
ảnh đó đều được gắn tên gọi để trẻ được làm quen, khám phá: phát âm, tìm chữ,
gắn thẻ chữ…
Footer Page 17 of 145.
17
Header Page 18 of 145.
Từ những hình ảnh tôi trang trí trong và ngoài lớp khi trẻ nhìn vào trẻ nói
được bằng ngôn ngữ Tiếng Việt đó là ai trong tác phẩm nào, và kể lại được tác
phẩm ấy bằng ngôn ngữ Tiếng Việt, đồng thời trẻ đã biết thể hiện cảm xúc, tình
cảm của mình với các nhân vật ấy bằng cách tâm sự với tôi và các bạn.
2.3.5. Biện pháp 5: Tích hợp qua các hoạt động khác.
Theo yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non hiện nay, việc tổ chức cho trẻ
dân tộc làm quen với tác phẩm văn học cần phải đặt trong mối liên hệ với các
hoạt động khác cùng chủ đề, phải tổ chức theo tính tích hợp, nhằm kích thích
tính tích cực và huy động được nhiều kinh nghiệm sống của trẻ.
Để thực hiện được yêu cầu này, tôi dựa trên khả năng, đặc điểm tâm - sinh
lý của trẻ dân tộc thiểu số, khả năng của chính mình và những điều kiện cụ thể
của trường, lớp, địa phương để lựa chọn hướng tích hợp mang lại hiệu quả nhất.
Tích hợp môn âm nhạc : Tôi thường chọn những bài thơ, câu chuyện ngắn
phù hợp với nội dung bài hát. Cho trẻ đọc thơ, kể cho trẻ nghe những mẩu
chuyện ngắn trong phần tạo hứng thú và cũng có thể ở phần kết thúc nếu phù
Header Page 19 of 145.
Hoạt động chung có mục đích ( học ): Ngoài tiết dạy cho trẻ làm quen với
tác phẩm văn học với tất cả các môn học khác nếu có thể đều lồng ghép thêm tác
phẩm văn học vào sao cho phù hợp với bài dạy.
Hoạt động góc : Tôi cùng trẻ làm ra các sản phẩm về chủ đề rồi gắn những
hình ảnh sinh động của tác phẩm văn học về chủ đề, chủ điểm đó để cho trẻ quan
sát, khám phá, tìm tòi và hứng thú để thể hiện, biểu diễn tác phẩm đúng theo
trình tự hình ảnh. Đặc biệt là ở góc phân vai cô gắn những hình ảnh sáng tạo về
các nhân vật trong tác phẩm nào đó rồi cho trẻ quan sát phát hiện và tìm ra đó là
nhân vật nào trong tác phẩm gì rồi dùng lời nói hành động cử chỉ kể lại tác phẩm
đó hoặc kể lại những lời nói cử chỉ của nhân vật đó tôi có thể là người dẫn
truyện để hướng dẫn, giúp đỡ, động viên trẻ thực hiện.
Ví dụ : Góc phân vai tôi cho trẻ đóng kịch một tác phẩm văn học ví dụ
như tuyện “Tích Chu” chủ đề gia đình.Tôi hướng dẫn trẻ biết thỏa thuận chơi,
nhận vai chơi thảo luận nhóm, đoàn kết giúp đỡ bạn, liên kết, giao tiếp, thảo luận
trong nhóm chơi, góc chơi và giữa các góc với nhau.
Ví dụ: Góc xây dựng tôi tổ chức cho trẻ lắp ghép, xây dựng suối Tiên,
đường đến suối Tiên, ngôi nhà, khu vườn của bà và Tích Chu.
Ví dụ: Góc thư viện - học tập, cho trẻ xem tranh ảnh về câu truyện, hình
ảnh các nhân vật trong truyện “Tích Chu”, lô tô về gia đình: ông bà, các cháu...
Làm bộ sưu tập về gia đình.
Ví dụ: Góc nghệ thuật, tổ chức hướng dẫn cho trẻ nặn, vẽ, cắt - xé - dán,
tô màu các nhân vật trong tác phẩm: Tích Chu, bà, cô Tiên. Múa hát những bài
hát về chủ đề, ca ngợi về bà: “cháu yêu bà”, “cả nhà thương nhau”...
Ví dụ: Góc thiên nhiên, tôi cùng trẻ tạo hình ảnh bà, Tích Chu bằng cách
xếp hình từ cây, que, lá khô, sỏi. Vẽ hình ảnh, chân dung bà, Tích Chu, Cô Tiên
trên cát. Khi thực hiện xong tôi cho trẻ kể lại truyện theo trình tự diễn biến, miêu
tả các nhân vật bằng ngôn ngữ.
Hoạt động ngoài trời, tôi cho trẻ quan sát và kể lại hoặc đọc các tác phẩm
miếng hình đó sẽ không di chuyển và máy sẽ báo không được và sẽ phải nhường
lượt chơi cho bạn khác.
Trò chơi “kể chuyện theo tranh”. Cách chơi: Khi cô đưa tranh của đoạn
nào trong tác phẩm thì trẻ phải kể lại diễn biến của đoạn đó.Vì vậy bản thân tôi
luôn chịu khó tìm tòi sưu tầm và sáng tạo sáng tác ra các trò chơi và biết vận
dụng hợp lý các trò chơi ấy vào các giờ học ở mọi lúc mọi nơi một cách phù hợp
sẽ kích thích trẻ ham tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và trẻ sẽ hứng thú hơn khi đến lớp
và sẽ sôi nổi khi tham gia các hoạt động.
Đặc biệt hơn nữa là các trò chơi dân gian, với trò chơi dân gian có đặc
điểm thường là các trò chơi có lời: vè, đồng dao, hò… trẻ vừa chơi vừa đọc lời
trong trò chơi bằng Tiếng Việt. Qua đó vốn từ của trẻ ngày càng phát triển
phong phú hơn.
Ngoài ra cũng có thể cho trẻ vẽ hình trên cát, xếp hình bằng các cây, que,
lá cây rồi trẻ ghép kể lại thành trình tự một tác phẩm văn học hoàn chỉnh.
Trong giờ ăn, tôi cho trẻ hoặc cùng trẻ giải thích món ăn, dinh dưỡng
trong món ăn, cho trẻ đọc thơ, vè, đồng dao về chủ đề… qua đó rèn kỹ năng
trong vệ sinh ăn uống cho trẻ. Tôi đọc câu đố về các loại món ăn cho trẻ lắng
nghe và tìm ra câu trả lời.
Giờ ngủ, trước khi trẻ ngủ tôi có thể kể chuyện, ngâm thơ cho trẻ nghe
hoặc hát những bài hát ru mang âm hưởng nhẹ nhàng dần đưa trẻ vào giấc ngủ.
Hoạt động chiều, cho trẻ múa hát những bài thơ được phổ nhạc sang thành
bài hát hoặc đồng dao hay tổ chức cho trẻ đóng kịch: Trẻ sẽ được trực tiếp nhập
vai và trở thành nhân vật trong tác phẩm văn học như vậy trẻ sẽ phát triển toàn
diện hơn.
Qua ngày lễ, ngày hội , thông qua không khí của ngày lễ, ngày hội có thể
cho trẻ được trực tiếp thể hiện các tác phẩm văn học như: kể truyện, đọc thơ…
Hoặc cũng có thể kể lại không khí và trình tự của ngày hội, phát biểu cảm nhận
của mình đối với ngày hội đó.
Mọi hoạt động trong ngày của trẻ đều được lồng ghép các tác phẩm văn
học, mọi lúc mọi nơi trẻ dân tộc thiểu số đều được thể hiện bằng ngôn ngữ Tiếng
khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động cùng các bạn và cô giáo. Tôi luôn quan
tâm đến đời sống của trẻ, tìm hiểu bằng cách gần gũi nhiều hơn, trò chuyện về
cuộc sống để trẻ bộc lộ tình cảm của mình bằng ngôn ngữ tiếng việt, tin tưởng
vào tình cảm của tôi giành cho trẻ, giúp trẻ mạnh dạn hơn.
Ngoài ra còn phối, kết hợp với gia đình thường xuyên trò chuyện, chơi
cùng trẻ, động viên trẻ tham gia nhiều hoạt động tập thể khác. Tranh thủ các cơ
hội trẻ thể hiện để phát hiện và cho trẻ nhập mình vào các tác phẩm văn học để
trẻ mạnh dạn, tự tin hơn khi thể hiện mình.Trẻ mạnh dạn và tự tin hơn khi giao
tiếp, chơi nhóm và tham gia các hoạt động làm quen với tác phẩm văn học và
cũng như các hoạt động khác. Đặc biệt và bất ngờ hơn là một số trẻ còn rất sáng
tạo trong khi thực hiện.
Trẻ hiếu động thường rất hay nghịch ngợm và đùa nghịch trong giờ học
không để ý, quan tâm đến cô giáo hoạt động, vì thế làm cho trẻ không nhớ được
tên tác phẩm, tên tác giả, tên các nhân vật trong tác phẩm và nội dung của tác
phẩm. Với những trẻ hiếu động như vậy tôi thường cho trẻ tham gia vào các hoạt
động tĩnh nhưng có giới hạn thời gian, trong giờ học chú ý đến trẻ hơn, hay gọi
trẻ phát biểu, dùng nhiều hình thức hấp dẫn thu hút trẻ chú ý hơn. Sau khi thực
hiện được một thời gian thì thấy trẻ ít nghịch đi và ham học hơn, thích giúp đỡ
bạn và thích tham gia các trò chơi học tập, nhớ được nội dung và chủ đề của tác
phẩm và tích cách các nhân vật, trong tác phẩm văn học.
Footer Page 21 of 145.
21
Header Page 22 of 145.
Sự gần gũi, yêu thương của cô và hòa đồng với các bạn trẻ yên tâm về cả
thể chất và tinh thần. Tự tin, mạnh dạn giao tiếp, trao đổi ý kiến của mình với
mọi người bằng ngôn ngữ Tiếng Việt.
nào cũng muốn mình được làm các nhân vật trong tác phẩm văn học để biểu
diễn, kể lại cho mọi người nghe.
2.3.8. Biện pháp 8: Công tác phối hợp, tuyên truyền với phụ huynh
Khi trẻ đến trường được tôi cho làm quen với tác phẩm văn học thông qua
các hoạt động với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên các kiến thức, kỹ năng
mà trẻ thu nhận được cũng cần phải được ôn luyện tại nhà. Vì vậy để trẻ được
học tốt cần có sự phối hợp cộng tác giữa giáo viên và phụ huynh học sinh. Trong
Footer Page 22 of 145.
22
Header Page 23 of 145.
khi đó để công tác tuyên truyền với phụ huynh một cách khoa học và đạt hiệu
quả tốt, tôi đã thực hiện như sau:
Hàng ngày tôi thường xuyên, trao đổi với phụ huynh về tình hình sức
khỏe và học tập của trẻ để về nhà phụ huynh kết hợp dạy thêm, cho trẻ ôn luyện
them bằng cách hỏi trẻ như: Hôm nay con được chơi trò chơi gì, chơi như thế
nào, con được hát bài hát gì?.. con kể, hát, làm lại cho bố mẹ xem. Ví dụ về chủ
đề gai đình thì tôi phối hợp với phụ huynh ôn kiến thức cho trẻ ở nhà bằng cách
tạo ra tình huống như: “Hôm nay là sinh nhật mẹ con hát tặng cho mẹ bài hát để
chúc mừng mẹ nào”....
Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với bài thơ “đàn gà con” ở lớp, thì tôi trao đổi với
phụ huynh về bài thơ đó và gợi ý cho phụ huynh cho trẻ quan sát đàn gà con thật
tại nhà và kết hợp đọc thơ, giáo dục trẻ biết yêu quý những con vật gần gũi. Như
vậy trẻ vừa phát triển them vốn từ, hình ảnh trong trí nhớ của trẻ càng gần gũi và
sinh động.
Lên kế hoạch, thông báo chương trình dạy trẻ ghi rõ ràng nội dung giáo
Header Page 24 of 145.
bất ngờ hơn nữa đó là trẻ nhập tâm vào trong các nhân vật của tác phẩm văn học
và đã biết dùng lời nói, cử chỉ, hành động điệu bộ để thể hiện rõ ràng cảm xúc.
Quan sát được các cử chỉ, điệu bộ, sắc thái: vui, buồn, đồng ý hoặc không
đồng ý của người khác theo từng tình huống khác nhau.
Trẻ nghe và phân biệt được các âm thanh, ngữ điệu, giọng nói khác nhau
và độ to, nhỏ, nhanh, chậm của giọng nói, giọng đọc. Biết trả lời những câu hỏi
về nguyên nhân , kết quả, so sánh và đã biết đặt câu hỏi, tại sao, như thế nào, để
làm gì? cho người khác. Dùng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt để thể hiện cảm xúc của
mình, phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh giao tiếp.
Trẻ dân tộc đã biết thể hiện tác phẩm: thơ, đồng dao, ca dao… kể lại sự
việc một cách rõ rang dễ hiểu, kể chuyện sáng tạo theo đồ vật, theo tranh theo
chủ đề và kinh nghiệm của bản thân. Thể hiện tác phẩm văn học theo một trình
tự từ trên xuống dưới, từ đầu đến cuối. Biết cách ngắt giọng, ngừng nghỉ đúng
chỗ, đúng lúc, biết đọc từ trái sang phải.
Phụ huynh của trẻ dân tộc đã nhận thức rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ
tiếng việt, qua việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, Đặc biệt hơn nữa là
rất phấn khởi khi thấy con em mình biết thể hiện một tác phẩm văn học có trình
tự, thể hiện tình cảm, cảm xúc của mình vào trong tác phẩm.
Qua việc nghiên cứu và thực hiện các biện pháp trên, tôi đã thu được một
số thành quả cụ thể như sau
*Kết quả của trẻ
Đối với trẻ dân tộc Kinh: 18 trẻ
Nội dung
Xếp loại
Tốt
- Biết kể chuyện theo tranh, 9/18=50%
đọc sách qua hình vẽ
8/18=44,5%
1/18=5,5%
- Mạch lạc, rõ ràng, nói đủ
câu, không nói lắp, nói ngọng. 12/18=66,7%
Đối với trẻ dân tộc thiểu số: 19 trẻ
Footer Page 24 of 145.
24
Header Page 25 of 145.
Nội dung
Xếp loại
Tốt
Khá
Đạt
- Nghe hiểu nội dung tác 8/19=42,1%
phẩm văn học.
- Mạch lạc, rõ ràng, nói đủ
câu, không nói lắp, nói ngọng. 9/19=47,4%
Nhìn vào bảng đánh giá, so sánh trên tôi nhận thấy sau khi áp dụng những
biện pháp trên vào việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số.
Tôi thấy nội dung phát triển ngôn ngữ của trẻ dân tộc có tỷ lệ tương đương với
nội dung phát triển ngôn ngữ của trẻ em Kinh.
Bảng so sánh kết quả đánh giá trẻ dân tộc thiểu số đầu năm và cuối năm
Các nội dung
Khảo sát đầu năm
Tốt
2/19
- Nghe hiểu nội
dung tác phẩm (10,5)
văn học.
Kết quả cuối năm
Khá
4/19
(21%)
Đạt
13/19
(8,5%)
Tốt
- Mạch lạc, rõ
ràng, nói đủ câu,
không nói lắp,
nói ngọng.
3/19
(15,8%)
7/19
(36,8%)
9/19
9/19
10/19
(47,4%) (47,4%) (52,6%)
0
- Tự tin khi giao
tiếp, biết kể lại
trình tự sự việc 1
cách mạch lạc.
3/19
(15,8%)
7/19
(36,8%)
9/19